Quyển 1: Giang Hồ Bắt Đầu Từ Bát Mì
Chương 1: Quán Rách Giữa Trời
Thứ đầu tiên hắn nhận ra khi tỉnh dậy là mùi đất.
Không phải mùi đất thơm sau mưa, không phải mùi đất ruộng quen thuộc, mà là mùi đất khô lâu ngày tích bụi, cái loại mùi mà nếu hắn còn viết review thì sẽ ghi:
"Tầng hương ở đáy là đất hoang vu, kết hợp gió lạ và sự cô tịch, hậu vị kéo dài không tắt, không khuyến khích trải nghiệm."
Miệng hắn đắng nghét vị rượu rẻ tiền, cũng không khuyến khích nốt.
Hắn cố nhích người, cơ thể phản ứng chậm chạp như cái bếp than đêm qua chưa ai nhóm, từng khớp xương kêu lên rắc rắc theo chuỗi mà nếu là nhạc thì cũng không đến nỗi nào. Rồi hắn mở mắt, nhìn thẳng vào nền đất trước mặt.
Nền đất màu vàng nhạt, khô cứng, có vài vết nứt chạy ngoằn ngoèo. Sát mũi hắn là một chân bàn gỗ mục, bị mối ăn lâu ngày đến mức không còn rõ màu gỗ gốc là gì.
Hắn nằm im thêm vài giây, suy nghĩ rất nghiêm túc xem có cần thiết phải đứng dậy không. Rồi hắn lăn người ngồi dậy, mắt mở to ra.
Xung quanh là một khoảng trống rộng lớn, bốn bề trời đất. Hắn đang ngồi giữa một ngã tư, bốn con đường chạy dài ra bốn phía, và mỗi hướng là một cảnh tượng khác nhau theo cách khiến hắn phải chớp mắt hai lần để chắc chắn mình đang nhìn cảnh thật chứ không phải đang nằm mơ tiếp.
Phía đông núi non xanh rì, gió mang về tiếng suối chảy lăn tăn từ xa, tươi mát và sống động, trong luồng gió đó lẫn một chút mùi cỏ ướt và hoa dại mà hắn không đặt tên được. Phía tây sương mù dày đặc, màu xám xịt, lạnh và ẩm, mang theo mùi kỳ lạ như không khí bên trong một căn phòng bỏ trống rất lâu, loại mùi mà nếu là rượu thì hắn sẽ viết "có chiều sâu nhưng thiếu ấm áp." Phía nam nắng vàng cháy rực, không khí rung rinh trong cái nóng hầm hập, đường chân trời nhảy múa như đang sốt cao, mùi đất khô bốc lên nồng nàn theo kiểu vùng nhiệt đới giữa trưa. Phía bắc gió thổi hơi lạnh buốt của tuyết, mép đường mờ dần trong màu trắng đục, và hắn ngửi thấy cái mùi sạch sẽ trống rỗng của băng tuyết, loại mùi "không có mùi" mà bản thân sự vắng mặt của mùi cũng là một thứ mùi.
Bốn mùa, bốn cảnh, cùng giao nhau tại một ngã tư.
Hắn ngồi im, nhìn từ hướng này sang hướng kia một cách lần lượt và cẩn thận. Từ phía đông sang phía tây, bước chân đi bộ chắc không quá mười lăm bước, nhưng nhiệt độ thay đổi như hai miền đất cách nhau cả ngàn dặm. Phía nam nóng đến mức nhìn vào muốn uống nước, phía bắc lạnh đến mức nhìn vào muốn mặc thêm áo, và hắn đang ngồi chính giữa, trong cái khoảng giao thoa kỳ lạ mà không hướng nào thực sự thống trị. Da mặt hắn vừa ấm vừa mát cùng một lúc, nửa bên phải hơi nóng vì hướng nam, nửa bên trái hơi lạnh vì hướng bắc, cái cảm giác đó không khó chịu nhưng kỳ quặc đến mức hắn phải đưa tay sờ lên mặt mình cho chắc chắn rằng đây vẫn là một khuôn mặt chứ không phải hai cái ghép lại.
