Chương 1: Những Ngày Không Trở Lại
Hộp quà nằm ở góc tủ ba năm nay, lớp màng co bọc ngoài đã mờ đi vì bụi.
Đó là bộ dưỡng da nam ba món: sữa rửa mặt, toner với tuýp kem dưỡng ẩm. Em mua vào dịp sinh nhật cuối cùng trước khi hai đứa cắt đứt liên lạc. Tôi chưa từng bóc lớp nilon niêm phong. Cứ để nguyên như vậy, đặt cạnh mấy tập tài liệu chuyên ngành đã cũ.
Tuần trước, một đứa bạn cùng khóa nhắc bâng quơ: em vừa sinh con đầu lòng, ngoài đó cuộc sống bình lặng. Tôi nghe xong chỉ gật đầu, không hỏi thêm tên đứa bé. Ngay từ đầu, câu chuyện này đã chẳng còn chỗ cho tôi bước vào nữa.
Hồi năm nhất ở giảng đường, em lọt thỏm giữa lớp, thấp hơn người ta cả nửa cái đầu. Phòng thực hành khi nào cũng nồng nặc mùi cồn 70 độ sực lên tận óc, còn tôi thì ngứa ngáy chân tay, hễ rảnh là lôi chiều cao của em ra bêu riếu cho mấy thằng bàn cuối cười ồ. Em không chịu nhịn. Bị réo tên là xấn tới co chân đá thẳng một cú điếng người vào ống đồng, hoặc bấm móng tay vào bắp tay tôi đến mức tụ máu tím ngắt. Tan buổi giải phẫu, tôi tập tễnh vừa đi vừa chửi đổng, em đứng khoanh tay sau cánh cửa chớp hành lang, mắt lườm sắc lẻm.
Thời ấy mở miệng ra là "mày - tao". Vừa đuổi đánh nhau bụi mù ngoài sân, sáng hôm sau vào giảng đường đã lại bẻ đôi ổ bánh mì nguội chia nhau, chuyền tay cuốn vở chép vội mớ công thức hóa sinh như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Mãi đến năm cuối, giữa mớ bòng bong của khóa luận tốt nghiệp, hai đứa mới bắt đầu ngồi chung ở quán cóc gần cổng trường. Tôi vùi đầu vào cuốn Dược thư tra cứu tương tác thuốc, em cắm cúi gõ số liệu thống kê làm slide. Đêm càng sâu, tiếng xe cộ ngoài đường lớn thưa dần, chỉ còn tiếng cánh quạt sắt trên mảng tường vôi lở rít lên từng chặp khô khốc.
Tôi nhìn cặn cà phê quánh lại dưới đáy cốc thủy tinh, kể chuyện mình từng chắt bóp từng đồng làm thêm cho một người, rồi người ta bỏ đi theo một mối khác đủ đầy hơn. Tôi kể bằng giọng ráo hoảnh, cố làm ra vẻ một kẻ bất cần đã lành sẹo.
Em ngồi đối diện, đầu ngón tay không ngừng miết quanh miệng ly nước đã tan hết đá. Rồi em kể về người cũ. Một gã đàn ông săm soi từng cái áo em mặc, tra khảo từng cuộc gọi đến. Em nói rất chậm, giọng phẳng lì, mắt dán chặt vào mặt bàn gỗ ép lỗ chỗ những vết tàn thuốc lá cháy dở.
Tôi gập chiếc laptop lại. Màn hình phụt tắt, ném khoảng không giữa hai đứa vào vùng tranh tối tranh sáng ngột ngạt.
Em ngẩng lên nhìn tôi, ngập ngừng một nhịp rồi buột miệng rất khẽ:
"Giá mà hồi đó... em gặp anh sớm hơn."
Một chiếc xe tải chở hàng chạy rầm rập qua mặt đường, quét luồng đèn pha vàng vọt qua ô cửa sổ rồi vụt tắt. Ngón tay em bối rối siết chặt lấy quai túi vải bạc màu. Tôi ngồi như phỗng, đưa tay gãi gáy rồi chỉ biết cười khì một tiếng trơ trẽn cho qua chuyện.
Dịp áp Tết năm đó, trời rét ngọt.
