Chương 31: U Hà Thị
Ngày thứ mười kể từ khi Khải Dương bắt đầu dùng máu Thẩm Uyên luyện cấm thuật, trời Càn Vũ đổ một trận mưa nhỏ từ sáng sớm. Mưa không lớn, nhưng kéo dài dai dẳng. Những tầng mây xám phủ kín bầu trời phía trên hoàng thành, khiến ánh sáng trong đại điện cũng tối hơn thường ngày đôi chút.
Buổi triều hôm ấy diễn ra như mọi khi. Mật báo biên cảnh được trình lên liên tiếp, tuyến vận lương phía bắc, động tĩnh của phản quân ở Tây Châu, thuế muối năm nay, từng việc một nối tiếp nhau. Quan viên hai bên điện tranh luận không ngừng, còn Càn Vũ Đế vẫn ngồi trên long tọa, thỉnh thoảng hỏi vài câu rồi lại để bọn họ tiếp tục nghị sự.
Không có gì bất thường. Ít nhất là đối với phần lớn người trong điện.
Văn Kính Hà đứng ở vị trí quen thuộc phía sau hàng văn thần. Lão đã không còn trẻ nữa, những năm gần đây phần lớn thời gian đều ở trong Tinh Thiên Các. Người trẻ trong triều thậm chí rất ít khi thấy vị quốc sư này thật sự can dự vào chính sự, đối với họ, Văn Kính Hà giống một biểu tượng hơn là một người còn nắm quyền lực.
Nhưng đúng vào lúc một vị đại thần đang trình bày về tuyến thương lộ phía nam, đầu ngón tay đang giữ ngọc giản của lão bỗng khựng lại rất nhẹ. Chỉ là một thoáng cực ngắn, ngắn tới mức không ai nhận ra.
Văn Kính Hà cũng không lập tức có phản ứng gì. Lão vẫn đứng đó, vẫn nhìn về phía trước. Chỉ có ánh mắt hơi trầm xuống một chút. Vừa rồi có thứ gì đó lướt qua thần thức của lão, rất mỏng, rất xa, giống như một gợn sóng xuất hiện trên mặt hồ rồi tan biến ngay trước khi người khác kịp nhận ra.
Nếu là người khác, có lẽ đã bỏ qua. Nhưng Văn Kính Hà thì không. Bởi loại cảm giác ấy khiến lão nhớ tới một vài thứ đã rất lâu không còn xuất hiện trong trí nhớ.
Lão im lặng một lúc, rồi chậm rãi khép mắt lại. Không ai để ý, ngay cả Càn Vũ Đế trên long tọa cũng chỉ nhìn xuống tấu chương trong tay.
Thần thức của Văn Kính Hà lặng lẽ lan ra khỏi đại điện, giống như nước, không một tiếng động, không một dấu vết.
Từng lớp kết giới của hoàng thành hiện lên trong cảm nhận của lão, từng cung điện, từng hành lang, từng trận pháp bảo hộ. Mọi thứ đều quen thuộc. Nhưng cảm giác lạnh buốt vừa rồi đã biến mất, chỉ còn lại chút dư âm cực kỳ mờ nhạt.
Văn Kính Hà không vội. Lão đã sống đủ lâu để hiểu rằng càng là những thứ đáng sợ, càng không nên nóng vội. Lần theo một dấu vết sắp tan biến luôn đòi hỏi sự kiên nhẫn.
Thời gian chậm rãi trôi qua. Mà sắc mặt lão cũng dần trở nên nặng nề hơn. Bởi càng truy tìm, lão càng cảm thấy quen thuộc. Không phải quen thuộc với một người, mà là quen thuộc với một ghi chép. Một đoạn cổ tịch đã được niêm phong từ rất nhiều năm trước.
U Hà.
Cái tên ấy đột nhiên hiện lên trong đầu lão, rõ ràng tới mức chính Văn Kính Hà cũng phải mở mắt ra trong thoáng chốc.
Đã quá lâu rồi. Ý nghĩ ấy vừa xuất hiện, thần thức của lão cũng đồng thời lần được tới điểm cuối cùng.
Đông cung.
Khoảnh khắc nhận ra vị trí ấy, Văn Kính Hà thật sự khựng lại. Không phải vì bất ngờ, mà vì lão không muốn tin.