Đây không bình thường. Hắn biết rõ điều đó, cảm nhận được bằng cái phần lý trí còn hoạt động sau một đêm uống say. Không bình thường một chút nào.
Nhưng cái đập vào mắt hắn mạnh hơn lại nằm ngay sau lưng, và bộ phận quy hoạch kỳ lạ của cái ngã tư này đành xếp hàng chờ giải quyết sau.
Hắn quay lại nhìn thì thấy một cái quán. Gọi là quán cho nó sang, thực ra đó là một căn nhà nhỏ đang trong trạng thái đàm phán với trọng lực, chưa đổ nhưng rõ ràng đang cân nhắc khả năng đó mỗi khi gió thổi mạnh. Mái ngói lệch, vài viên đã vỡ để lộ kèo gỗ bên trong trông như bộ xương cá. Tường trát vôi từ thời nào đó đã ngả vàng, bong từng mảng lớn trông như bản đồ một vùng đất không ai muốn đến viếng thăm. Cái biển hiệu treo trước cửa nghiêng sang phải vì đứt một đầu dây, chữ khắc trên gỗ mờ đến mức hắn phải nheo mắt lại mới đọc được hai chữ "Vạn Hiệp".
Hắn nhìn cái biển đó một lúc. Nếu còn viết review, mục "Ngoại thất" chắc chắn là một sao. Mà một sao đó là vì nó có mái che, nửa sao cho cái mái, nửa sao cho tinh thần lạc quan của người chấm điểm.
Hắn đứng dậy, phủi bụi trên áo, bắt đầu nhớ lại mình là ai và mình đã đến đây bằng cách nào. Ký ức hiện về từng mảnh, không vội vã, như người kể chuyện biết rằng câu chuyện không hay lắm nên không cần vội vào đề.
Hắn tên là Lý Hảo Thực, hai mươi bảy tuổi, food blogger, chuyên nghề ăn rồi viết, viết rồi đăng, đăng rồi ngồi đợi người đọc. Cái tên do bà nội đặt, bà nói "hảo thực" là thích ăn ngon, đặt cho cháu để cháu cả đời không thiếu cơm ăn. Bà không lường được rằng cháu bà lớn lên đúng là không thiếu cơm, nhưng thiếu đủ thứ khác như thiếu tiền, thiếu bạn gái, và đặc biệt thiếu khả năng giữ mồm giữ miệng.
Lý Hảo Thực không giàu, không nổi tiếng lắm, nhưng đủ sống, thậm chí đủ để dưỡng thành cái tật nói thật mà không ai hỏi. Cái tật đó rốt cuộc hại hắn, cụ thể là bài review chê một quán ăn nọ vì nước dùng nhạt, thịt dai, giá cao, và thái độ phục vụ theo kiểu đang ban ân cho khách. Hắn thua kiện và mất tiền, rồi ngồi uống rượu một mình, chửi đời một mình, rồi tỉnh dậy ở đây.
Bài học rút ra ở đây là nói thật có hại cho sức khỏe. Hắn đã biết điều này từ lâu mà vẫn không học được.
Hắn thở ra một cái, nhìn bốn hướng trời một lượt cuối, rồi bước vào quán. Ít nhất ở đây chắc không ai kiện hắn. Chắc có lẽ vậy.
Bên trong tối hơn bên ngoài vì mái che khuất nắng, nhưng vài chỗ thủng trên mái để ánh sáng lọt xuống thành từng vệt nghiêng nghiêng, bụi lơ lửng trong đó trông như ai đó vừa rây bột mì rồi bỏ chạy. Mùi ẩm mốc nhẹ quyện với mùi tro nguội lạnh từ góc bếp, không nặng nề nhưng đủ để hắn biết căn phòng này đã lâu không có người lui tới. Hắn hít một hơi chậm, phân tích theo thói quen, mùi gỗ mục chiếm chủ đạo, nền là tro than cũ, không có mùi dầu mỡ hay gia vị, nghĩa là bếp này đã nguội rất lâu, không phải vài ngày mà là vài tháng, có thể vài năm.
