Nhân Hoạ Thiên Đồ

Chương 1: Vệt nước dưới ánh trăng bạc

Đăng: 24/05/2026 15:31 2,698 từ 2 lượt đọc

"Nghệ thuật chân chính không nằm ở những áng thơ trữ tình mua vui, cũng chẳng phải những bức họa tô hồng cho những không gian ảo mộng. Đó chỉ là thứ phù phiếm mà những kẻ phàm phu tục tử nhồi nhét vào tâm trí chúng ta!"


Giọng phu tử trầm hùng vang vọng khắp thư các, tựa như một tiếng chuông đồng phá tan sự tĩnh lặng của màn sương sớm mai đang giăng mắc ngoài khung cửa. Trần phu tử, một bậc Họa sư ở độ tuổi tứ tuần, mang phong thái nho nhã, thanh tao trong chiếc trường bào rộng màu lam nhạt. Vóc dáng ông thanh mảnh nhưng thẳng tắp như nhành trúc hiên ngang gánh vác sương lạnh của buổi ban mai.


Khẽ vuốt chòm râu hoa râm đã nhuốm đôi phần bụi trần tuế nguyệt, ông đưa ánh mắt thâm thúy lướt qua đám học đồ đang ngồi ngay ngắn trên những tấm nệm cói. Bắt gặp ánh nhìn kiên định của Từ Mặc, cậu thiếu niên chừng mười bốn tuổi đang chăm chú lắng nghe ở góc phòng, phu tử khẽ gật đầu, chậm rãi buông từng lời thấm thía:

"Một Họa sư chân chính phải biết hòa nhập linh hồn vào đại đạo của thế gian, dùng chính bản thân làm ngòi bút để tự họa nên thế giới chân ngã của chính mình."


Lời vừa dứt, một học trò thiếu niên với y phục lụa là, hiển nhiên xuất thân từ danh gia vọng tộc, không nén nổi sự tò mò bèn chắp tay thi lễ, cung kính cất giọng: "Tiên sinh, phàm nhân như chúng ta chẳng hiểu đại đạo, cũng không rõ quy luật sinh diệt của đất trời. Cần bắt đầu tu luyện từ đâu để có thể bước chân vào hàng ngũ Họa sư chân chính?"

Trần phu tử nghe vậy liền mỉm cười nhẹ nhàng. Ông từ từ đứng dậy, vươn tay cầm lấy cây cọ trúc đặt trên chiếc nghiên ngọc bích khô cạn. Không cần chấm bất cứ giọt mực nào, ông lăng không hướng đầu ngọn bút về phía lò sưởi đang cháy rực giữa phòng.


Bằng một thủ pháp điêu luyện vô ngần, ngọn lửa đang cháy tí tách bỗng chốc uốn lượn, tách ra khỏi những thanh củi mục. Chúng hóa thành những dòng linh khí rực hồng, tựa như đàn cá chép nhỏ bơi lội trong không khí rồi ngưng tụ lại nơi đầu lông cọ.


Chỉ bằng vài đường phác họa lơ lửng, nét cọ uyển chuyển uốn lượn theo lối Hành thư, một chữ "Chí" (志) đỏ rực trôi nổi giữa hư không thành hình. Chữ "Chí" ấy tỏa ra sức nóng hầm hập của hỏa tinh, làm không gian xung quanh khẽ vặn vẹo, nhưng lại mang theo sự thâm sâu, tĩnh tại của một ý chí kiên định không gì lay chuyển nổi.

"Cốt lõi của Họa sư chính là sự điều hòa Ngũ hành và biến vạn vật dung nhập vào hình thái mà bản thân mong muốn,"


Trần phu tử ôn tồn giảng giải, ánh mắt tràn ngập vẻ tự hào về đạo pháp. "Các con chỉ cần chăm chỉ tu luyện, lắng nghe nhịp đập của vạn vật, thì một ngày nào đó cũng có thể đạt đến cảnh giới Ứng Vật của con đường Ý Họa như ta."

Ông tiếp tục dẫn dắt chúng học đồ vào thế giới bao la của Ý Họa, nơi các Họa sư trở thành những nhà thám hiểm du phương tự tại. Họ không cần mang theo nghiên mực nặng nề, bởi vạn vật trong đất trời này chính là mực của họ. Đó là cốt cách của những bậc tu hành chân chính, lấy sự tuần hoàn của thiên nhiên để mường tượng về một vũ trụ vô thủy vô chung.