Bờ Hồ đông nghẹt người. Chúng tôi chen chúc qua dòng người lèn chặt vỉa hè, tay cầm hai cốc trà quất lạnh buốt đến mức tê dại cả đầu ngón tay. Đi mỏi rã rời, tôi kéo em rẽ đại vào một con ngõ tối hướng sang Tràng Tiền để trốn cái ồn ào.
Giữa khoảng sân gạch rêu phong dưới chân một tòa nhà Pháp cổ, có mấy gã nghệ sĩ đường phố đang ngồi so dây. Không micro, chẳng có đèn sân khấu. Chỉ có tiếng đàn violin rền rĩ quấn lấy tiếng guitar mộc, chơi lại giai điệu một bản tình ca quen thuộc bằng thứ âm thanh mộc mạc và trần trụi.
Chúng tôi đứng nép vào mảng tường gạch bong tróc. Gió lùa qua hẻm sâu, thổi bay mép áo khoác mỏng của em.
Bất chợt, sợi dây giày vải của em tuột ra, quét lê thê trên nền gạch ẩm ướt. Em vừa khom lưng thì tôi đã ngồi thụp xuống.
Hai đầu dây giày bám đầy bùn đất đen sì. Những ngón tay tôi cứng đờ vì lạnh, loay hoay mãi mới thắt chặt được mối nút đôi, rồi dùng ngón cái gạt lại cái lưỡi gà bị lệch. Chẳng có câu thoại lãng mạn nào cả. Tôi đứng thẳng dậy, quẹt bàn tay dính bụi vào ống quần bò.
Khi tiếng đàn violin vuốt lên một nốt ngân dài cuối cùng rồi tắt lịm, vài tiếng vỗ tay lẹt đẹt vang lên trong ngõ. Tôi nhìn sang. Em đang nhìn tôi, hai má ửng đỏ vì gió rét. Không nghĩ ngợi, tôi đưa tay túm lấy bàn tay nhỏ thó đang lạnh ngắt của em. Em hơi giật mình, nhưng không rút lại. Tôi kéo giật em về phía mình, cánh tay vòng qua lưng, siết chặt.
Lớp vải dù của hai chiếc áo khoác cọ vào nhau sột soạt. Em rụt rè vùi trán vào ngực áo tôi, hai bàn tay luống cuống bám chặt lấy vạt áo sau lưng tôi chừng vài giây rồi buông vội.
Chúng tôi không nói một lời tỏ tình nào. Không hoa, không nến. Nhưng tiếng thở gấp gáp phả ra làn khói trắng giữa con ngõ tối đã ngầm định đoạt tất cả.
Đêm đó, tôi đèo em trên chiếc Wave cà tàng về mạn Linh Đàm. Đường khuya hun hút gió. Chữ "mày" nghẹn lại ở cổ họng, bật ra thành tiếng "em" ngượng nghịu đến mức cả hai đứa cùng bật cười trừ.
Những ngày sau, em bắt đầu lột bỏ cái vỏ bọc xù xì của một đứa bạn cùng bàn. Em thích vặn vẹo từng tin nhắn đến muộn, cằn nhằn chuyện tôi thức khuya, và mỗi lần leo lên sau xe là nhất định phải luồn hai tay vào túi áo khoác của tôi cho bằng được. Tôi vụng về, vô tâm như một kẻ lần đầu biết yêu, nhiều lúc làm em giận dỗi phát khóc. Nhưng rồi em vẫn chỉ thở dài, lại ngồi dịch lại gần tôi.
Hai đứa vẽ ra đủ thứ chuyện viển vông. Rằng tốt nghiệp xong, cày cuốc vài năm mở chung một cái quầy thuốc lấy tên ghép của hai đứa. Rằng khi nào gom đủ tiền sẽ xách con xe máy này chạy dọc Quốc lộ 1A vào tận Đà Nẵng ngắm biển.
Có lần đèo nhau qua đường Nguyễn Xiển, dưới chân cầu cạn Vành đai 3 ngập ngụa bụi cát và tiếng gầm rú của xe container, em ôm chặt cứng lấy hông tôi, ghé sát miệng vào tai hét lớn át cả tiếng gió:
"Sau này kể cả bảy mươi tuổi, lưng còng chống gậy, anh cũng phải dắt em đi bar quẩy một trận cho tụi trẻ ranh nó lác mắt nhé!"
