Chương 1: Bếp Lửa Chiều Gia Định
Năm Canh Tý 1780, tháng Sáu âm lịch
Làng chài ven sông Tiền, phủ Mỹ Tho, dinh Trấn Định[1]
Mùi khói rơm quyện với mùi cá nướng bay dọc triền sông, nơi những mái chòi lá dừa nước lúp xúp nép vào nhau như đàn vịt trời tránh bão. Chiều muộn, nắng tắt nhanh sau rặng bần, để lại trên mặt nước những vệt vàng úa cuối cùng. Xa xa, vài chiếc xuồng ba lá đang quay mũi vào bờ, mái chèo khua nước lõng bõng, đều đặn và chậm rãi như nhịp thở của con sông ngàn năm tuổi.
Đó là thứ âm thanh Nguyên Lộc thuộc nằm lòng.
Mười tuổi, thằng bé ngồi xổm trên chiếc chõng tre cũ kỹ trước chòi, hai tay ôm lấy đầu gối xương xẩu, mắt nhìn đăm đăm về phía bến sông. Gió thổi qua bụi tre ngà sau nhà kêu xào xạc, cuốn theo vài chiếc lá khô rơi lộp bộp trên mái lá. Lộc không nhúc nhích. Nó đang đợi. Như mọi chiều, nó đợi tía nó về.
"Lộc! Vô[2] phụ má nhúm[3] bếp coi!"
Tiếng má nó từ trong chòi vọng ra, giọng đàn bà miệt vườn lanh lảnh nhưng không kém phần cương nghị. Nguyên Lộc giật mình, suýt rơi khỏi chõng. Nó quay đầu, gãi gãi mái tóc rễ tre lấm tấm bụi:
"Dạ... con vô liền."
Thằng bé đứng dậy, chân đất bước trên nền đất nện, để lại những dấu chân nhỏ xíu hằn trên lớp tro bụi. Nó đi ngang qua đống lưới tía nó đang vá dở, qua mấy cái nơm[4] treo lủng lẳng trên vách, và dừng lại trước bếp.
Má nó, người đàn bà gầy gò, nước da ngăm đen vì nắng gió sông nước, đang ngồi xếp bằng cạnh bếp, tay thoăn thoắt nhặt rau muống. Dưới ánh lửa bập bùng, khuôn mặt má hiện lên những nếp nhăn sớm già trước tuổi. Bà ngước lên nhìn thằng con trai lớn, ánh mắt thoáng nét lo âu:
"Tía mi[5] chiều ni[6] về trễ. Má nghe nói ngoài chợ Mỹ Tho đang có chuyện dữ lắm."
"Chuyện chi hả má?" Lộc hỏi, tay đã cầm sẵn nắm rơm khô chuẩn bị nhúm bếp.
"Quan với lính. Quân Đông Sơn của tướng Đỗ Thành Nhơn. Họ nói ổng có công lớn với chúa Nguyễn, nên lính của ổng đi tới đâu cũng nghênh ngang như chúa làng."[7]
Bà thở dài, tay vân vê cọng rau muống đã dập nát.
"Thương lái ngoài chợ bị ép giá. Ghe lúa của người ta bị tịch thu. Má sợ tía mi cũng..."
"Tía con không có gạo. Tía chỉ bán cá thôi." Lộc ngắt lời, giọng tỉnh bơ như đang nói một sự thật hiển nhiên.
Má nó bật cười, tiếng cười mệt mỏi:
"Ừ, cá. Nhưng lính tráng nó thèm cá cũng lấy, con ơi."
Lộc im lặng. Nó cúi xuống, chụm rơm vào bếp. Ngọn lửa bén lên, liếm vào đáy nồi đất đen bóng. Ánh lửa hắt lên gương mặt thằng bé, một gương mặt mà bất kỳ ai nhìn vào lần đầu cũng sẽ nghĩ: "Thằng này chắc khờ." Đôi mắt Lộc to nhưng lúc nào cũng lơ đễnh, như đang nhìn đi đâu đó ngoài xa xăm. Cái miệng hơi rộng, môi trên hơi trề, lúc nào cũng ươn ướt như sắp chảy nước dãi. Khi nó cười, hàm răng thưa lộ ra, trông ngốc không chịu được.
Nhưng má nó biết. Thằng Lộc không ngốc. Nó chỉ... không giống những đứa trẻ khác.
Hồi lên bảy, khi lũ trẻ trong làng tụ tập ném đá tổ chim, Lộc chỉ ngồi một góc nhìn đàn kiến tha mồi về tổ. Cả buổi chiều không nhúc nhích. Tía nó tưởng con bị bệnh, định đưa đi thầy thuốc. Nhưng rồi tối đó, Lộc kể vanh vách đàn kiến có bao nhiêu con, chúng đi theo đường nào, con nào tha mồi nặng nhất.
Tía nó nghe xong, im lặng một lúc lâu, rồi chỉ nói: "Thằng này có đôi mắt khác người."