Đám học đồ ồ lên, ánh mắt bừng sáng như vừa được khai mở một chân trời mới lạ. Cùng lúc đó, bên ngoài thư các, tiếng chổi tre quét trên nền đá rêu phong vang lên nhịp nhàng: "Xạt... xạt...". Âm thanh thô mộc ấy không vội vã, cũng chẳng chậm trễ, đều đặn tựa như nhịp đập của một trái tim tĩnh lặng giữa dòng đời huyên náo.


Trần phu tử đưa mắt nhìn qua ô cửa sổ khắc hoa văn tùng cúc, thấy thiếu niên Từ Mặc đang miệt mài quét từng chiếc lá rụng. Ông mỉm cười hiền từ, khẽ vẫy tay tỏ ý gọi hắn lại gần để có thể xem rõ hơn thủ pháp ngưng hỏa tụ tự vừa rồi.

Nhưng Từ Mặc thấy phu tử nhìn mình, chỉ khẽ dừng tay chổi, cúi đầu thi lễ một cách kính cẩn, rồi lại tiếp tục nhẫn nại quét dọn, tuyệt nhiên không để nhịp chổi sao nhãng đi nửa phân. Với hắn, sự tò mò là xa xỉ, và công việc sinh tồn mới là thứ neo giữ hắn lại với nhân gian.


Khi buổi học sáng kết thúc, học đồ đã tản mát hết. Bầu trời bỗng kéo mây xám xịt, gió bấc thổi về mang theo hơi lạnh buốt giá. Trần phu tử bước xuống hiên sân, chắp tay sau lưng nhìn tầng mây âm u, cất giọng trầm ấm hỏi thiếu niên đang ôm chổi:

"Từ Mặc, con có biết vì sao Ngũ hành lại trở thành một đạo lý cốt lõi mà mỗi Họa sư đều phải thấu hiểu tận tâm can không?"


Từ Mặc ngừng tay, xoa xoa đôi bàn tay chai sạn cho đỡ lạnh, suy nghĩ một lát rồi thành thực trả lời dựa trên những hiện tượng nhỏ nhặt mà hắn quan sát được quanh mình—rằng lửa thiêu rụi củi khô, nước dập tắt lửa, mùa màng nảy nở nhờ đất tơi xốp. Trần phu tử nghe xong, không bảo hắn sai, chỉ nhẹ nhàng giải thích cặn kẽ hơn, mở ra một tầng nghĩa siêu hình sâu xa:


"Con người từ lúc sinh ra đã có mệnh căn ẩn sâu trong bản thể. Người mệnh Hỏa thì rực rỡ bốc đồng, người mệnh Kim thì sắc sảo kiên định, người mệnh Thủy thì trầm ổn bao dung... Chỉ khi thấu hiểu được bản mệnh của chính mình, mới mong điều hòa được vạn vật trong thiên địa rộng lớn ngoài kia."

Từ Mặc cúi đầu ghi tạc từng lời như khắc vào xương tủy. Quét xong khoảng sân rộng, hắn cung kính cất lời chào tạm biệt phu tử rồi tất tả chạy ra khu chợ chiều thưa thớt bóng người dưới chân núi.


Gió núi thổi qua lành lạnh, mang theo mùi ngai ngái của đất rêu ẩm. Từ Mặc dừng chân trước sạp hàng tre đơn sơ của Vân thúc thúc, người đàn ông trung niên với khuôn mặt khắc khổ, nếp nhăn in hằn những giọt mồ hôi mưu sinh, nhưng ánh mắt lại luôn toát lên vẻ đôn hậu, từ bi.

Ở sạp bên cạnh, một gã trọc phú làng trên vừa mua một cân thịt lợn béo ngậy. Gã ném xuống bàn gỗ một viên Thác phiến tinh xảo, bề mặt mài nhẵn thín có nổi những đường vân trầm tích tuyệt đẹp, ở giữa đục một lỗ tròn. Giá của cân thịt thực chất chỉ ngang ngửa mười viên Thác phiến thô, nhưng viên tinh thạch này lại có giá trị lớn hơn nhiều.


Lão đồ tể không có đủ đá thô lỉnh kỉnh để thối lại, bèn thoăn thoắt gom thêm một chùm lòng lợn, ba củ tỏi khô và một nhúm muối hạt bọc trong lá chuối đưa thêm cho gã trọc phú để bù đắp giá trị. Cơ chế hàng đổi hàng để thối lại tiền diễn ra một cách quen thuộc, phản ánh sự lưu thông của một nền kinh tế nghèo nàn nơi đá cứng không thể bẻ vụn.

