Chương 2: Đêm Cát Bóng
Căn phòng chìm trong bóng râm ẩm mốc. Những dải nắng rát bỏng xuyên qua khe cửa gỗ đã dịch chuyển, kéo thành những vệt xiên dài xám xịt trên nền đất nện. Aren dụi mắt ngồi dậy, cơn đói cồn cào trong xương tủy đã tiêu biến, nhường chỗ cho một cảm giác trống rỗng nhẹ bẫng. Cậu với tay định lấy bát nước trên kệ bếp, nhưng chuyển động đột ngột khựng lại giữa chừng.
Qua khe cửa hẹp, một con mắt màu vàng hoang dại đang chằm chằm nhìn vào trong. Đồng tử của nó thu dọc đứng thẳng, không hề chớp mi, bất động ngay tầm mắt của một người trưởng thành. Tim Aren thót mạnh, bàn tay múp míp run lên bần bật.
Cậu lao phắt ra cửa. Then gỗ bật mở, cánh cửa đập mạnh vào vách tường. Một trận gió lốc tạt thẳng vào mặt mang theo mớ cát vàng rát buốt làm cậu phải nheo mắt giơ tay che chắn. Đến khi hạ tay xuống, khoảng sân trước nhà đã trống trơn, chẳng có bóng người hay dấu chân nào sót lại trên nền cát mịn.
Giữa khoảng không chỉ còn một chiếc lá khô quắt màu vàng úa đang xoay tròn rồi đáp xuống ngay ngạch cửa. Chính giữa phiến lá xuất hiện một đốm nâu tròn xoe, trùng khớp với vị trí vệt nắng chiếu qua khe cửa lúc nãy. Aren đăm đăm nhìn chiếc lá rồi ngước mắt quét qua khoảng sân vắng lặng, lồng ngực vẫn phập phồng thở dốc. Cậu tự trấn an rằng đó chỉ là một chiếc lá rơi rụng do trò đùa của bóng nắng và gió sa mạc.
Thế nhưng trận lốc vừa rồi mang cái lạnh lẽo dị thường, hoàn toàn khác cái nóng hầm hập của buổi trưa sa mạc. Gió ngấm mùi đá ướt từ những hang sâu thẳm dưới lòng mỏ quặng, thứ mùi ẩm mốc cũ kỹ làm mớ tóc gáy cậu dựng ngược vì ớn lạnh. Cậu cúi người định nhặt phiến lá lên xem xét, nhưng ngón tay vừa chạm vào, xác lá đã vỡ vụn thành mớ bụi vàng rồi bị gió cuốn đi mất dạng. Sức nóng khô khốc của gió trưa lập tức ùa trở lại bao vây lấy ngôi nhà.
Cậu đóng sập cửa, lòng dạ vẫn bồn chồn không yên. Nghĩ bụng đầu óc mình vừa mụ mị đi vì cơn đói trưa nay, cậu nằm vật trở lại phản tre, nhắm mắt chìm vào giấc ngủ mê mệt.
Tiếng giày da nện lộc cộc trên sỏi cát cùng giọng bàn tán rì rầm của phu mỏ tan ca chiều dội vào phòng làm Aren giật mình tỉnh giấc. Bụi cát vẫn còn vướng đầy trên môi, dư vị chát nhạt của mẩu ấn thạch trưa nay đã tan hết từ lâu. Cậu nằm nán lại một lúc, đăm đăm nhìn lên trần nhà gạch bám đầy lớp muội than đen kịt vì khói bếp suốt nhiều năm qua.
Cậu đẩy cửa bước ra ngoài, ánh hoàng hôn đỏ sậm như máu nhuộm chín bầu trời, cái oi bức của sa mạc chẳng những không giảm mà càng thêm ngột ngạt. Aren múc nước từ thúng gỗ đổ vào nồi đất, thành thục nhóm lửa bắc bếp nấu cháo. Cậu vẫn nấu món cháo thịt khô quen thuộc vì ông nội răng yếu, khó nhai vật rắn. Mấy mẩu thịt khô treo trên gióng tre trong nhà chẳng còn lại bao nhiêu, cậu thầm tính ngày mai phải ra quầy bà Mary hỏi xem tuần này có ai mổ gia súc để mua thêm. Cậu ném vài viên muối thô vào nồi rồi trút nhúm gạo đã vò sẵn từ ban sáng vào.