Hắn đứng ở cửa, đưa mắt nhìn một lượt. Ba cái bàn gỗ, hai cái phải kê thêm hòn đá dưới chân vì gỗ đã mục, trông như người ngồi mà một chân ngắn hơn chân kia. Hắn đưa mắt nhìn hai cái bàn đó, trong đầu tự động hiện ra điểm trừ gồm cơ sở vật chất không đảm bảo, nguy cơ đổ sập khi có khách đặt tay lên, không đạt tiêu chuẩn tối thiểu. Tám cái ghế, năm cái còn nguyên vẹn, ba cái đã gãy được dựng vào góc tường như người bị phạt đứng. Hắn nhìn ba cái ghế gãy đó, thấy tội nghiệp không rõ lý do.
Góc trong có một cái bếp than nguội lạnh, lớp tro trắng phủ trên mặt dày đến mức không rõ lần cuối ai nhóm lửa là khi nào. Hắn với tay chạm nhẹ lên mặt tro, lớp tro xốp mịn lún xuống dưới đầu ngón tay, lạnh và khô. Nhưng bên dưới lớp tro, khi hắn ấn sâu hơn, những viên gạch nung lộ ra dưới đầu ngón tay mòn nhẵn và sạch sẽ đến lạ, như thể ai đó đã xây cái bếp này rất kỹ và đặt rất nhiều tâm huyết vào từng viên gạch. Hắn rụt tay lại, phủi tro trên đầu ngón tay, ghi nhận chi tiết đó mà chưa nghĩ gì thêm.
Trên kệ gỗ cạnh bếp có vài cái bình sành và chén sứ, phần lớn đã mẻ miệng hoặc nứt thân, một hai cái còn nguyên trông như được để dành cho dịp đặc biệt mà dịp đặc biệt chưa bao giờ xảy ra. Hắn nhấc một cái chén lên, xoay trong tay. Loại sứ trắng ngà viền xanh nhạt, kiểu dáng đơn giản nhưng cầm lên vừa tay, trọng lượng phân bổ đều, miệng chén loe nhẹ đủ để húp canh không bị tràn. Ai làm cái chén này biết rõ người dùng sẽ dùng nó để ăn chứ không phải chỉ để trưng cho đẹp.
Hắn đặt chén xuống, mở cửa bếp nhìn vào kho nguyên liệu.
Một bao gạo nhỏ, chưa đến nửa bao, màu đã ngả sang vùng nghi vấn. Hắn cúi xuống ngửi thì phát hiện mùi gạo cũ lẫn với mùi mốc nhẹ, chưa hỏng hẳn nhưng đã qua thời đỉnh cao rất lâu rồi, kiểu mà nếu gạo là người thì đây là gạo đã nghỉ hưu. Một hũ muối, hắn mở nắp, bốc một nhúm đưa lên lưỡi nếm thử, mặn đều và sạch, không lẫn tạp chất, muối biển phơi nắng đúng cách. Ít nhất muối thì dùng được. Vài củ hành héo quắt đến mức hắn phải nhìn hai lần mới nhận ra là hành chứ không phải thứ gì khác, vỏ ngoài khô cong, ruột bên trong chắc chỉ còn sót lại chút nước cuối cùng đang cố bám trụ.
Và dưới gầm bếp có một con dao bếp cũ, lưỡi xỉn màu nhưng cầm lên thấy ngay còn dùng được, cán gỗ bọc vải đã sờn, vừa tay một cách kỳ lạ, như cái dao được làm ra cho bàn tay này chứ không phải tình cờ nằm ở đây. Hắn lật lưỡi dao lên, soi dưới ánh sáng lọt qua mái, thấy lưỡi dao tuy xỉn nhưng không gỉ, thép còn tốt, mài lại là dùng được ngay. Kiếp trước hắn dùng dao Nhật, dao Đức, dao ceramic đủ loại, không con nào cầm lên có cảm giác "đúng tay" như con dao cũ mèm này.