Khải Dương là người lão nhìn lớn lên, từ một đứa trẻ mới biết cầm kiếm cho tới thái tử hiện tại. Lão hiểu hắn, ít nhất vẫn luôn cho rằng mình hiểu. Cho nên Văn Kính Hà rất rõ, nếu Đông cung thật sự xuất hiện dao động liên quan tới U Hà thuật, vậy chuyện này tuyệt đối không thể là trùng hợp.
Buổi triều hôm đó kết thúc sớm hơn thường ngày. Mà Văn Kính Hà cũng rời đại điện ngay sau đó.
...
Nửa canh giờ sau, lão đã đứng trước cổng Đông cung.
Mưa vẫn còn rơi. Những giọt nước lạnh nhỏ dọc theo mái hiên chậm rãi rơi xuống nền đá đen nhánh. Cấm vệ vừa nhìn thấy lão đã lập tức hành lễ rồi tránh sang hai bên, không ai ngăn cản, cũng không ai dám hỏi.
Văn Kính Hà đứng trước tầng kết giới bao quanh Đông cung rất lâu, ánh mắt lặng lẽ nhìn những đường trận văn đang vận chuyển bên dưới. Lão không lập tức bước vào. Bởi tới tận lúc này, trong lòng vẫn còn giữ lại một tia hy vọng rất nhỏ, rằng mình đã nhầm, rằng tất cả chỉ là một sự trùng hợp nào đó.
Nhưng cuối cùng lão vẫn nâng tay lên. Một sợi thần thức cực mỏng lặng lẽ chạm vào kết giới.
Khoảnh khắc tiếp theo, kết giới Đông cung rung lên rất nhẹ, rồi một luồng phản chấn lạnh buốt lập tức ép ngược trở lại. Giống như nước sâu, giống như vực tối, giống hệt những gì được ghi lại trong các bản cổ tịch cấm của Tinh Thiên Các.
Bàn tay giấu trong tay áo của Văn Kính Hà chậm rãi siết lại.
Lần này lão không tiếp tục dò xét nữa.
Không cần thiết.
Bởi đáp án đã ở ngay trước mắt. Người vận chuyển loại cấm thuật ấy đang ở trong Đông cung. Mà người duy nhất có thể làm như vậy trong Đông cung chỉ có Khải Dương.
Mưa vẫn rơi. Nhưng Văn Kính Hà lại đứng yên rất lâu dưới mái hiên.
Trong thoáng chốc, lão bỗng nhớ tới ánh mắt của thái tử cách đây vài tháng, nhớ tới những lần Khải Dương đột nhiên rời kinh, nhớ tới tuyến buôn nô lệ phía nam, nhớ tới Quỷ Mục phát điên. Những chuyện trước đây vốn rời rạc, giờ phút này lại bắt đầu chậm rãi nối với nhau thành một đường thẳng.
Mà càng hiểu ra, lòng lão càng nặng xuống. Bởi Văn Kính Hà biết rõ hơn bất kỳ ai, một khi đã dính tới U Hà, thứ đang bị kéo ra ánh sáng sẽ không chỉ là một loại cấm thuật đơn giản. Phía sau nó luôn là những thứ còn nguy hiểm hơn rất nhiều.
...
U Hà là một cái tên rất cổ, cổ tới mức phần lớn học giả ngày nay chỉ xem nó như một truyền thuyết đã thất lạc giữa dòng lịch sử. Ngay cả những tư liệu còn sót lại cũng vô cùng rời rạc, không có niên biểu hoàn chỉnh, không có gia phả, không có ghi chép rõ ràng về sự hình thành hay diệt vong. Giống như toàn bộ tộc người ấy chỉ tồn tại trong những mảnh ký ức đứt đoạn của thời đại trước.
Điều duy nhất có thể xác định là U Hà từng xuất hiện từ rất lâu, lâu hơn cả phần lớn quốc gia hiện tại. Bọn họ không xây dựng triều đình, không mở rộng lãnh thổ, cũng không lưu lại những thành trì khổng lồ như các nền văn minh cổ khác. Trong gần như mọi ghi chép còn sót lại, U Hà luôn xuất hiện bên cạnh những tế đàn, những nghi lễ, những trận pháp quy mô vượt xa nhận thức của người đời sau.