Tiếng bước chân chậm rãi, nặng nề từ con đường cát đá bên ngoài vang lên rồi rẽ vào sân. Ông đã về.
Bóng ông Ken kéo dài ngoằn ngoèo trên nền cát đỏ, vai vác chiếc cuốc sắt mòn vẹt, tấm áo vải thô đẫm mồ hôi bám đầy một lớp bụi quặng sẫm màu, mỗi bước đi lại làm rơi rớt vài hạt cát nhỏ. Ông gác cuốc vào góc tường, lột cái áo sũng nước rồi đá văng đôi dép da quen thuộc, mệt mỏi ngồi sụp xuống chiếc ghế gỗ ngoài sân, lặng lẽ nhìn bầu trời hoàng hôn một lúc rồi mới quay sang bảo cháu trai: "Hôm nay ông đào được một viên ấn thạch."
"Vậy à." Aren đáp gọn.
Việc phu mỏ đào trúng ấn thạch sơ cấp diễn ra khá thường xuyên ở Redfall, trung bình mỗi tuần một hai viên, hôm nay ông chỉ là may mắn hơn những người khác một chút. Năm năm trước, đào được một viên sơ cấp là chuyện kinh động cả làng, dân phu bàn tán rôm rả suốt ngày đêm. Nhưng bây giờ mọi chuyện đã khác, số người chết tăng lên thì lượng ấn thạch lộ thiên cũng nhiều hơn, như thể một sự cân bằng tàn nhẫn và kỳ lạ của vùng sa mạc này khi họ đào sâu vào tận vùng lõi trung tâm mỏ.
Khóe môi Aren hơi nhếch lên thay cho lời chúc mừng. Cậu ngồi xổm chỉnh lại ba viên đá kê dưới nồi đất cho bớt chông chênh khi ngọn lửa bùng lên liếm quanh đáy nồi, sau đó đứng dậy rót một bát nước mát mang đến chỗ ông ngồi.
Cạnh sân có tảng đá rộng phẳng, cậu đưa nước cho ông rồi ngồi xuống bên cạnh. Hai ông cháu im lặng ngồi chếch bóng dưới ánh hoàng hôn vàng vọt. Tiếng ruồi nhặng vo ve lẫn trong tiếng cười nói, chửi bới của các gia đình xung quanh vọng lại, những hạt bụi mịn nhảy múa trong vệt nắng tàn. Ở gian nhà bên cạnh, đứa trẻ nào đó đang khóc lè nhè đòi ăn, mùi thịt cừu nướng bốc lên từ một góc sân khác, có vẻ hôm nay có nhà phu mỏ nào đó trúng mánh lớn. Ngửi thấy mùi mỡ nướng béo ngậy, bụng Aren lại réo lên một tiếng nhỏ.
Ông ngồi nghỉ một lúc rồi lầm lũi đi vào nhà. Aren bước theo sau, lặng lẽ nhìn ông mở túi vải đếm lại số ấn thạch tích góp. mười ba viên nguyên vẹn và một viên vỡ nham nhở, kích thước của viên vỡ rõ ràng nhỏ hơn hẳn so với lần đếm ngày hôm qua. Ông rút từ thắt lưng ra viên sơ thạch mới tinh vừa đào được thả vào trong túi, khẽ liếc nhìn mẩu đá vỡ rồi kéo dây buộc chặt lại. Ông quay sang nhìn thẳng vào mắt cháu trai, dặn kỹ: "Nhớ tuyệt đối đừng để ai thấy."
"Cháu biết rồi ạ." Aren gật đầu.
Câu dặn quen thuộc lặp đi lặp lại qua mỗi bữa tối đến mức như lời hỏi thăm sức khỏe của hàng xóm, nhưng lần nào nghe lòng cậu cũng thắt nhẹ một cái đầy mơ hồ ở nơi ngực trái, nơi cậu chưa biết gọi tên. Cậu tiến lại gần trút nốt phần gạo vò vào nồi cháo đang sôi. Ông ngồi lên phản tre, hai ngón tay sần sùi vân vê lá thuốc thành cuộn một cách thuần thục. Aren chọn một thanh củi nhỏ đang cháy mang lại gần để ông châm thuốc. Ông rít một hơi dài, khục khặc ho vài tiếng rồi phả ra làn khói xám đục hòa lẫn vào khói bếp, bay thẳng lên trần nhà.
Aren chủ động mở lời phá vỡ sự im lặng: "Gần trưa nay có người chết, là ông Silas."
