Chương 3: Ranh Giới Của Rừng
Đến quá nửa buổi trưa, khi ánh mặt trời đứng bóng cố sức đâm xuyên qua vòm lá rậm rạp của rừng tràm, không khí bắt đầu trở nên hầm hập như một cái lò xông hơi khổng lồ. Cái nóng không khô ráo mà ẩm ướt, mang theo chướng khí độc địa khiến hai bên thái dương Lành đau nhức ong ong.
Chiếc xuồng con đang lướt nhanh trên con kinh đen sệt rộng chừng ba sải tay phẳng lặng. Đúng lúc ấy, Lành chợt nhận ra dòng nước ngược bỗng nhiên im bặt. Phía sau đuôi xuồng khoảng mười thước, một làn gợn sóng hình chữ V ngược xuất hiện, rẽ nước lầm lụi tiến về phía họ. Hai con mắt màu vàng đục, sần sùi như hai cục u gỗ nổi lên sát mặt nước. Đó là một con sấu năm chèo khổng lồ, loại sấu nước lợ chuyên rình rập ở các ngã ba lạch để đớp lưu dân khẩn hoang.
Tim Lành đập thình thịch trong lồng ngực. Cậu định siết chặt tay chèo để lách xuồng vào bờ, nhưng ông nội đã kịp thời dùng cây gậy tre của ông gõ vào máy chèo của cậu.
Lành hiểu ý ngay. Cậu vội vươn tay bứt một vốc lớn lá tràm sà sát mặt nước, dùng hai lòng bàn tay nghiến mạnh cho đến khi nhựa xanh ứa ra, tỏa mùi hăng hắc. Cậu ném mạnh nắm lá giập xuống dòng nước ngay sau đuôi xuồng.
Cùng lúc đó, ông nội rút con dao rựa lận bên hông, dùng sóng dao gõ mạnh, dứt khoát vào phần mạn xuồng được kẹp sắt.
Chát! Chát! Chát!
Tiếng kim loại va đập khô khốc dội thẳng xuống lòng kinh, khuếch đại thành những làn sóng âm sắc bén. Con sấu khổng lồ đang lao tới bỗng chững lại. Biết không dễ xơi, nó quẫy mạnh cái đuôi sần sùi làm chiếc xuồng chao đảo dữ dội, nước đen bắn tung tóe lên ván gỗ, rồi lầm lũi lặn sâu xuống vũng bùn, mất hút.
Lành thở phào một tiếng, mồ hôi trộn lẫn nước kinh đen chảy ròng ròng xuống cằm. Ông nội lặng lẽ cất dao vào bao, chỉ tay về phía trước ra hiệu đi tiếp.
Sự xuất hiện chớp nhoáng của con sấu năm chèo khổng lồ vừa rồi chỉ là một nốt đệm cho bản nhạc sinh tồn khắc nghiệt trên dòng kinh đen. U Minh là thế, không bao giờ cho phép người ta có lấy một khắc lơi lỏng. Chiếc xuồng ba lá mỏng manh tựa như một chiếc lá khô trôi dạt, cẩn trọng luồn lách qua những khúc quanh chật hẹp, hai bên bờ rễ cây đan chéo vào nhau như những cánh tay ma quái chực vớt người đi đường.
Lành siết chặt cán dầm, lòng bàn tay rịn đầy mồ hôi hột, hai mắt căng ra như chim lợn đi săn đêm. Cậu phải vung chèo nhè nhẹ để không tạo ra tiếng động lớn, vừa khéo léo đánh lái né vội một tổ ong vò vẽ to bằng cái đấu gạo đang lủng lẳng dưới nhành bần sà sát mặt nước. Lại có những đoạn, ông nội phải dùng đầu sào tre gạt khẽ một cành khô, nơi con rắn lục đuôi đỏ mốc meo đang cuộn mình ngụy trang tàng hình ngay tầm cổ người chèo. Chỉ cần một cú quệt cành vô ý, thứ nọc độc xanh lè của nó dư sức đưa một mạng người xuống hoàng tuyền trước khi kịp thốt lên tiếng kêu cứu.