Nhìn thấy cảnh tượng sung túc ấy, Từ Mặc chỉ biết khẽ nuốt khan. Hắn bước đến sạp của Vân thúc thúc, bối rối thò tay vào trong chiếc hầu bao vải vá chằng vá đụp, lôi ra hai mảnh Thác phiến màu đen tuyền. Những mảnh đá này hình chữ nhật, to cỡ hai ngón tay, thô ráp, góc cạnh lởm chởm, mặt trên in hằn một chữ "Phiến" mờ nhạt đến mức phải nhìn kỹ mới thấy. Đây là loại tiền lẻ mạt hạng nhất, lưu thông phổ biến ở vùng sơn cước này.

Với hai mảnh thác phiến cứng nhắc và lạnh lẽo này, hắn rụt rè chỉ vào một mớ rau dại xơ xác xỉn màu. Thấy thiếu niên gầy gò, quần áo phong phanh, Vân thúc thúc khẽ thở dài thườn thượt. Bàn tay chai sạn của ông nhận lấy hai mảnh đá thô ráp, ném cạch vào chiếc giỏ tre mòn vẹt. Ông gói mớ rau lại, rồi tiện tay thò xuống gầm sạp, lôi ra vài củ khoai lang đã hỏng góc, dập nát đưa thêm cho hắn.

"Rau này héo rồi, ta tính cháu một viên thôi. Cầm thêm mấy củ khoai này coi như phần tiền thối lại. Mang về mà nướng ăn thêm, sống trên đời phải có sức mới mong nhìn thấy ngày mai," Vân thúc thúc trầm giọng nói, đôi mắt xót xa nhìn bờ vai gầy của đứa trẻ mồ côi.

Từ Mặc cúi đầu, sống mũi cay cay, cẩn thận ôm lấy những món đồ ít ỏi. Cuộc sống phàm nhân bần hàn, thiếu thốn trăm bề, bị đè nén dưới sức nặng của những đồng đá đen vô tri, nhưng sự khắc nghiệt ấy dường như chưa từng làm lu mờ đi đôi mắt trong trẻo, quật cường và thâm thúy của hắn.


Buổi chiều muộn, Từ Mặc lại trở về học xá tiếp tục công việc dọn dẹp. Khi hoàng hôn rủ bóng nhuộm đỏ những đám mây nơi chân trời tựa như những vệt huyết mặc, hắn đến thư các nhận tiền lương như lệ thường. Nhưng hôm nay, sự tò mò trỗi dậy mãnh liệt, hắn bạo gan hỏi điều đã thắc mắc trong lòng bấy lâu nay:


"Tiên sinh... tại sao ngài lại thuê con quét sân mỗi ngày, trả lương bằng những viên Thác phiến trân quý, dù trong sân thực chất không bao giờ có quá nhiều lá rụng hay bụi bặm?"

Trần phu tử vuốt râu, mỉm cười sảng khoái, ánh mắt ánh lên vẻ tán thưởng sâu sắc: "Đó là vì sự giao thoa của âm thanh, con hiểu không? Tiếng chổi tre của con cộng hưởng với không gian, tạo ra một sự ngắt nhịp đúng cách, làm cho những học đồ ngồi bên trong không bị chìm vào cơn buồn ngủ mộng mị, giúp chúng tập trung hơn vào buổi giảng. Con không chỉ đang quét lá, con đang gõ nhịp đại đạo, đánh thức khí vận sinh động của chính vùng không gian này."

Nói đoạn, Trần phu tử khẽ phất tay áo rộng. Từ trong ống tay, mười mảnh Thác phiến vuông vức rơi xuống lòng bàn tay đầy vết xước của Từ Mặc. Những mảnh đá này tuy vẫn là đá đen, nhưng được cắt gọt đều đặn hơn, nét chữ 'Phiến' phía trên cũng sắc sảo, chạm vào có cảm giác nặng trĩu và phảng phất một luồng nhiệt khí thoang thoảng. Kèm theo số thù lao quý giá ấy, phu tử đặt thêm một cuốn giấy nhám thô sơ đã rách ở góc, và một cây bút thân bằng trúc sẫm màu với đầu cọ làm từ lông thú đã xơ xác.

Từ Mặc nhìn mười mảnh đá đen và hai món văn phòng tứ bảo tàn tạ, đôi bàn tay sần sùi cứ xoa vào nhau bối rối. Đối với những học đồ con nhà quyền quý, chúng chẳng đáng một xu, chỉ là rác rưởi. Nhưng với hắn, một kẻ chưa từng chạm tay vào pháp khí tu luyện, chúng lại quá đỗi thiêng liêng. Dưới ánh mắt uy nghiêm nhưng đầy khích lệ của phu tử, hắn đành cẩn thận ôm tất thảy vào lòng, rảo bước đi bộ về căn nhà đổ nát ở ngoại ô.