"Ừ, gã ngồi một mình ngoài rìa mỏ, chẳng ai thấy để mà cứu kịp." Ông Ken ngừng tay một chốc rồi nói tiếp, "Sau này đừng đi đâu một mình, lũ sói cát này chỉ rình rập những kẻ đơn độc, nếu đi đông người mang theo cuốc xẻng thì chẳng có gì phải sợ."
Aren khẽ gật đầu. Cậu biết rõ chú Mor đến giờ vẫn bặt vô âm tín. Sáng nay lúc đứng cạnh giếng nước phía Đông, cậu đã nghe lỏm được hai tên thôn vệ bàn tán, một đứa thắc mắc gã đi tuần đêm qua hướng bắc sao giờ chưa thấy xác, đứa kia chỉ biết lắc đầu bất lực.
"Anh Hark sáng nay chạy đi đâu vội lắm," Aren nói, "hình như là hướng bắc đi tìm chú Mor."
Ông Ken không đáp lời ngay. Ông đăm đăm nhìn ra ngoài cửa gỗ hướng về phía vành đá thấp nơi con đường tuần đêm vắt qua, lát sau mới thở dài trầm giọng: "Khổ thân thằng bé."
Aren không gặng hỏi chuyện của Mor nữa, một thôn vệ đi tuần đêm không về là chuyện ai cũng tự hiểu bản chất tàn khốc của nó. Cậu vừa chỉnh lại thanh củi vừa hỏi: "Sao dạo này nhiều ấn thú mò vào thôn thế ông?"
"Dấu hiệu ấn thạch trung cấp sắp lộ thiên rồi, lần nào cũng vậy, thứ đó là mỹ vị đối với bọn ấn thú. Khứu giác của chúng nhạy lắm, đánh hơi thấy dao động của trung thạch từ khoảng cách rất xa. Lần lão Tôn đào trúng viên trung cấp năm xưa, lũ sói cũng đến lảng vảng quanh làng suốt, lúc đó cháu còn quá nhỏ nên không nhớ được."
"Còn lần này thì sao ạ?"
"Lần này là lần thứ tư. Một cái thôn mỏ rách nát như Redfall mà ba năm xuất hiện một viên trung cấp là phước phận lớn, nhưng phước phận kiểu này thì không phải ai cũng giữ mạng để hưởng được."
Câu cuối ông hạ giọng cực nhỏ, hệt như đang tự lẩm bẩm với chính mình. Aren im lặng, không hỏi tiếp. Ông Ken đưa mắt nhìn đứa cháu trai, ngắm nghía khuôn mặt tròn trịa, cái nọng cằm dày cùng bàn tay múp míp và cái bụng phệ không cách nào giấu nổi dưới lớp áo vải thô.
Nồi cháo bắt đầu sôi lục bục, tỏa ra mùi thịt khô thơm phức. Aren cầm đũa quấy đều, lòng đầy lưỡng lự trước câu hỏi cậu đã chôn giấu trong họng suốt mấy tháng qua mà chưa dám mở lời: "Ông?"
"Gì?"
"Sao cháu ăn ấn thạch lại không bị làm sao, không chết mà cũng chẳng có biểu hiện gì đặc biệt?"
Aren vẫn nhớ như in năm mười một tuổi, chính mắt cậu chứng kiến một đứa trẻ bốn tuổi trong làng vô tình lượm được viên sơ thạch rồi bỏ vào miệng cắn. Ngay sau đó, thằng bé ngã vật ra đất, máu tươi từ thất khiếu trào loang lổ trước khi mẹ nó kịp chạy về khóc lóc thảm thiết. Từ khoảnh khắc đó, cậu biết bản thân mang một thể trạng dị biệt, và may mắn là bí mật này chỉ có ông biết.
Ông Ken trầm ngâm hồi lâu rồi chậm rãi nhả chữ: "Ông... không biết nữa." Ông gằn giọng tiếp, "Cháu hỏi câu này quá nhiều lần rồi, tuyệt đối đừng bao giờ tự tiện hé môi với bất kỳ ai khác. Nếu để kẻ ngoài biết cháu ăn được ấn thạch, tai họa sẽ ập xuống ngay lập tức."
"Cháu sẽ bị bắt đi như lũ ấn thú, hay là bị giết?"
"Tệ hơn thế, người ta sẽ mổ xẻ cơ thể cháu ra để xem bên trong chứa thứ gì."
