Chương 5: Ở Lại Vì Một Tô Bún - Bún Nước Lèo Đường Lý Thường Kiệt, Trà Vinh.
Tôi đến Trà Vinh mà không hề có ý định đến Trà Vinh. Chuyện là tôi đang trên đường từ Sài Gòn đi Cần Thơ, xe khách chạy theo quốc lộ và đến một ngã ba nào đó giữa đường thì tôi nhìn ra cửa kính thấy một tấm bảng xanh ghi "Trà Vinh 47km". Lúc này tôi bỗng muốn xuống. Không phải vì biết Trà Vinh có gì, không phải vì ai rủ rê, mà vì cái tên ấy nghe hiền quá, nghe như một người không cần phải cố gắng gì để khiến người khác thích mình. Còn tôi đang ở cái giai đoạn trong đời mà sự hiền lành là thứ tôi cần hơn bất kỳ thứ gì khác. Tôi nói tài xế cho xuống, tài xế nhìn tôi qua gương chiếu hậu hơi ngạc nhiên, hỏi "xuống đây hả em". Tôi gật, balô khoác lên vai, bước xuống lề đường giữa buổi trưa nắng, không biết gì về cái tỉnh mình vừa chọn ngoài cái tên.
Từ ngã ba đó tôi bắt xe ôm vào trung tâm thành phố. Con đường từ ngoài quốc lộ vào trong thành phố Trà Vinh đi qua những hàng cây dầu cổ thụ cao vút, tán lá rậm rạp che kín cả mặt đường, tạo thành một đường hầm xanh mà ánh nắng chỉ lọt qua được thành từng đốm nhỏ li ti rơi trên mặt nhựa. Khi xe chạy qua thì những đốm nắng ấy nhảy lên mặt, lên tay, lên cái áo trắng của tôi, lấp lánh rồi tắt, rồi lại lấp lánh rồi tắt, như ai đó đang chơi trò rải vàng trên đường đi. Anh xe ôm chạy chậm, không phải vì đường xấu mà vì người Trà Vinh chạy xe như vậy. Họ chạy chậm, thong thả, và tôi ngồi phía sau thấy mình cũng chậm lại, cái hối hả của Sài Gòn còn bám trên người tự lúc nào bỗng rơi ra dọc đường như bụi đường rơi khỏi áo.
Anh xe ôm thả tôi ở trung tâm gần chợ. Tôi hỏi anh ở đây ăn gì ngon, anh cười nói "bún nước lèo, chiều chiều ra Lý Thường Kiệt ăn, nhưng giờ chưa tới, hai giờ chiều người ta mới bán". Lúc ấy mới hơn một giờ. Tôi đi bộ loanh quanh, qua mấy con đường nhỏ rợp bóng cây mà hai bên là nhà cũ mái ngói, có căn sơn vàng kiểu Pháp đã bạc, có căn gắn bảng hiệu chữ Hoa đã mờ. Cứ đi một đoạn lại thấy một cái cổng chùa Khmer hiện ra bất ngờ giữa dãy phố, mái chùa cong vút, sơn vàng sơn đỏ rực rỡ, tượng rắn thần Naga uốn lượn trên bậc thềm. Trong sân chùa thì im lặng, chỉ có tiếng lá rơi và bóng sư thầy áo vàng đi chậm rãi giữa nắng chiều. Tôi chưa từng ở một nơi nào mà ba thứ văn hóa nằm cạnh nhau gần đến vậy, chỉ cách nhau một bức tường, một con hẻm, một khúc đường, người Kinh bán cơm tấm bên này, người Hoa bán hủ tiếu bên kia. Ngay phía sau là một ngôi chùa Khmer hơn trăm năm tuổi mà tiếng kinh chiều vẫn vọng ra nhẹ nhàng hòa vào tiếng rao hàng ngoài phố. Không ai thấy lạ, không ai dừng lại nhìn, vì đối với người Trà Vinh thì đó chỉ là đời sống bình thường, là cách mọi thứ vẫn vận hành từ trước khi họ sinh ra.
Hai giờ chiều tôi đến đường Lý Thường Kiệt. Con đường không rộng, hai bên là nhà dân, và nếu không có anh xe ôm chỉ thì tôi sẽ đi ngang mà không biết rằng trong cái hẻm nhỏ kia. Chỗ mà mấy chiếc xe máy đậu san sát che khuất gần hết lối vào, có một quán bún nước lèo đang bắt đầu dọn hàng. Tôi rẽ vào hẻm, đi qua hai chiếc xe máy, và nhìn thấy một khoảng sân nhỏ kê sáu bảy cái bàn. Phía trong là bếp và một nồi nước lèo lớn đang sôi trên bếp gas, hơi nước bốc lên mang theo một mùi mà tôi chưa bao giờ ngửi thấy trước đó.