Hắn đặt dao xuống, nhìn lại kho nguyên liệu một lần nữa.
Gạo mốc, muối và hành héo. Với ba thứ này, hắn có thể nấu ra được cháo trắng loại dở, cháo trắng loại rất dở, và cháo trắng loại thà không ăn còn hơn nhưng lại ăn vì không có lựa chọn nào khác. Đây là toàn bộ thực đơn hiện tại của Vạn Hiệp Tửu Lâu. Nếu viết review cho kho nguyên liệu này, hắn sẽ ghi:
"Đa dạng: không. Tươi: không. Khả năng phục vụ khách: về mặt lý thuyết thì có, về mặt thực tế thì nên hỏi lại."
Hắn đứng yên trong bếp, nhìn hũ muối, để cảm giác đó ngấm vào một lúc. Sau hai mươi mấy năm ăn và viết về ăn, hắn bắt đầu lại từ gạo mốc và hành héo. Vũ trụ có khiếu hài hước, hắn phải thừa nhận điều đó.
Lý Hảo Thực, food blogger từng viết bốn ngàn chữ chê một tô mì vì hành lá thái không đều, giờ đứng trong một cái bếp lạnh giữa chỗ không tên, nhìn vài củ hành héo quắt mà thấy thương chúng nó hơn thương mình.
Hắn đi ra ngoài vì đứng nhìn hũ muối lâu cũng không giải quyết được gì. Góc phải quán có một tấm gương đồng cũ treo trên tường, kích thước bằng nửa tờ giấy lớn, mặt gương xỉn màu có vài đốm đen li ti điểm trên bề mặt. Hắn bước lại gần, nhìn vào. Người nhìn lại hắn là một thanh niên lạ hoắc. Khuôn mặt trẻ hơn hắn nhớ, chắc khoảng hai mươi mốt hai mươi hai tuổi, xương hàm cao, da hơi ngăm, tóc đen buộc ra sau gáy. Người gầy, xương quai xanh lộ ra một chút trên cổ áo, môi nhợt nhạt, trên má phải có vết đất chưa kịp phủi. Hắn giơ tay phải lên, người trong gương giơ tay theo, rồi hắn vẫy thử một cái, người trong gương đáp lại lịch sự đúng mức, không thêm không bớt.
Nhưng đôi mắt trong gương thì quen đấy. Mệt mỏi, hơi trống rỗng, cái kiểu mắt của người hay thức khuya và hay nghĩ chuyện không đáng nghĩ. Đôi mắt đó là của hắn, dù khuôn mặt là của ai khác.
Hắn quan sát thêm một lúc, rồi nhận xét thành thật rằng ít nhất cơ thể này gầy hơn kiếp trước. Coi như thành công giảm cân mà không tốn tiền, không cần nhịn ăn, không cần tập gì cả, chỉ cần xuyên không một lần là xong. Phương pháp này hắn không khuyến khích vì điều kiện tái hiện rất khó, nhưng kết quả không thể phủ nhận.
Hắn quay đi, bước ra cửa. Bên ngoài gió từ phía đông thổi vào, mang theo mùi cỏ xanh và núi rừng ẩm mát, qua cửa quán lan ra thành một làn hơi nhẹ nhàng đủ để làm dịu cái đầu đang nhức. Hắn vươn tay sờ vào góc tấm biển gỗ "Vạn Hiệp" treo nghiêng bên cửa, định xem sợi dây đứt có thể buộc lại bằng gì.
Chỉ một thoáng, có lẽ không đến một giây, mặt gỗ ấm lên dưới lòng bàn tay, nhẹ và nhanh, như một đốm than sắp tắt vừa bùng lên rồi lụi ngay lập tức. Hắn chớp mắt, nhìn lại tấm biển, chữ "Vạn Hiệp" vẫn mờ nhạt như cũ, không có gì khác.