Aren đứng chết trân tại chỗ, tay vẫn cầm chiếc đũa cả quấy cháo. Nồi cháo bùng sôi dữ dội hất tung những bọt khí lớn nhưng cậu chẳng còn tâm trí để nhận ra. Ông Ken khục khặc ho khan một tràng dài, giọng đặc đờm: "Cơ mà chắc không đến mức ấy đâu, năm năm qua ông thấy cháu vẫn là thằng Aren mập mạp của ông đấy thôi." Điệu cười của ông khô khốc, cố xua tan nỗi sợ hãi đang đè nặng lên vai đứa cháu, hoặc giả là chính nỗi bất an trong lòng ông.
Nồi cháo sùng sục to lửa, Aren gạt bớt củi nến rồi đặt đũa xuống cạnh bếp. Cậu chậm rãi đứng thẳng người, quay mặt về phía phản tre nơi ông đang ngồi: "Cháu nghĩ kỹ rồi."
Ông Ken không nhìn cậu, vẫn tựa lưng vào vách nhả khói lên trần nhà gạch.
"Cháu muốn rời khỏi thôn."
Tiếng cháo sôi vẫn rền rĩ trong gian bếp hẹp. Ngoài sân, đứa trẻ nhà bên đã thôi khóc lóc. Khói thuốc lá của ông Ken bay chậm lại, đọng giữa không trung lắng nghe. Lâu lắm rồi Aren mới thấy ông nhìn mình bằng ánh mắt xoáy sâu và nghiêm túc đến vậy, như muốn dò xét xem cậu có đang bốc đồng hay không. Ông lại rít một hơi thuốc sâu: "Để làm gì?"
"Cháu không biết, cháu cảm thấy mình không hợp ở đây." Cậu nhìn xuống đôi bàn tay múp míp và cái bụng quá khổ của mình, "Và cháu muốn đi tìm cha mẹ. Ông bảo họ bỏ cháu lại đây từ năm ba tuổi rồi biến mất, cháu muốn tìm họ để hỏi rõ lý do tại sao."
Ông Ken bập bập đầu điếu thuốc cho rụng tàn, không trả lời cũng không nhìn cậu. Ánh mắt ông dốc thẳng qua ô cửa gỗ hướng về dải sa mạc mênh mông ngoài kia, nơi chỉ toàn cát hoang hoại.
Ký ức của ông trôi ngược về trận bão cát-bóng năm xưa tạt qua thôn Redfall, cái ngày mà tất cả dân làng phải chui rúc trốn dưới hầm mỏ hoặc trong các ngôi nhà gạch kiên cố vào tháng cuối năm. Trận bão mang theo thứ bóng tối đậm đặc nuốt chửng bầu trời như đêm đen, cát bụi bay sát mặt đất khiến người ta không thể nhìn rõ vật thể cách mình năm bước chân.
Lúc ấy, ông Ken ngồi một mình trong nhà gạch bên ngọn đèn dầu tù mù, vợ ông đã mất vì bạo bệnh từ vài năm trước, con trai độc nhất thì chưa về từ mỏ quặng. Tiếng gió rít gầm rú ngoài mái hiên, đập vào cửa gỗ liên tục bôm bốp. Giữa trận cuồng phong cát-bóng, bỗng có tiếng gõ cửa vang lên, ba tiếng gõ đều đặn có khoảng nghỉ rõ ràng chứng tỏ là con người. Ông Ken nghe và biết.
Ông hé mở cánh cửa, hai bóng người trùm khăn đen kín mít lập tức len vào, kéo theo một luồng cát bụi mù mịt trước khi cửa được đóng sập lại. Ngọn đèn dầu rung lắc dữ dội suýt tắt rồi mới tụ lửa trở lại. Mùi máu người tanh nồng, chưa kịp khô xộc thẳng vào mũi ông.
Người đàn bà lên tiếng trước, giọng nghẹn lại sau lớp khăn thô nhưng vẫn lộ vẻ cảm kích vì ông đã mở cửa cứu mạng, nói có chuyện muốn nhờ vả. Người đàn ông đứng sừng sững phía sau im lặng tuyệt đối. Ông quan sát kỹ lưỡng cặp nam nữ lạ mặt tầm ngoài hai mươi tuổi, vóc dáng họ cao ráo, áo choàng đen bám đầy máu đỏ tươi nổi bật trên màu vàng của cát bụi loang lổ. Bàn tay gã đàn ông giấu sau vạt áo choàng dường như đang đặt trên cán vũ khí, còn người đàn bà thì ôm khư khư đứa trẻ trong lòng.
