Mỗi thời kỳ phát triển trong quá trình chuyển từ đứa trẻ mới sinh sang một nhân cách trưởng thành có những nét tâm lý đặc trưng của mình mà đứa trẻ phải trải qua. Quá trình chuyển từ thời kỳ này sang thời kỳ khác bao giờ cũng gắn với sự xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới về chất.Hiểu biết thêm về những đặc điểm phát triển của nhóm tuổi sẽ giúp các bậc phụ huynh có biện pháp tích cực bảo vệ sức khỏe đồng thời tạo điều kiện cho trẻ phát triển và học tập tốt.

Giai đoạn phát triển tâm sinh lý tuổi nhi đồng (6 – 11 tuổi)

Sự  phát triển về mặt sinh lý

Ở giai đoạn này hệ xương  đã cứng  cáp hơn  tuổi mẫu giáo, độ cong  của  xương  sống được hình thành nên khả năng vận động là chính xác và nhậy bén.

Hệ tuần hoàn: cơ tim tăng trưởng mạnh, đường huyết mạch tương đối lớn nên máu đưa lên não đủ vì thế nhu cầu hoạt động tương đối lớn và không thấy mệt mỏi khi vận động.

Hệ cơ: tăng khá nhanh có sự đàn hồi tốt.

Hệ thần kinh: trọng lượng não tăng nhanh gần bằng não người lớn. Tương quan giữa 2 quá trình thần kinh hưng phấn và ức chế có sự thay đổi, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế nên ở lứa tuổi này dễ bị kích động, khó thực hiện nhiệm vụ có tính độc lập, kiên trì cao.

Sự  phát triển về mặt xã hội

Lúc này hoạt động chủ đạo của lứa tuổi nhi đồng đã bước sang hoạt động học tập. Đây là bước chuyển quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ so với hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo. Giai đoạn này hoạt động học tập là hoạt động quy định sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ, là hoạt động bắt buộc chứ không phải là hoạt động tuỳ hứng như ở lứa tuổi mẫu giáo.

Trong quá trình tham gia học tập một số trẻ vẫn chưa sẵn sàng với sự thay đổi về hoạt động chủ đạo, gia đình và nhà trường học đôi lúc đã trở thành nguyên nhân gây căng thẳng cho trẻ …

Một số dấu hiệu nhận biết trẻ có thay đổi: đột ngột tè dầm, ghét trường học, xấu hổ một cách thái quá, mút ngón tay…  Khi thấy trẻ có những biểu hiện trên ta nên bình thản, bao dung, không mắng nhiếc .. và nên hỏi han động viên trẻ.  Ở tuổi này trẻ đã có các hoạt động tự phục vụ bản thân và đã bắt đầu có những việc làm nhỏ nhằm giúp đỡ bố mẹ và tham gia một số lao động công ích khác. Với các em hoạt động vui chơi vẫn là hoạt động cuốn hút các em mặc dù nó không còn là hoạt động chủ đạo nữa. Hoạt động vui chơi sẽ giúp các phát triển khả năng vận động toàn thân, hình thành nhiều phẩm chất nhân cách tốt đẹp, phát triển khả năng trí tuệ và bộc lộ năng khiếu của mình.

Sự phát triển của các quá trình nhận thức

–    Tri giác: đặc điểm của tri giác còn mang tính tổng thể, do nhiệm vụ học tập dần dần nhường chỗ cho tri giác chính xác, tinh tế.

–    Chú ý: giai đoạn đầu chú ý còn mang tính không chủ định, dần dần các em đã duy trì sự chú ý của mình một cách bền vững hơn, đây là chú ý có mục đích, có chủ định được hình thành và phát triển.

–    Trí nhớ: trí nhớ của lứa tuổi này, những năm cuối cần có sự tham gia tích cực của ngôn ngữ. Đây là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy trí nhớ có ý nghĩa phát triển.

–    Tư duy: ở giai đoạn đầu tư duy hành động trực quan, cùng với việc học tập tư duy của các em phát triển, tư duy ngôn ngữ dần thay thế cho tư duy trực quan hình tượng.

–    Tưởng tượng: ban đầu tượng tượng còn dựa vào những hình ảnh cụ thể, dần dần dựa vào ngôn ngữ, vào nội dung lời nói. Đây chính là tiền đề tâm lý quan trọng của sự phát triển tưởng tượng sáng tạo ở các em.

–    Ngôn ngữ: giai đoạn này ngôn ngữ của các em tăng lên nhanh, cú pháp được phát triển, trình bày ngắn gọn rõ ràng, tuy nhiên kỹ năng vận dụng ngữ pháp vào làm văn còn nhiều hạn chế.

Đời sống tỉnh cảm của tuổi nhi đồng

Đời sống tình cảm của các em khá phong phú, đa dạng, cơ bản là mang tính tích cực. Đó là những điều kiện thuận lợi để giáo dục những chuẩn mực đạo đức cũng như hình thành những phẩm chất trí tuệ cần thiết khác.

–  Lĩnh vực ý chí: hành vi ý chí còn lệ thuộc rất nhiều vào tình cảm và những ham muốn nhất thời. Vì vậy, các phẩm chất ý chí như: tính độc lập, tính kiềm chế… còn thấp, các em dễ bắt chước hành động của những người khác, dễ phạm lỗi trong trường hợp phải tuân theo những yêu cầu có tính nghiêm ngặt và đòi hỏi sự căng thẳng kéo dài.

– Sự tự  ý thức: trong quá trình học tập các em đã tự nhận thức được về mình, nhận thức được sự đánh giá của người khác về bản thân mình.

– Sự tự đánh giá: lứa tuổi này có 3 kiểu tự đánh giá sau:

+ Tự đánh giá phù hợp, ổn định

+ Tự đánh giá quá cao với bản thân

+ Tự đánh giá không phù hợp, lúc cao, lúc thấp

Vệ sinh tâm lý lứa tuổi nhi đồng

Sự quan tâm đến sức khoẻ tâm lý của trẻ phải được bắt đầu ngay khi người mẹ mang thai. Trạng thái tâm lý của người mẹ có ảnh hưởng nhất định đến thai nhi, nhất là những tháng cuối. Do đó lúc mang thai người mẹ không những tránh những công việc nặng nhọc về thể lực mà còn phải tránh những gánh nặng về tâm lý, những tác động stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài.

Khi mới ra đời tuy về mặt sinh học đứa trẻ là một cơ thể con người song về mặt tâm lý, nhân cách của nó đây mới là giai đoạn đầu của quá trình hình thành và hoàn thiện.

Cần hết sức không tạo ra thói quen xấu cho trẻ . Những nhu cầu thiết yếu của trẻ cần cố gắng đáp ứng đầy đủ, kịp thời còn những nhu cầu khác cần đáp ứng có chọn lọc và không nên gây cho trẻ thói quen đòi gì được nấy để hình thành thói quen tự lập cho trẻ.

Đặc biệt không nên dùng những hình phạt nặng nề đối với trẻ, kể cả những hình phạt tâm lý. Vì những hình phạt này nhiều khi để lại những hậu quả xấu, ảnh  hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển nhân cách của trẻ. Đôi khi những hình phạt này trở thành nguyên nhân của những bệnh rối loạn tâm căn sau sang chấn hoặc bệnh thái nhân cách của trẻ.