Tôi nhìn dải đèn pha trắng lóa kéo dài vô tận phía trước, cười nhạt:
"Cứ sống cho hết hôm nay đã. Đời dài lắm, biết đâu mà tính."
Đó là sự hoài nghi ích kỷ của một gã đàn ông nghèo hèn và sợ hãi tương lai. Tôi đâu biết rằng, chính cái thói quen phòng thủ ấy sau này đã giết chết người con gái ngồi sau lưng mình.
Chốn quen nhất của hai đứa khi ấy là quán cơm gà xé của một thằng bạn cùng khóa Dược, nằm nép mình ở một góc hẹp gần Ngã Tư Sở. Quán kê vỏn vẹn ba bộ bàn ghế inox sát mép đường bụi bặm.
Em bị dị ứng nặng với cà rốt. Chỉ cần dính một sợi là cổ họng ngứa rát, nổi mẩn đỏ lòm.
Thế nên mỗi lần đĩa cơm gà dọn ra, tôi luôn là người cầm đũa trước. Tôi ngồi cặm cụi, tỉ mẩn gắp từng sợi cà rốt ngâm chua màu cam li ti đặt sang mép đĩa riêng, không để sót lại dù chỉ một vụn nhỏ. Rồi dùng tay xé nhỏ từng thớ thịt gà khô khốc trộn đều vào cơm cho em.
Đầu đũa tre xơ xác gõ lách cách vào mặt đĩa sắt tây. Em không nói gì, chỉ chống cằm nhìn tôi làm, khóe mắt cong lên bình thản.
Thứ tình cảm đó, đến tận bây giờ tôi vẫn không biết phải gọi tên là gì. Nó không nằm ở những lời thề thốt, mà nằm ở đống cà rốt vụn bị gạt bỏ nơi đáy đĩa, giữa mùi khói xăng nồng nặc của một chiều tan tầm Hà Nội.
Mùa hè năm ấy, những ca trực nhà thuốc mười hai tiếng vắt kiệt chút kiên nhẫn cuối cùng của tôi.
Cả ngày chôn chân sau tủ kính, ngửi mùi cồn sát trùng bám vào sợi vải áo blouse cùng tiếng còi xe inh ỏi ngoài đường nhựa khiến đầu tôi lúc nào cũng ong ong như có bầy ong vò vẽ bên trong.
Tối hôm đó, tôi vừa dắt con Wave ra khỏi bãi thì điện thoại rung bần bật. Em gọi, thở không ra hơi, bảo vừa hết ca phụ việc ở phòng khám tư thì lỡ mất chuyến xe buýt cuối.
Ngón tay cái tôi đặt hờ trên nút từ chối màu đỏ. Tôi thèm được phóng thẳng về phòng trọ, lột phăng cái áo đẫm mồ hôi rồi ném mình lên đệm, không phải nghe bất kỳ ai cằn nhằn. Nhưng quán tính của một gã mang danh người yêu vẫn kéo tôi vòng xe qua ba nút giao tắc nghẽn để đón em.
Hai đứa lại ngồi ở quán cơm gà góc Ngã Tư Sở.
Trời đứng gió, ngột ngạt quánh lại trước cơn dông. Hai đĩa cơm gà xé đặt xuống mặt bàn inox loang lổ vệt dầu mỡ chưa lau kỹ.
Lần đầu tiên kể từ ngày quen nhau, tôi không nhấc đũa gắp cà rốt. Tôi cắm mặt xúc từng thìa cơm khô khốc tọng vào họng, nhai nuốt trệu trạo như một cái máy.
Em ngồi im. Hai bàn tay bấu chặt vào gấu quần jean. Đĩa cơm trước mặt nguyên vẹn, phủ một lớp cà rốt thái sợi đỏ quạch.
Tôi thấy khóe mắt em đỏ hoe, rồi một giọt nước rơi thẳng xuống mặt bàn inox.
Tôi nhìn rõ mồn một. Nhưng lồng ngực tôi lúc đó tuyệt nhiên không có lấy một chút xót xa. Thứ trào lên cuống họng chỉ là cơn bực dọc ích kỷ của một kẻ đã cạn kiệt năng lượng, không còn đủ sức để dỗ dành cảm xúc của người khác.