Người đàn bà cẩn thận đặt đứa trẻ bọc kín lên bàn gỗ, kéo lớp vải che mặt ra, lộ ra khuôn mặt của đứa bé tầm ba bốn tuổi. Gã đàn ông thò tay vào ngực áo lôi ra một bọc vải thô, đặt nhẹ ba viên đá lên mặt bàn ngay cạnh đứa trẻ. Ánh sáng phát ra từ chúng hoàn toàn dị biệt so với loại sơ thạch ông Ken thường đào được suốt ba mươi năm qua, những đường vân xoáy sâu chuyển động tinh tế vào tâm chứng tỏ đó là ba viên ấn thạch trung cấp.
"Có thứ đang truy đuổi chúng tôi," người phụ nữ nói, giọng run rẩy nhưng câu chữ rành rọt, "không thể đem nó theo được nữa. Chúng tôi sẽ quay lại, hoặc không bao giờ."
Họ cúi người thay cho lời tạ ơn rồi nhìn lão phu mỏ bằng ánh mắt gửi gắm trọn vẹn tin tưởng. Đôi mắt người đàn bà màu nâu, mí mắt lộ rõ sự mệt mỏi nhưng ánh nhìn vô cùng cương quyết, giao đứa trẻ cho ông giữa trận bão sa mạc mù mịt như thể giao cho người thân thuộc ruột thịt duy nhất còn lại. Ông Ken nhìn ba viên trung thạch rồi nhìn đứa bé đang giương đôi mắt to tròn nhìn mình, không hiểu sao lão lại gật đầu rồi bế đứa trẻ lên. Thằng bé không hề khóc lấy một tiếng. Cặp nam nữ lạ mặt nhìn ông với vẻ cảm kích rồi xoay người bước thẳng ra ngoài bão cát, chủ động đóng chặt cửa gỗ bảo vệ ngôi nhà. Bóng dáng họ nhanh chóng chìm vào màn cát-bóng dày đặc.
Ông Ken đứng lặng giữa nhà gạch, đứa trẻ nằm trên tay nặng hơn vẻ ngoài rất nhiều, sức nặng dị thường không thuộc về một đứa trẻ người phàm. Đứa bé mệt mỏi khép mi mắt rồi ngủ thiếp đi trong vòng tay ấm áp của ông. Lần đầu tiên kể từ ngày vợ mất, ngôi nhà gạch này mới có thêm một nhịp thở sinh tồn. Thế rồi mười hai năm trôi qua, họ không bao giờ quay trở lại. Kể cả khi chứng kiến Aren cắn nuốt viên ấn thạch năm mười tuổi, ông dẫu hoảng sợ tột cùng vẫn chọn cách chôn chặt bí mật ấy trong lòng.
Dứt khỏi mạch ký ức, ông Ken đăm đăm nhìn Aren: "Chuyện này ông đã nói từ trước rồi."
"Vâng, cháu hiểu, nên cháu mới muốn đi tìm họ. Với cả, cháu cũng muốn giúp ông tìm anh Ren nữa."
Ông kinh ngạc ngẩng lên, Aren nói tiếp: "Thỉnh thoảng lúc nửa đêm ông ngủ say, cháu vẫn nghe ông gọi tên anh ấy."
Bàn tay già nua của ông Ken run lên bần bật, nắm chặt rồi lại thả lỏng hai lần để ghìm lại cơn xúc động, sau đó mới đưa điếu thuốc lên môi rít một hơi dài. Ông không nhìn cháu trai, ánh mắt dán chặt vào góc sàn nhà đằng kia, nơi mà hai năm sau ngày tiếp nhận Aren, con trai ông đã ngồi đó vào một đêm cuối thu, khẳng định rằng ba viên ấn thạch trung cấp kia quá quý giá để chôn vùi ở cái xóm mỏ Redfall này. Nó muốn lên trấn tìm thầy dạy để trở thành một ấn sư thực thụ.
"Nó cầm theo ba viên trung thạch đó rời đi với giấc mộng ấn sư. Là cha của nó, ông hiểu và không trách móc, nhưng mười năm rồi nó chẳng thèm quay lại nhìn cái nhà này một lần." Ông trầm giọng, "Lúc đi nó mới mười sáu tuổi, lớn hơn cháu bây giờ một chút thôi."