Người ta nói rằng toàn bộ con đường tu hành của U Hà đều xoay quanh việc giao tiếp với thần linh. Không phải cầu xin, cũng không phải thờ phụng đơn thuần, mà là tìm cách trở thành cầu nối. Chính vì vậy, họ dành nhiều thế hệ để nghiên cứu huyết mạch, nghiên cứu nghi thức và nghiên cứu những phương pháp có thể khiến con người trở thành vật dẫn cho các loại lực lượng vượt ngoài phạm vi bình thường. Trong rất nhiều cổ tịch, những đại trận nổi tiếng thời thượng cổ thường xuất hiện cùng tên của U Hà, có trận dùng để phong ấn, có trận dùng để trấn áp, cũng có những trận pháp mà hậu thế không còn biết công dụng thật sự là gì.
Nhưng điểm kỳ lạ là ở chỗ, mỗi lần U Hà xuất hiện trong sử sách, vai trò của họ gần như luôn giống nhau. Không phải người khởi xướng, cũng không phải người sử dụng, mà là vật trung gian.
Giống như trong nhận thức của người xưa, có những thứ chỉ có U Hà thị mới đủ khả năng kết nối.
Văn Kính Hà từng dành rất nhiều năm nghiên cứu những tư liệu ấy. Nhưng càng đọc, lão lại càng cảm thấy kỳ lạ. Bởi toàn bộ lịch sử của U Hà đều mang một cảm giác không trọn vẹn. Những ghi chép đầu tiên nhắc tới họ thường dùng những từ như kính trọng, tôn sùng, nể phục. Nhưng càng về sau, những từ ấy dần biến mất, thay vào đó là dè chừng, là tránh né, là kiêng kỵ.
Trong một bản chép tay đã hư hỏng quá nửa, Văn Kính Hà từng đọc được một đoạn rất ngắn.
Người viết không nhắc tới chiến tranh, cũng không nhắc tới tai họa, chỉ viết một câu duy nhất:
"Người đời bắt đầu sợ những thứ mình không hiểu."
Đó là toàn bộ đoạn ghi chép, không đầu, không cuối. Nhưng không hiểu vì sao, Văn Kính Hà lại nhớ rất rõ. Bởi cảm giác ấy xuất hiện lặp đi lặp lại trong hầu hết những tư liệu liên quan tới U Hà. Ban đầu là kính sợ. Sau đó là nghi ngờ. Cuối cùng là sợ hãi.
Rồi một ngày nào đó, họ biến mất.
Không có trận chiến nào được ghi lại, không có đại nạn nào được xác nhận, cũng không có bất kỳ sử sách nào thật sự mô tả thời khắc cuối cùng của U Hà. Giống như toàn bộ tộc người ấy đột nhiên bị xóa khỏi lịch sử, chỉ để lại những mảnh ghi chép vụn vặt và vô số suy đoán không thể kiểm chứng. Có người cho rằng họ bị săn đuổi bởi Càn Vũ quốc, có người cho rằng họ tự rời khỏi nhân gian, cũng có người tin rằng những bí mật họ nắm giữ cuối cùng đã dẫn tới sự sụp đổ của chính mình.
Không ai biết đáp án. Ngay cả Tinh Thiên Các cũng không biết.
Mưa lạnh lặng lẽ rơi xuống từ mái hiên. Văn Kính Hà chậm rãi mở mắt, ánh nhìn lại lần nữa dừng trên tầng kết giới của Đông cung.
Những ghi chép kia vốn nên mãi mãi chỉ là lịch sử. Ít nhất, lão đã từng nghĩ như vậy. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Văn Kính Hà bắt đầu cảm thấy một vài thứ tưởng như đã biến mất khỏi nhân gian có lẽ chưa từng thật sự rời đi. Hoặc cũng có thể, chúng chỉ đang chờ một thời điểm thích hợp để xuất hiện trở lại.
...
Đêm hôm đó, Văn Kính Hà được bí mật triệu vào ngự thư phòng.
Trong phòng chỉ đốt duy nhất một ngọn đèn nhỏ. Ánh sáng vàng lạnh hắt lên án thư, phủ lên gương mặt Càn Vũ Đế một lớp bóng tối nhàn nhạt. Ông không ngẩng đầu ngay khi Văn Kính Hà bước vào. Cho tới lúc lão hành lễ xong, Càn Vũ Đế mới chậm rãi đặt bút xuống.