Mọi giác quan của hai ông cháu đều được căng lên mức tối đa. Họ đi vòng qua những vạt ráng rậm rạp mà bóng tối đọng lại thành từng mảng đặc quánh. Bất cứ một lùm sậy nào lay động mà không có gió, một vệt bùn lầy còn hằn nếp trượt mới toanh, hay một khúc quanh tĩnh lặng đến mức vắng bặt cả tiếng nhái kêu tộp oạp... đều khiến ông nội ra hiệu mũi sào tạt xuồng tản ra xa. Rừng già như có hàng ngàn con mắt vô hình đang lạnh lẽo dõi theo từng nhịp thở của họ.
Mồ hôi thi nhau túa ra mỗi khi Lành ngửa cổ, cố nheo mắt nhìn qua những kẽ hở hiếm hoi của vòm lá tràm đan chéo nhau như một bức rèm khổng lồ. Cậu chăm chú nhìn bầu trời thâm sì để đo đoán mây. Ở chốn rừng thiêng nước độc này, một cơn giông bất chợt dội xuống là một bản án tử. Nước mưa xối xả không chỉ làm ngập lòng ghe vướng víu, làm hỏng bọc lương khô hay làm nhòe nét mực trên tấm địa đồ da thú. Đáng sợ hơn cả, màn mưa mù mịt sẽ tước đoạt hoàn toàn tầm nhìn và thính giác, xóa sạch lớp nhựa tràm ngụy trang, biến hai ông cháu thành những con mồi trơ trọi, mù lòa giữa muôn vàn cạm bẫy đang đói khát chực chờ.
Xế chiều, bầu trời U Minh chuyển sang màu tím thẫm của một quả bần chín nẫu. Không gian quánh lại mùi tử khí khi xuồng của họ lướt qua một khúc quanh khuất gió. Bên bờ kinh, một dãy lán trại gồm bốn, năm mái nhà sàn dựng trên thân tràm hiện ra. Nhưng nơi đây không có khói bếp, chỉ có một sự im lặng chết chóc.
Đó là dấu tích hoang phế của một xóm khẩn hoang. Lành áp sát xuồng vào hàng cọc kèo nhà, kinh hoàng nhận ra những vết cào xé khổng lồ, sâu hoắm ăn vào từng thớ gỗ. Những sợi dây gùi buộc kèo bị giật đứt tung, buông thõng xuống mặt nước.
Hai ông cháu thận trọng leo lên sàn nhà. Khung cảnh bên trong khiến Lành nín thở. Lưỡi rìu sắt, rựa cùn, nồi đất vỡ vẫn nằm chỏng chơ, nhưng xương cốt con người đã vỡ vụn, chuyển màu xám mốc rải rác khắp góc tối. Cả xóm nhỏ năm hộ gia đình đã bị thú dữ ăn sạch không sót một ai.
Nhìn những mẩu xương khô nằm chỏng chơ lẫn trong vạt lông thú, ông nội bỗng dừng bước, nét mặt lộ rõ vẻ nghiêm cẩn. Ông đưa tay cản Lành lại, ra hiệu cho cậu đứng lùi về phía sau, rồi tự mình tháo chiếc nón lá cời xuống kẹp vào bên sườn. Giữa vùng rừng sâu nước độc không có hương khói, ông cúi người nhặt vài dăm gỗ tràm khô còn sót lại trên bực cửa, dùng đá lửa nhóm lên một đốm lửa nhỏ. Khói từ dăm gỗ bốc lên, mang theo vị khét ngai ngái bay bảng lảng vào những góc tối tăm, lạnh lẽo của căn láng sập.