Aren ngồi im phăng phắc, đây là lần đầu tiên cậu được nghe ông kể chi tiết đến vậy.
"Hồi đầu nó còn gửi thư theo các thương đoàn, mỗi năm một lá, sau thì hai năm một lá, rồi bặt tăm luôn."
"Lá thư cuối cùng anh ấy viết gì ạ?" Aren hỏi nhỏ.
Ông Ken im lặng rít thêm một hơi thuốc lá, tàn đỏ rực lên rồi lụi tắt: "Nó bảo đã trở thành ấn sư và đang đi làm nhiệm vụ bên ngoài, khi nào ổn định sẽ về đón ông. Bốn năm rồi không có thêm tin tức gì nữa."
Aren vươn bàn tay múp míp nắm chặt lấy bàn tay khô héo, nổi đầy gân guốc và ố vàng vì khói thuốc của ông: "Cháu sẽ tìm được anh Ren và bảo anh ấy về thăm ông."
Bàn tay già nua khẽ run nhẹ dưới sức ấm từ tay đứa cháu trai. Da khô, gân nổi, móng đã ố vàng vì khói thuốc nhiều năm. Bàn tay này đã bồng bế cậu từ năm ba tuổi, đã liều mạng kéo cậu ra khỏi cửa hầm sập năm mười ba tuổi, và đã đào bới ba mươi năm sỏi đá ở Redfall để nuôi cậu khôn lớn. Cậu siết nhẹ, không nói thêm lời nào nữa. Ông khẽ xoa đầu cậu.
Bữa tối dọn ra, chỉ có nồi cháo loãng lẫn vài mẩu thịt khô vụn nhưng hai ông cháu ăn rất ngon lành. Họ mỗi người ngồi một góc phản tre lặng lẽ húp cháo, không ai mở miệng nói thêm câu nào. Ngọn đèn dầu được thắp lên sớm hơn thường lệ vì cuộc trò chuyện kéo dài đã khiến bóng tối ập xuống sa mạc nhanh chóng. Lớp mỡ cừu trong cháo nổi váng mỏng, Aren cố ý múc hết phần thịt vụn vào bát của ông vì lão răng yếu, cần nhai chậm rãi.
Hai chiếc bát cạn dần, tiếng thìa cào vào đáy gốm nghe ngắn ngủi và sạch sẽ. Ăn xong, ông ngả lưng xuống phản tre, quay mặt vào vách tường gạch. Aren biết ông chưa ngủ ngay bởi nhịp thở vẫn còn dồn dập, nhưng ông chọn im lặng.
Cậu dọn dẹp bát đĩa mang ra khoảng sân ngoài để cọ rửa. Trong hai thúng gỗ, một cái đã rỗng không, cái còn lại cũng vơi gần hết, sáng mai cậu sẽ phải thức dậy sớm để gánh đầy nước. Tảng đá phẳng dưới sân vẫn còn giữ lại hơi ấm sót lại sau một ngày dài phơi nắng gắt. Cậu ngồi xổm trên tảng đá nhỏ, dùng bàn tay múp míp rửa sạch đống bát nồi và thìa gỗ.
Bầu trời đêm sa mạc đầy rẫy những dải bụi sao lác đác, trong vắt và không một gợn khói thành thị, tinh tú dày đặc như những hạt cát trắng vãi tung tóe trên một tấm vải nhung đen tuyền. Bóng tối đậm đặc bao trùm lấy toàn bộ thôn Redfall, và từ dải hoang mạc xa xăm ngoài kia, thỉnh thoảng lại vọng về tiếng sói rú nghe lạnh lẽo thấu xương. Tiếng đầu tiên còn ở tận rìa đá xa tắp, tiếng thứ hai vang lên đã kéo lại gần hơn một chút.
Aren rửa nốt chiếc thìa gỗ cuối cùng rồi đứng dậy, bưng chồng bát đĩa sạch bước vào trong nhà. Ông Ken lúc này đã chìm vào giấc ngủ thật sự, tiếng thở đều đặn và kéo dài của một người già kiệt sức sau một ngày dài đào bới sỏi đá. Aren nằm xuống chiếc phản đối diện, đăm đăm nhìn vào khoảng tối trên trần nhà gạch nung, nơi suốt mười hai năm qua chưa từng có một sự thay đổi nào.
Hai ngày nữa thương đoàn sẽ đặt chân đến thôn mỏ này.
Được yêu thích bởi: Kovitel
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.