"Có chuyện gì khiến Văn lão phải dùng mật lệnh cầu kiến giữa đêm?"
Văn Kính Hà im lặng vài giây rồi mới thấp giọng đáp:
"...lão thần cảm nhận được cấm thuật U Hà xuất hiện trong hoàng thành."
Không gian trong thư phòng gần như lập tức yên xuống. Ánh mắt Càn Vũ Đế dừng lại trên người lão rất lâu.
"Ở đâu?"
Văn Kính Hà cúi thấp đầu hơn.
"Đông cung."
Ngọn đèn trên bàn khẽ lay động theo gió đêm lùa qua khe cửa. Rất lâu sau, Càn Vũ Đế mới hỏi thêm một câu:
"Ngươi chắc chứ?"
"Lão thần không nhận sai."
Lần này Càn Vũ Đế không hỏi nữa. Ông chỉ khẽ gật đầu, giống như vừa xác nhận một chuyện đã nghi ngờ từ rất lâu.
...
Sau khi Văn Kính Hà rời khỏi ngự thư phòng, rất lâu sau vẫn không có ai được triệu vào nữa.
Mưa ngoài điện đã nhỏ đi nhiều. Những giọt nước mỏng rơi dọc mái hiên ngự thư phòng, tí tách xuống bậc đá xanh lạnh ngắt. Ánh đèn duy nhất trong phòng cháy rất ổn định.
Càn Vũ Đế vẫn ngồi nguyên tại chỗ. Ông không lập tức truyền người tới Đông cung, cũng không hạ chỉ tra xét. Chỉ lặng lẽ nhìn chồng tấu chương trước mặt.
Một lúc sau, bàn tay đặt trên án mới chậm rãi động đậy. Ông kéo một hộp gỗ đen từ cạnh long án ra, mở khóa đồng bên ngoài rồi lấy từ trong cùng một xấp hồ sơ rất mỏng. Trên bìa không ghi tên, chỉ đóng một dấu triện màu đen cực nhạt.
Hồ sơ mật của Đông cung.
Ngón tay Càn Vũ Đế chậm rãi lật qua từng trang. Tiếng giấy rất khẽ giữa căn phòng yên tĩnh.
Khải Dương bắt đầu thay đổi từ khoảng nửa năm trước. Ban đầu chỉ là vài chuyện rất nhỏ, rời cung nhiều hơn bình thường, danh nghĩa đi tuần quân doanh nhưng thời gian đối chiếu không khớp.
Ba tháng trước, Đông cung bí mật điều động một lượng lớn tinh thạch hạ phẩm qua phủ Nội Vụ, số lượng không đủ gây chú ý nếu tách riêng từng lần vận chuyển, nhưng cộng lại đã vượt xa tiêu chuẩn Đông cung được cấp. Một tháng trước nữa, có hai pháp sư ngoại vực âm thầm vào kinh. Một người chết trên đường trở về. Một người mất tích.
Ánh mắt Càn Vũ Đế dừng trên hàng chữ cuối cùng rất lâu.
Ông nhớ lại buổi săn mùa thu năm nay. Khải Dương đứng dưới chân đài tế, nói chuyện với các hoàng tử khác như bình thường. Nhưng khoảng cách giữa hắn và toàn bộ triều thần lúc đó đã khác rồi, giống như có thứ gì đó đang dần tách hắn khỏi tất cả mọi người. Khi ấy ông chỉ cho rằng đứa con trai này cuối cùng cũng bắt đầu học được cách giấu dã tâm.
Hiện tại nhìn lại, không phải. Nó đã bắt đầu chuẩn bị từ rất sớm. Có lẽ còn sớm hơn cả những gì ông nhìn thấy.
Càn Vũ Đế đặt hồ sơ xuống. Ánh mắt chậm rãi dời về phía ngọn đèn nhỏ trên bàn. Ánh lửa phản chiếu trong mắt ông rất mờ.