Nhưng "đôi mắt khác người" ấy cũng chẳng giúp ích gì cho cuộc sống mưu sinh cơ cực nơi xứ lạ. Gia đình Lộc vốn không phải dân bản xứ. Ông cố nó từ miệt ngoài Thuận Hóa di cư vào Nam từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, theo đường biển mà vào. Ba đời xuôi ngược trên những con sông miền Đàng Trong, cuối cùng dừng chân ở khúc sông Tiền này, dựng chòi, đánh cá, làm rẫy. Họ là lưu dân[8], là những kẻ không có đất tổ, chỉ có đôi bàn tay và con sông làm bạn.
"Anh Hai!"
Tiếng gọi lanh lảnh từ ngoài bờ sông. Lộc ngẩng lên. Thằng Sinh, em trai kế nó, tám tuổi, đen nhẻm như củ ráy, đang chạy ùa vào, hai tay ôm cái nơm ướt nhẹp.
"Anh coi! Cá! Em xúc được ba con cá rô đồng bự chà bá[9]!"
Nguyên Sinh hớn hở giơ cái nơm lên. Nước sông chảy ròng ròng xuống mặt nó, nhưng nó chẳng buồn lau. Đằng sau Sinh, con bé An bảy tuổi lẽo đẽo theo sau, tay ôm một bó củi khô, mặt mày lem luốc như mèo. Nó là út, trộm vía[10] ngoan và ít khóc, nhưng lại hay ốm vặt. Đôi mắt to tròn của con bé nhìn Lộc, không nói gì, chỉ cười.
Lộc đứng dậy, nhận lấy cái nơm từ tay Sinh, nghiêng đầu nhìn vào trong. Ba con cá rô đồng đang quẫy đành đạch, vảy bạc lấp lánh dưới ánh lửa.
"Giỏi." Lộc nói, gật gù.
Thằng Sinh nhe răng cười. Nó biết anh Hai nó khen thiệt lòng, dù chỉ đúng một chữ.
"Để má kho tộ[11] cho tía nhắm rượu." Má nó nói, giọng đã tươi hơn. "An, lại má coi. Mặt mũi lem nhem hết trơn[12]."
Con bé An lon ton chạy lại, chui vào lòng má. Má nó lấy góc áo lau mặt cho con, miệng lẩm bẩm: "Con gái mà lấm lem hơn con trai. Lớn lên coi ai rước."
"Dạ không có ai rước đâu. Con ở với má với anh Hai." Con bé An nói, giọng non choẹt như chim non.
Lộc đứng nhìn ba má con đang ríu rít bên bếp lửa, khóe miệng giật giật. Đó là cách nó cười. Thằng Sinh, trái lại, cười to, cười vang, tiếng cười lanh lảnh như tiếng chim cà rốc kêu chiều.
Bữa cơm tối hôm ấy chỉ có cá rô kho tộ với rau muống luộc chấm nước mắm dầm ớt. Mấy má con quây quần bên chiếc chõng tre, chờ tía về. Nhưng mãi đến khi nồi cơm vơi quá nửa, bóng ông Trần Nguyên Mạnh mới thấp thoáng ngoài bến sông.
"Tía về!"
Thằng Sinh reo lên, nhảy khỏi chõng, chạy ùa ra đón. Nhưng nó vừa chạy được vài bước thì khựng lại.
Ông Mạnh không đi một mình.
Đằng sau ông, dưới ánh trăng non vừa nhú, là bóng dáng ba người đàn ông vạm vỡ, lưng đeo kiếm, áo quần nhà binh lùng nhùng. Họ đi theo ông vào tận sân chòi, bước chân nặng nề trên nền đất nện.
Lộc ngồi im trên chõng. Đôi mắt nó, vốn lơ đễnh nhìn đâu đó ngoài sông, giờ chậm rãi quét qua từng người.
Người đi đầu trạc tứ tuần, mặt vuông, râu quai nón lởm chởm, trên má trái có một vết sẹo dài ngoằn ngoèo như con rết. Hắn mặc áo chàm, thắt lưng da bò, đi chân đất nhưng dáng đi ngạo nghễ như đang cưỡi ngựa. Hai người phía sau trẻ hơn, một gã gầy nhom, tay ôm cây đoản đao; gã còn lại lưng trần, trên ngực chi chít hình xăm thủy quái.
Má Lộc đứng bật dậy, mặt tái nhợt. Bà vội kéo con bé An ra sau lưng.
"Các... các ông là..."
"Chị Hai đừng sợ."
Người đàn ông mặt sẹo cười, nụ cười nửa thân thiện nửa giễu cợt. Hắn quay sang ông Mạnh:
"Anh Mạnh nói nhà mình chỉ có cá, không có gạo. Tụi tui ghé coi chơi[13] vậy thôi."
Ông Mạnh cúi đầu, giọng lễ phép nhưng cứng:
"Thưa ông đội[14], nhà tui nghèo thiệt. Mấy ông coi đi, vách lá, mái dừa, có gì đâu mà giấu."