Mùi ấy lạ, không giống mùi nước phở, không giống mùi hủ tiếu, không giống bất kỳ thứ nước dùng nào tôi từng biết. Nó nồng, nhưng không phải nồng kiểu khó chịu, mà nồng kiểu sâu, kiểu đất, kiểu cái gì đó đã lên men rất lâu rồi mới được nấu ra. Cái mùi lên men ấy khi gặp sức nóng thì không còn hăng nữa mà biến thành một thứ thơm trầm đục và dày như mùi của đất ruộng sau mùa nước rút, như mùi của con sông phù sa vào tháng mười. Tôi đứng đó hít một hơi dài, cố hiểu cái mùi ấy là gì, mà chưa hiểu được. Sau này tôi mới biết đó là mùi mắm bò hóc, loại mắm làm từ cá lóc ướp muối ủ trong lu sành hàng tháng trời theo cách của người Khmer, thứ mắm mà nếu mở nắp lu ra ngửi sống thì nhiều người phải quay đi vì quá nồng. Nhưng khi đã nấu chín, khi đã hòa vào nước lèo cùng với sả, ngải bún, nước dừa tươi, thì cái nồng ấy chuyển hóa hoàn toàn, trở thành một vị ngọt sâu mà không thứ bột nêm nào tạo ra đượ. Vì đó là vị ngọt của thời gian, của sự kiên nhẫn, của hàng tháng trời chờ đợi trong bóng tối của cái lu sành.
Tôi ngồi xuống, gọi một tô. Người bán là một phụ nữ trạc năm mươi, da ngăm, tay thoăn thoắt, bà gắp bún từ cái rổ lớn vào tô, xếp lên trên mấy miếng cá lóc trắng phau đã luộc chín gỡ xương, thêm vài lát thịt heo quay da vàng ươm còn giòn, rồi chan nước lèo nóng vào, thứ nước lèo màu nâu nhạt hơi đục, sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút. Bên cạnh tô bún là một đĩa rau lớn gồm bắp chuối bào mỏng tang trắng ngà, rau muống chẻ nhỏ xanh mướt, giá sống, hẹ cắt khúc, húng lủi, húng quế, rau răm, nhiều loại rau mà tôi không gọi tên được. Tất cả chất đầy thành một đĩa xanh um bên cạnh cái tô nâu nóng và sự tương phản giữa cái tươi mát của rau và cái nóng bỏng của nước lèo ấy bản thân nó đã là một lời mời gọi.
Tôi húp một muỗng nước lèo đầu tiên và dừng lại, không phải dừng vì dở, mà dừng vì không hiểu. Vị ấy có nhiều lớp quá, nhiều đến mức tôi không tách ra được cái nào là cái nào. Có vị mặn, nhưng không phải mặn của muối, mà mặn của mắm, cái mặn sâu hơn, tròn hơn, có hậu vị. Có vị ngọt, nhưng không phải ngọt của đường, mà ngọt của nước dừa hòa vào nước ninh xương cá, thứ ngọt thanh mà phải để nước lèo trôi qua cổ họng rồi mới thấy nó vang lên ở cuối. Có một chút cay nhẹ từ ớt, một chút thơm nồng từ ngải bún, và bên dưới tất cả là cái vị lạ lùng của mắm bò hóc, không chi phối mà nâng đỡ, như cái nền của một bức tranh mà mắt không nhìn thấy nhưng không có nó thì mọi màu sắc đều lỏng lẻo. Tôi húp muỗng thứ hai, rồi muỗng thứ ba, và bắt đầu hiểu, không hiểu bằng đầu mà hiểu bằng lưỡi, rằng tô bún nước lèo này không phải của riêng ai. Nó là của người Khmer với mắm bò hóc và ngải bún, là của người Hoa với thịt heo quay da giòn béo ngậy, là của người Kinh với rau muống chẻ và bắp chuối bào, ba dân tộc gửi vào cùng một tô bún những thứ ngon nhất của mình. Cái tô ấy không phải phép cộng mà là phép hòa, mọi thứ tan vào nhau đến mức không ai phân biệt được miếng nào của ai, vị nào từ đâu, và chính sự không phân biệt được ấy mới là cái ngon thật sự.