Tôi đặt mạnh đôi đũa xuống mép đĩa. Tiếng kim loại va vào nhau kêu một tiếng chát.
"Không ăn thì đứng dậy. Tôi mệt rồi."
Tôi rút ví ném tờ năm mươi nghìn nhàu nát xuống bàn, quay lưng bước thẳng ra chỗ để xe. Gió dông quất rát mặt trên đường Nguyễn Trãi bụi mù. Tôi cứ thế vít ga chạy một mạch, bỏ mặc em ngồi trơ trọi giữa quán ăn vỉa hè với đĩa cơm chưa đụng đũa.
Ba ngày sau, tôi lại tìm đến đón em, ôm em, nói mấy lời xin lỗi đãi bôi. Em khóc ướt vai áo tôi rồi lại bỏ qua. Nhưng cái vết nứt giữa hai đứa đã há miệng, sâu hoắm.
Lần thứ ba em về quê tôi, căn nhà ba gian tĩnh mịch nặng trịch nếp gia phong.
Trưa hôm đó, mẹ tôi ngồi tựa lưng vào chiếc ghế mây ngoài phòng khách, mắt liếc nhìn em rồi hất hàm về phía sau:
"Con gái con lứa liệu mà xuống bếp xem cơm nước thế nào, để bác xem biết làm những gì."
Tôi đứng tựa vai vào ngạch cửa, thấy rõ cái rùng mình rất khẽ của em. Em lủi thủi bước xuống căn bếp xa lạ của người khác, nơi từng cái nồi nhôm, hũ mắm, con dao cùn đều nằm theo thói quen mấy chục năm của một bà mẹ khó tính.
Tôi không bước theo.
Tôi đứng nguyên ở bậc cửa, rút điện thoại ra lướt vờ như đang bận xử lý việc nhà thuốc. Đê tiện hơn, trong đầu tôi lúc đó nảy ra một ý nghĩ rành rọt: Tôi muốn đứng ngoài để xem em khéo léo đến đâu, xem em có đủ tiêu chuẩn để làm một người vợ vừa mắt gia đình tôi hay không.
Tôi để mặc em một mình xoay xở với cái bếp ga cũ bị kẹt van và tiếng dầu mỡ nổ lách tách. Khi đĩa thịt xào hơi mặn được dọn lên và mẹ buông một câu bĩu môi bâng quơ, tôi chỉ cắm đầu và từng miếng cơm vào miệng, tuyệt đối không hé răng đỡ lời lấy một câu.
Sau chuyến đó, mẹ tôi chê em thẳng thừng. Mẹ chê em người gầy gò, tính tình bộc trực, nhà lại cách xa gần trăm cây số. Mẹ nhắm cho tôi một đám khác gần nhà, con cái nhà công chức nề nếp, công việc ổn định ở trạm y tế xã.
Chẳng có ai kề dao vào cổ bắt tôi phải chia tay. Không có một trận cấm đoán long trời lở đất nào cả.
Chỉ là tôi đã tự mình tính toán thiệt hơn.
Tôi sợ một tương lai phải đứng ra bảo vệ tình yêu trước gia đình. Tôi sợ vất vả, sợ những cuộc cãi vã kéo dài. Tôi bắt đầu nhắn tin qua lại với cô gái mẹ giới thiệu, đồng thời rút dần từng chút một khỏi cuộc sống của em.
Tôi trả lời những tin nhắn của em bằng những chữ "ừ", "ờ" nhát gừng. Em hẹn gặp, tôi cáo bận trực ca. Em nhắn tin hỏi han, dặn dò, tôi mở ra đọc rồi để đấy.
Sau này, khi mọi chuyện đã trôi qua rất lâu, tôi mới biết trong chính những ngày tôi im lặng biến mất đó, em bị tụt đường huyết ngất lịm trên đường đi làm về, phải vào viện cấp cứu nằm truyền dịch một mình suốt hai ngày.
Những tin nhắn yếu ớt em gửi từ giường bệnh khi ấy chỉ nhận lại một chữ "Đã xem" xám xịt từ phía tôi. Lúc em cô độc nhất, tôi đang ngồi trong quán cà phê điều hòa mát rượi, cười nói với một người con gái xa lạ để làm vừa lòng cha mẹ mình.
Chúng tôi kết thúc mọi thứ vào một đêm đầu đông.