Đẩy cánh liếp ọp ẹp bước vào, gió lạnh lùa qua những vách đất lở lói phơi cả nan tre mục nát bên trong. Từ Mặc cẩn thận đặt bút, giấy và những mảnh thác phiến lên chiếc bàn cọc cạch. Hắn lặng lẽ châm lửa, thắp một nén hương nhỏ, cắm lên bát hương mẻ sứt trên bàn thờ cha mẹ.


Xuyên qua làn khói mỏng manh cuộn lên trong không gian tăm tối, u tịch, ánh mắt thiếu niên dừng lại ở di vật duy nhất cất trong chiếc hộp gỗ mộc—một mảnh đá ngũ sắc lấp lánh tinh quang rực rỡ, hoàn toàn trái ngược với vẻ đen đúa, thô thiển của những đồng thác phiến. Cha hắn từng là một Họa sư thiên tài ôm mộng lớn lao vươn tới tận cùng đại đạo.


Ông khao khát vẽ nên sự vận hành của tinh tú, nhưng lại bất hạnh rồi đánh mất chính linh hồn mình, vĩnh viễn chìm đắm vào "Họa mộng si chướng"—thứ ác mộng điên cuồng sinh ra từ những ảo niệm mất kiểm soát trong chính bức họa vĩ đại còn đang dang dở của bản thân. Khi cha hắn ra đi, cả thể xác lẫn tâm trí tản mác vào hư vô, chỉ để lại mảnh đá ngũ sắc chói lọi ma mị này.


Ánh sáng rực rỡ, đa sắc của nó hắt lên khuôn mặt gầy guộc, xanh xao của Từ Mặc, khiến hắn chìm vào một sự trầm lặng tột cùng. Cổ họng hắn nghẹn đắng, chẳng biết nói gì với những người đã khuất giữa không gian u hoài, mòn mỏi. Đêm đã về khuya, vạn vật chìm vào giấc ngủ, không gian thanh vắng tĩnh mịch chỉ còn tiếng dế kêu rả rích dưới chân tường.


Sau khi lót dạ bằng mấy củ khoai nướng sượng được đổi từ Vân thúc thúc, Từ Mặc mang cuốn giấy nhám và cọ trúc ra. Hắn múc một chậu nước nhỏ mẻ miệng đặt bên cạnh. Không có thứ hắc mặc đắt tiền, cũng chưa đủ năng lực tu vi để mượn vạn vật làm mực như lời phu tử dạy, hắn lóng ngóng dùng đầu cọ xơ xác nhúng một ít nước giếng lạnh buốt.


Hắn bắt đầu chậm rãi phác họa lên bề mặt thô ráp của giấy nhám những chữ Hán cổ mà hắn đã học lỏm được khi rình nghe bên ngoài thư các bao tháng qua. Nước ngấm vào mặt giấy thô ráp rồi bốc hơi khô đi nhanh chóng, không để lại bất cứ dấu vết hiện hữu nào, như thể nỗ lực của hắn chỉ là dã tràng xe cát, là bóng trăng hư ảo dưới đáy nước.

Nhưng Từ Mặc không hề nản chí. Ánh mắt hắn kiên định như ngọn lửa của chữ "Chí" ban sáng. Hắn không ngừng luyện tập, viết đi viết lại những đường nét nhạt nhòa cho đến tận khi màn đêm đặc quánh. Khi sự mệt mỏi của thể xác đạt đến đỉnh điểm, kinh mạch đau nhức rã rời, hắn buông bỏ mọi sự cố chấp của tâm trí. Hắn nhắm mắt lại, mường tượng lại nhịp điệu xạt xạt của tiếng chổi quét sân, thả lỏng toàn bộ huyết nhục.


Hắn để ý chí trầm tĩnh, kiên cường của mình chảy tràn qua cánh tay, truyền vào thân trúc, dung hợp làm một với giọt nước mỏng manh, khẽ khàng chạm lên mặt giấy. Lần này, giọt nước không tan đi, mà đọng lại thành một hình thù hoàn mỹ, lấp lánh phản chiếu ánh sáng của chữ "Thuỷ" (水).


Không rực rỡ bạo liệt, nét chữ bằng nước ấy chỉ lặng lẽ tồn tại, đánh dấu một sự phát triển chậm rãi, từ tốn nhưng bền bỉ, một nhịp độ cần thiết để kẻ bần hàn chốn nhân gian từng bước đặt chân lên đại đạo.

0