Ông nội đứng thẳng lưng, hướng về phía mớ xương tàn. Ông trầm ngâm một lát rồi thò bàn tay thô ráp vào sâu trong lớp túi vải lận bên hông, cẩn thận rút ra một xấp tiền mã nhỏ đã úa màu, sực mùi ẩm mốc. Đây là mớ giấy tiền vàng bạc hiếm hoi mà ông luôn bọc kín trong nhiều lớp lá chuối khô, cất kỹ như một thứ bảo bối để dành riêng cho những tình huống bất trắc, ngặt nghèo nhất giữa chốn quỷ khốc thần sầu này.
Ông châm xấp tiền mã vào đốm lửa gỗ tràm vừa nhóm, ngọn lửa nhanh chóng liếm vào lớp giấy thô, tỏa ra những làn khói xám cuộn tròn, mang theo những đốm tàn tro bay lơ lửng rồi rơi xuống mớ xương tàn mục nát. Hai tay ông chắp lại trước ngực, giọng ông trầm thấp, đều đều vang lên trong không gian tịch mịch:
"Kính lạy hương linh những người khuất mặt khuất mày, anh em lưu dân xóm cũ... Hồn có khôn có thiêng, xin chứng giám cho lòng thành. Hai ông cháu tôi cũng là kẻ khốn cùng đi khẩn hoang, nay ngang qua đây thấy cảnh thương tâm, lòng không khỏi xót xa. Ngặt vì đường xa bão bùng, đồ ăn cạn kiệt, tôi xin phép được nhặt nhạnh chút gạo muối còn sót lại của anh em để hộ thân qua đoạn đường ngặt nghèo này. Mong anh em khuất mặt xá tội, không quấy không phá, phù hộ cho hai ông cháu tai qua nạn khỏi. Chuyến này nếu trời thương cho về bình an, mai sau quay lại, tôi nhất định sẽ gom góp xương tàn của anh em, đắp cho một nấm mồ tử tế."
Lành đứng phía sau cũng vội vàng chắp tay, cúi đầu sát ngực. Trong khoảnh khắc ấy, một luồng khí lạnh buốt đột ngột chạy dọc theo sống lưng cậu, mái nhà vách nứa khẽ rùng mình phát ra tiếng sột soạt như có những bước chân vô hình vừa lướt qua. Nhưng khi làn khói tràm xanh nhạt tan hẳn vào khoảng không, cái cảm giác lạnh lẽo gợn tóc gáy cũng dịu đi, để lại một sự im lặng chấp thuận của cõi âm.
Lạy xong ba lạy dứt khoát, ông nội mới khẽ gật đầu, ra hiệu cho Lành. Lúc này, Lành mới dám bước tới nhặt cái hũ gốm nhỏ vỡ miệng, bên trong còn sót lại ít lương khô bọc lá chuối... Cậu định thu dọn mấy lưỡi rìu, nhưng ông nội lắc đầu: "Nặng lắm. Để lại đó, lúc khác quay về lấy."
Đứng trên sàn nhà cao cách mặt nước hơn một trượng, Lành nhìn vết móng vuốt cọp để lại trên vách nứa, lẩm bẩm: "Con cứ nghĩ ..."
Ông nội chỉ tay vào một thân tràm lớn đứng tựa vào sàn nhà, trơ ra phần gỗ trắng hếu có những vết xước sâu hoắm: "Lán cao chưa chắc đã an toàn. Con cọp U Minh biết trèo cây khéo như mèo. Trước khi triệt hạ cái lán này, có lẽ nó đã rình rập cả tuần liền để thăm dò. Người ở đây cậy lán cao nên không quan sát, thấy dấu chân, thấy mùi hôi vẫn không chịu dời đi. Dựng lán khẩn hoang, cái đầu phải nghĩ trước con thú một bước. Phải xem kỹ vạt rừng mình chọn có phạm vào lãnh địa của 'ông ba mươi' không. Xâm lấn ranh giới của rừng, thì dù có trốn lên mây cũng bỏ mạng."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.