Tô bún nóng, chiều Trà Vinh nóng, tôi ăn mà mồ hôi rịn ra trán, ra gáy, nhưng không thấy khó chịu, vì cái nóng ấy là cái nóng của miền Tây, cái nóng mà người ta đã quen sống cùng, đã quen ăn cùng. Khi mồ hôi chảy xuống trong lúc ăn bún nước lèo thì nó không phải là dấu hiệu của sự bất tiện mà là dấu hiệu của sự thật, rằng mình đang ở đây, đang nếm một thứ thật, trong cái nóng thật, bằng cơ thể thật, chứ không phải đang ngồi trong phòng máy lạnh lướt ảnh món ăn trên điện thoại.
Bên cạnh tôi có một ông lão ngồi ăn. Ông mặc bộ bà ba nâu, da đen sạm, tay chai sần, ông ăn chậm, mỗi miếng bún ông gắp kèm một miếng cá, một cọng rau, chấm thêm chút nước mắm ớt rồi mới đưa lên miệng, ăn kỹ, nhai kỹ, như người đang làm một việc quan trọng mà không cần ai nhìn thấy. Ông nhìn tôi cười và hỏi "ở đâu xuống đây". Tôi nói Sài Gòn, ông gật, nói "vậy chắc lạ miệng lắm hen, ăn quen rồi thì nhớ dữ lắm, tui đi Sài Gòn hai tháng mà nhớ tô bún nước lèo muốn chết". Ông nói câu ấy nhẹ tênh, như nói về thời tiết hay giá lúa, nhưng tôi nghe và hiểu rằng với ông, tô bún nước lèo không phải món ăn, nó là sợi dây nối ông với nơi này, là thứ mà khi ông đi xa thì nó kéo ông về. Không phải bằng lý trí, không phải bằng ý chí, mà bằng cái lưỡi, bằng cái mũi, bằng ký ức của cơ thể mà đầu óc không kiểm soát được.
Tôi ăn hết tô bún rồi ngồi thêm, uống ly nước sâm mà bà chủ rót sẵn, nước sâm ngọt mát tưới đi cái nóng còn đọng trong ngực. Nắng chiều xiên qua mái hiên vào đến chỗ tôi ngồi, hắt một vệt vàng lên mặt bàn inox. Tôi ngồi nhìn vệt nắng ấy, thấy lòng nhẹ đi, không nghĩ ngợi gì nhiều, chỉ thấy dễ chịu cái kiểu dễ chịu của người vừa được một nơi lạ đón nhận mà không hỏi han gì.
Tôi rời quán lúc nắng đã bớt gắt, đi bộ dọc đường Lý Thường Kiệt, qua mấy căn nhà cửa mở rộng. Trong nhà có người nằm võng nghe cải lương vọng ra nhỏ nhỏ, có nhà thì im, chỉ thấy bóng quạt máy quay qua quay lại trên trần, có nhà thì mùi nhang bay ra từ bàn thờ, hòa vào mùi bún nước lèo còn vương trong gió chiều. Tôi đi ngang một ngôi chùa Khmer nữa, mái chùa cao vượt lên trên dãy nhà phố như một cái gì đó luôn ở đó nhắc người ta rằng bên dưới lớp nhựa đường và cột điện còn một lớp đời khác, cũ hơn, sâu hơn, và vẫn đang thở.
Tôi không đi Cần Thơ nữa. Tối hôm đó tôi thuê một phòng nhỏ gần chợ, nằm dưới quạt trần nghe tiếng rao khuya xa xa, và nghĩ rằng ngày mai chiều mình sẽ lại ra Lý Thường Kiệt ăn bún nước lèo. Không phải vì đói, mà vì muốn ngồi lại cái chỗ ấy thêm một lần, húp thêm một muỗng nước lèo nâu đục ấy, ngửi thêm một lần cái mùi mắm bò hóc nồng nồng mà ấm ấm ấy. Và tôi muốn nhìn thêm một lần cái cách người ta ở đây ngồi cạnh nhau, ăn cùng nhau, không hỏi nhau từ đâu đến, chỉ hỏi "ăn quen chưa", rồi cười, rồi gật, rồi cùng húp nước lèo, và cái tiếng húp ấy, bằng mọi thứ ngôn ngữ, đều giống nhau.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.