Em gửi một tin nhắn rất dài qua Zalo. Không một lời chửi bới. Em chỉ hỏi tôi có còn nhớ tiếng vĩ cầm ở phố Tràng Tiền hôm nào, có còn nhớ lời hứa về chuyến xe máy vào Đà Nẵng và cái quầy thuốc mang tên hai đứa nữa hay không.
Ánh sáng xanh từ màn hình điện thoại rọi vào trần nhà trọ ẩm mốc. Tôi nhìn từng dòng chữ, lồng ngực hơi tức nghẹn lại trong vài giây. Rồi sự toan tính rất nhanh chóng dập tắt nó.
Tôi gõ cộc lốc:
"Anh thấy hai đứa không hợp nữa. Dừng lại đi."
Em thả lại một biểu tượng mặt cười, rồi gửi đúng một dòng: "Vâng. Chúc anh hạnh phúc."
Tôi không trả lời. Tôi úp mặt điện thoại xuống chiếu, thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm như vừa gạt được một món nợ quá hạn.
Căn phòng tối om. Tiếng quạt con cóc lọc cọc quay trên bàn học, phả ra từng luồng gió hanh hao lạnh buốt.
Mối quan hệ mẹ mai mối dẹp tiệm sau chưa đầy một năm.
Chẳng có gì để kể về cuộc tình ấy ngoài mấy bữa ăn gượng gạo cuối tuần trong những quán lẩu ồn ào và sự nhạt nhẽo đến gai người. Ngày hai đứa nói lời chia tay, trong đầu tôi chỉ hiện lên đúng một gương mặt.
Tôi tìm lại Zalo của em, bấm gửi một cái hẹn.
Một năm không gặp. Em cắt tóc ngắn ngang vai, xương quai xanh nhô cao hơn dưới cổ áo sơ mi mỏng. Đôi mắt nhìn tôi vẫn rụt rè, cảnh giác hệt như hồi hai đứa còn là bạn học.
Chúng tôi không ai nhắc lại chuyện cũ. Tuyệt nhiên không một chữ nào về cô gái kia, cũng không ai đòi một lời phân bua cho những tin nhắn bị bỏ xó từ ngày em nằm viện. Tôi lại nổ máy đèo em đi vòng vèo qua những con phố bụi bặm, từ Nguyễn Trãi lộn sang đường vành đai. Em ngồi sau, hai bàn tay nắm hờ vào gấu áo khoác tôi, mùi dầu gội bưởi quen thuộc phả lướt qua mang tai.
Chập tối, tôi đưa em ra bến Giáp Bát để kịp chuyến xe cuối cùng về quê.
Sân bến sặc sụa mùi khói dầu diesel và tiếng còi hơi inh óc. Giữa dòng người chen lấn xô đẩy ở cổng soát vé, em đứng khựng lại, mắt dán chặt vào mặt tôi. Rồi bất thình lình, em nhào tới quàng chặt hai tay qua cổ tôi, vùi mặt vào hõm vai tôi nấc lên từng chặp run bần bật.
Chưa đầy mười giây sau, em buông vội. Không ngoái đầu lại lấy một lần, em chen qua cánh cổng sắt, bước nhanh lên bậc cửa chiếc xe khách màu đỏ đang nổ máy rền rĩ.
Tôi đứng trơ ra giữa bãi đất sình lầy đầy rác, nhìn đuôi xe lắc lư hòa vào dòng xe kẹt cứng trên đường Giải Phóng.
Hai đứa quay lại với nhau. Lần này kéo dài được đúng ba tháng.
Ba tháng ấy ngột ngạt như một căn phòng kín bưng không có cửa sổ. Không còn những lời hứa hươu vượn về một quầy thuốc chung hay chuyến xe máy phượt vào Nam. Chúng tôi bên nhau trong sự dè dặt đến tội nghiệp, vừa muốn níu giữ vừa lo sợ một cơn gió nhẹ cũng đủ làm mọi thứ vỡ vụn.
Một chiều muộn, tôi đèo em lộn lại mạn Ngã Tư Sở định ghé quán cơm gà của thằng bạn cũ.