Chắc là hoa mắt vì đói, hắn nghĩ vậy và thấy hợp lý. Hắn thả tay, quay vào trong, ngồi xuống cái ghế duy nhất còn nguyên vẹn trong quán. Sàn gỗ kẽo kẹt dưới trọng lượng hắn, âm thanh như lời phản đối nhẹ nhàng của một vật thể đã chịu đựng đủ thứ và đang cân nhắc xem có nên chịu đựng thêm không.
Hắn ngồi im, nhìn ra ngã tư bốn hướng, lần lượt điểm qua những thứ mình có. Một cái quán cần sửa ít nhất năm chỗ, một bao gạo mốc, một hũ muối, một bó hành héo, và một con dao bếp cũ vừa tay đến lạ. Không tiền, không khách và không biết mình đang ở chỗ nào trong cái thế giới này. Ngoài việc bốn hướng xung quanh đang hiển thị bốn mùa khác nhau cùng lúc, điều mà hắn quyết định sẽ suy nghĩ tiếp sau khi giải quyết xong vấn đề bao gạo mốc.
Ưu tiên. Hắn luôn là người biết sắp xếp ưu tiên.
Hắn nhắm mắt lại, ngồi im nghe tiếng gió từ bốn hướng thổi vào nhau rồi tan ra giữa ngã tư, tiếng sàn gỗ khẽ co giãn theo nhiệt độ, tiếng con gì đó rất nhỏ chạy trên mái ngói rồi dừng lại đột ngột như nhớ ra mình có việc khác cần làm.
Rồi một giọng nói vang lên trong đầu, bình tĩnh và rõ ràng, như người quen lâu ngày vừa kéo ghế ngồi xuống bên cạnh mà không cần gõ cửa:
"Hệ thống Vạn Hiệp Tửu Lâu đã kích hoạt. Chào mừng chủ quán."
Hắn ngồi im, đếm được ba nhịp thở trước khi mở miệng.
"Chủ quán."
Hắn lặp lại khẽ khàng, giọng bằng phẳng như người vừa nhận được hóa đơn lớn hơn dự kiến nhưng không đến mức bất ngờ hoàn toàn. Lý Hảo Thực, hai mươi bảy tuổi, food blogger thất nghiệp, kiếp trước thua kiện vì chê quán, kiếp này tỉnh dậy được phong chủ quán. Nhân quả rõ ràng, vũ trụ thật sự có đọc hồ sơ của hắn trước khi phân công.
Bên ngoài, gió phía đông lại đổi chiều, thổi vào cửa quán mang mùi cỏ xanh và núi rừng, lay nhẹ sợi vải sờn trên cán dao bếp dựng ở góc bếp nguội.
Hắn mở mắt, nhìn vào khoảng tối bên trong quán, nhìn ba cái bàn gỗ mục và tám cái ghế mà ba cái đã gãy, nhìn cái bếp than chưa nhóm và cái kệ gỗ với những cái chén sứt mẻ được để dành cho dịp đặc biệt.
Thôi được rồi. Trước mắt phải nghĩ đến chuyện nấu gì từ gạo mốc và hành héo đã.
Được yêu thích bởi: Tiên Nữ Say Xỉn
Thảo luận
Bình luận chương
1 bình luận
Tiên Nữ Say Xỉn
08/06/2026 22:13
Chủ đề và cách tiếp cận mới: Người ta hay nói về đại hiệp đi ăn xong đập bàn phá quán rồi tung chiêu bay vèo một cái qua cửa sổ, mất tích. Nhưng không mấy người hỏi thăm cái quán ăn đó và người chủ quán có ổn không. Vì vậy, hôm nay chúng ta có tửu lầu "Vạn Hiệp" :v Dù thực đơn original chỉ có 3 cấp độ dở của cháo nấu từ gạo mốc và hành héo, nhưng thân là một thằng đàn ông có hệ thống trong người, chủ quán tuyên bố: hắc điếm, Tân Long Môn gì đó không có tuổi! (Ta nhét chữ cho tác giả đó :v)