Khải Dương là đứa con ông nuôi lớn nhất, cũng là thái tử ông tự tay chọn. Tư chất đủ mạnh, tâm tính đủ ổn, biết nhẫn, biết đợi, biết giấu ý nghĩ thật của mình. Một đế vương nên có những thứ ấy. Cho nên nhiều năm qua, dù biết Khải Dương âm thầm kết giao quân quyền, gây ảnh hưởng trong triều, thậm chí bí mật nuôi người riêng, ông vẫn chưa từng thật sự động tới. Bởi đó là thứ thái tử nên học. Muốn ngồi lên long tọa, không thể sạch sẽ quá mức.
Nhưng U Hà thuật là chuyện khác. Hoàn toàn khác.
Ngón tay Càn Vũ Đế rất khẽ gõ xuống mặt bàn một lần. Ông từng đọc ghi chép về U Hà thị, một tộc cổ huyết đã từng khiến ba triều đại cổ suýt sụp đổ chỉ trong chưa đầy hai mươi năm. Thứ đáng sợ chưa bao giờ là cấm thuật của họ mạnh tới đâu, mà là sự mất kiểm soát. Người luyện U Hà thuật tới cuối cùng đều sẽ bước ra khỏi trật tự vốn thuộc về nhân gian, hoặc điên, hoặc biến thành quái vật, hoặc tệ hơn. Mà thái tử của Càn Vũ tuyệt đối không thể dính tới thứ đó.
Bên ngoài vang lên một tiếng sấm rất thấp.
Càn Vũ Đế khép hồ sơ lại. Động tác của ông vẫn bình thản như cũ. Nhưng từ khoảnh khắc ấy, toàn bộ kết cục của Đông cung dường như đã được quyết định xong rồi. Không cần nổi giận, cũng không cần thất vọng. Với một đế vương ngồi trên long tọa quá lâu, cảm xúc là thứ vô dụng nhất khi xử lý nguy hiểm.
Khải Dương không còn là thái tử phạm lỗi nữa. Mà là một mối họa phải cắt bỏ.
Ánh mắt Càn Vũ Đế dừng lại trên bản đồ quân sự treo phía xa. Rất lâu sau, ông mới thấp giọng gọi:
"Người đâu."
Cửa ngoài lập tức mở ra. Một nội thị già cúi thấp người bước vào.
"Bệ hạ."
"Truyền mật lệnh cho Tư Thiên Giám." Giọng ông rất đều.
"Ngày mai vào triều, mở trận Thanh Tức dưới nền chính điện."
Nội thị hơi khựng một thoáng. Thanh Tức trận không dùng để giết người, nó dùng để phá linh tức và cưỡng ép cắt đứt quá trình vận thuật đang diễn ra. Nếu Khải Dương thật sự đang luyện U Hà thuật, vậy toàn bộ tiến triển nhiều tháng nay sẽ bị hủy sạch chỉ trong một buổi triều.
Nội thị không dám hỏi thêm, lập tức cúi đầu lĩnh mệnh.
Cửa điện lại khép vào. Trong phòng chỉ còn tiếng mưa.
Càn Vũ Đế im lặng rất lâu rồi mới cầm thêm một quyển hồ sơ khác lên. Lần này là hồ sơ quân vụ Bắc Lương. Biên cảnh phía bắc đã giằng co gần nửa năm, tuy chưa đại chiến nhưng thám báo tử thương liên tục, mà ba nghìn Hắc Kỵ đóng gần Hàn Giang cũng vừa gửi chiến báo cầu viện cách đây ba ngày.
Ngón tay ông dừng trên cái tên "Bắc Lương". Ánh mắt sâu tới mức gần như không nhìn ra cảm xúc.
Khải Dương muốn binh quyền. Vậy thì cho hắn binh quyền.
Muốn chứng minh mình đủ tư cách kế vị, vậy đi chiến trường đi.
Một cơn gió lạnh lùa qua khe cửa, làm ngọn đèn trên bàn lay động nhẹ. Trong thứ ánh sáng chập chờn ấy, thần sắc Càn Vũ Đế vẫn bình ổn tới đáng sợ, giống như ông chỉ đang xử lý một phần triều vụ bình thường giữa đêm mưa.
Chỉ có điều cả ông và Khải Dương đều hiểu rất rõ. Từ khoảnh khắc U Hà thuật bị phát hiện, Đông cung đã bắt đầu bước vào đường chết.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.