Cửa cuốn sắt hoen gỉ hạ kín mít, khóa bằng hai ổ khóa đồng to tướng. Tấm biển bạt màu vàng đỏ rách tươm, bên trên dán đè một mảnh bìa các-tông bạc phếch ghi mấy chữ xiêu vẹo: Cho thuê nhà. Thằng bạn cùng lớp gánh không nổi tiền mặt bằng sau đợt dịch, đã bán xới hết bàn ghế, ôm đống nợ về quê đi làm trình dược viên cho một hãng thuốc nội.
Hai đứa dựng xe bên kia đường, đứng nhìn cái mặt tiền trống hoác. Chẳng ai buồn nói một câu.
Cái quán ăn vỉa hè đầy bụi bặm, nơi có những đĩa cơm nhặt sạch cà rốt và tiếng cười của thời sinh viên đã bị xóa sổ. Tuổi trẻ của chúng tôi rốt cuộc cũng bị hiện thực bóp nghẹt y như cái cách quán ăn ấy biến mất.
Khoảng cách hơn chín mươi cây số bắt đầu siết chặt lấy hai đứa.
Em bằng tuổi tôi. Ở quê, con gái ngoài hai mươi lăm tuổi chưa chồng bị coi như một quả bom nổ chậm trong nhà. Bố mẹ em sốt ruột, họ hàng dèm pha, áp lực hôn nhân đổ ập xuống đầu em từng ngày.
Em cần một danh phận rõ ràng. Em cần tôi về nhà thưa chuyện với bố mẹ em, hoặc chí ít là mở miệng nói với mẹ tôi rằng hai đứa đã hàn gắn để tính chuyện trầu cau.
Nhưng tôi lại co vòi.
Đứng trước mặt mẹ, tôi vẫn là một thằng hèn. Tôi sợ ánh mắt săm soi của gia đình. Tôi sợ những cuộc cãi vã. Và sâu thẳm hơn, tôi sợ cái nghèo. Lương dược sĩ đứng quầy ca đêm tháng vài triệu bạc, chắt bóp trả tiền phòng trọ ẩm thấp ở Hà Nội còn chưa đủ, tôi lấy gì để gánh một gia đình trên vai?
Mỗi lần em nhắc đến chuyện tương lai, tôi lại cúi gầm mặt, dán mắt vào màn hình điện thoại hoặc vờ bận việc để lảng đi.
Em không chửi bới, cũng chẳng khóc lóc ầm ĩ. Ánh mắt em nguội lạnh dần sau từng lần tôi lẩn tránh. Rồi một sáng chủ nhật, em lẳng lặng gấp mấy bộ quần áo nhét vào ba lô, trả phòng trọ rồi bắt xe về quê hẳn. Mối tình ba tháng chấm dứt không một tiếng động, êm đềm như một ca tử vong được báo trước.
Nửa năm sau, vào một đêm tháng Mười một rét buốt, màn hình điện thoại tôi sáng lên giữa bóng tối căn gác trọ.
Một tin nhắn Zalo:
"Tháng sau em lấy chồng rồi. Anh nhất định phải sống thật hạnh phúc nhé."
Tôi ngồi chết trân trên mép đệm. Căn phòng trọ im ắng đến mức nghe rõ tiếng gió rít qua khe cửa sổ bằng kính lỏng ốc.
Tôi đặt hai ngón tay lên bàn phím, gõ một tràng dài ngoằng rồi lại nhấn nút xóa từng chữ một. Tôi gõ lại, rồi lại xóa. Tôi muốn hỏi chồng em là ai, muốn hỏi em có yêu người ta không, nhưng đến cùng, một chữ tôi cũng không có tư cách để gửi đi.
Mười phút sau, tôi gửi lại đúng một dòng ngắn ngủn:
"Chúc em một đời bình yên. Cảm ơn em."
Chữ "Đã nhận" hiện lên xám xịt.
Tôi tắt màn hình, ném điện thoại sang một góc chiếu. Ngoài đường, tiếng còi một chuyến tàu đêm xuôi về mạn Nam hú lên từng hồi dài, xé toạc không gian tĩnh mịch rồi chìm dần vào bóng tối.
Ba năm.
Cầu cạn Linh Đàm đã thông xe từ lâu. Những đêm tan ca muộn ở nhà thuốc, tôi chạy con xe cũ ngược đường Nguyễn Xiển, mắt nhìn vào gương chiếu hậu chỉ thấy trơ trọi cái yên sau phủ bụi. Cái giọng cười rúc rích đòi bảy mươi tuổi đi bar của một đứa con gái năm nào đã tan biến vào tiếng gầm rú của xe tải chạy đêm.
Em có cuộc đời khác rồi.
Chồng em ở quê, nghe đâu làm ăn căn cơ. Đứa con đầu lòng vừa tròn tháng. Thỉnh thoảng lướt mạng vô tình thấy tấm ảnh bạn bè chụp chung với em, tôi dừng lại vài giây. Khuôn mặt em tròn ra, tóc buộc gọn sau gáy, nét mặt phẳng lặng, không còn vẻ phờ phạc vì những chuyến xe buýt muộn hay những bữa cơm gà vỉa hè ngập mùi khói bụi cùng tôi ngày trước.
Nhìn em như thế, lòng tôi chỉ còn lại một cảm giác tê dại. Không phải ghen tuông, cũng chẳng phải cao thượng chúc phúc. Đó là cái cảm giác tự khinh bỉ bản thân khi biết mình đã tự tay vứt bỏ một người từng yêu mình bằng tất cả những gì họ có.
Suốt ba năm qua, tôi vẫn ở lì trong căn phòng trọ này. Vẫn đứng quầy, vẫn cày ca đêm, và tuyệt nhiên không mở lòng thêm với bất kỳ ai. Cũng chẳng còn đứa con gái nào đủ kiên nhẫn để ngồi nhặt từng cọng cà rốt cho tôi nữa.
Tôi nhìn xuống những khớp ngón tay mình thô ráp đặt trên mặt bàn gỗ dán.
Chính bàn tay này từng ngồi thụp xuống nền gạch bẩn thỉu ở ngõ Tràng Tiền thắt lại sợi dây giày cho em. Từng xé từng miếng thịt gà khô khốc đặt sang đĩa cho em ăn.
Rồi cũng chính nó đút sâu vào túi quần, đứng trơ ra ở ngạch cửa bếp nhìn em bối rối trước mặt mẹ mình.
Nó bấm gửi đi dòng tin nhắn chia tay lạnh ngắt khi em đang nằm bẹp trên giường bệnh truyền dịch.
Và ở cổng bến xe Giáp Bát chiều hôm đó, khi em buông cổ tôi ra, nước mắt lưng tròng bước lên bậc cửa xe đò, hai tay tôi đã buông thõng bên sườn, không một lần nhấc lên để giữ em lại.
Chín mươi cây số từ bến xe Giải Phóng về đến cổng nhà em thực chất chỉ mất đúng hai tiếng xe khách. Tiền vé chưa bằng hai ca đứng quầy. Thế mà tôi đã không bao giờ dám bước lên chuyến xe ấy.
Tôi sợ mẹ, sợ nghèo, sợ phải gánh vác cuộc đời của một người khác. Tôi viện đủ mọi lý do về khoảng cách, về gia đình để che đậy một sự thật trần trụi: tôi là một thằng đàn ông hèn hạ, ích kỷ và sợ trách nhiệm đến cùng cực.
Đêm đã về sáng. Tiếng xe rác lạo xạo ngoài đầu ngõ dội qua khe cửa sổ.
Đáy danh sách Zalo, tin nhắn từ ba năm trước vẫn nằm im lìm:
"Tháng sau em lấy chồng rồi. Anh nhất định phải sống thật hạnh phúc nhé."
Tôi đứng dậy, đi lại góc tủ.
Hộp dưỡng da ba món nằm kẹp giữa mấy cuốn Dược thư đã mốc meo. Lớp màng co bọc ngoài ố vàng, bám một màng bụi cáu bẩn lạnh ngắt. Mấy tuýp kem bên trong chắc đã đông cứng, biến chất từ đời nào.
Tôi không bóc ra, cũng chẳng nỡ vứt đi.
Đầu ngón tay tôi cứ miết mãi lên lớp nilon lạnh ngắt bám đầy bụi, miết đến khi đầu ngón tay đỏ ửng mà lồng ngực bên trong vẫn thắt lại từng cơn buốt rát. Tôi đã nợ em một thanh xuân trọn vẹn, nợ một danh phận đàng hoàng, nợ một cái nắm tay giữa bến xe ngày hôm ấy...
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.