Gã mặt sẹo được gọi là "ông đội" không trả lời ngay. Hắn chậm rãi nhìn quanh, mắt lướt qua đống lưới rách, mấy cái nơm treo trên vách, nồi cá kho đang bốc khói trên chõng. Rồi ánh mắt hắn dừng lại ở Nguyên Lộc.
Thằng bé vẫn ngồi im. Nó không cúi đầu, không run sợ. Nó chỉ... nhìn.
"Thằng này là con trai lớn hả?" Gã đội hỏi, giọng tò mò.
"Dạ, cháu Lộc. Mười tuổi."
"Mười tuổi? Coi bộ chậm lớn." Gã đội nhếch mép. "Sao? Không chào câu nào à?"
Lộc im lặng.
Má nó vội vàng lên tiếng: "Dạ, cháu nó hơi khờ, ông đội bỏ quá cho[15]..."
Gã đội không để ý đến lời thanh minh. Hắn bước lại gần Lộc, cúi xuống, nhìn thẳng vào mắt thằng bé. Khoảng cách gần đến mức Lộc có thể ngửi thấy mùi rượu và mồ hôi ngai ngái trên người hắn.
"Ê nhóc. Mày có biết nói không?"
Lộc chớp mắt. Một cái chớp mắt thật chậm. Rồi nó nói, giọng đều đều như nước sông chảy:
"Dạ. Con biết."
"Biết thì sao không chào?"
"Con đợi ông hỏi xong đã."
Gã đội sững lại. Hai gã lính phía sau khúc khích cười. Gã đội quay lại lườm, tiếng cười im bặt.
Hắn quay sang nhìn Lộc lần nữa, ánh mắt lần này chăm chú hơn. Nhưng rồi hắn đứng thẳng dậy, phủi tay, quay sang ông Mạnh:
"Thôi, nhà anh nghèo thiệt. Tụi tui không lấy gì đâu." Hắn ngừng một nhịp, rồi nói tiếp, giọng trầm xuống: "Nhưng anh Mạnh, anh cũng biết tình hình rồi đó. Chúa Nguyễn đang cần lương thực nuôi quân. Quân Tây Sơn ngoài Bình Định đang lăm le vô Nam. Không có gạo, lấy gì đánh giặc? Anh ở đây làm lưu dân, có miếng đất cắm dùi, có con sông mà sống, cũng là nhờ ơn chúa Nguyễn. Phải biết nghĩ cho triều đình chớ?"
Ông Mạnh cúi đầu, không đáp.
Gã đội nhếch mép, rồi quay lưng, vẫy hai tên lính:
"Đi!"
Ba bóng người khuất dần sau bụi tre. Tiếng chân bì bõm dưới bùn xa dần, rồi chìm hẳn vào màn đêm.
Má Lộc thở hắt ra, ôm chặt con bé An vào lòng. Thằng Sinh đứng nép bên cây cột chòi, mặt cắt không còn giọt máu. Ông Mạnh chậm rãi bước lại chõng, ngồi xuống. Ông không nói gì. Tay ông run run cầm đôi đũa, gắp một miếng cá kho, bỏ vào miệng, nhai chậm rãi. Miếng cá nguội ngắt.
"Tía..."
Lộc lên tiếng. Giọng nó vẫn đều đều, không run, không sợ.
Ông Mạnh ngẩng lên.
"Ngày mai con theo tía ra chợ được không?"
"Để làm chi?"
"Dạ... để coi."
Ông Mạnh nhìn thằng con trai. Dưới ánh lửa tàn, gương mặt Lộc vẫn y nguyên vẻ ngờ nghệch thường ngày. Nhưng trong đôi mắt lơ đễnh ấy, ông thấy có gì đó khác. Một tia sáng nhỏ, lặng lẽ, như ánh sao cuối trời trước cơn giông.
"Ừ." Ông nói, rồi lại cúi xuống ăn cơm.
Đêm ấy, khi cả nhà đã chìm vào giấc ngủ, Nguyên Lộc vẫn nằm thao thức trên manh chiếu rách. Nó lắng nghe tiếng sông thở, tiếng muỗi vo ve, tiếng má nó trở mình thở dài trong giấc mộng. Và nó nhớ lại từng chi tiết về ba người lính ban chiều.
Gã đội mặt sẹo tay trái thuận, vết chai ở kẽ ngón cái và ngón trỏ, quen dùng kiếm. Gã gầy ôm đoản đao đi chân vòng kiềng, chắc từng cưỡi ngựa nhiều, đầu gối phải hơi khập khiễng. Gã xăm mình lưng trần, cơ lưng bên trái to hơn bên phải, vai trái thấp hơn vai phải, có tật ở xương bả vai.
Nó nhớ hết.
Không phải vì nó muốn nhớ. Mà vì mắt nó đã quen với việc ghi lại mọi thứ. Như cách nó nhìn đàn kiến tha mồi, nhìn con nước lớn ròng, nhìn cánh cò trắng vỗ trong hoàng hôn.
Nguyên Lộc không biết sau này mình sẽ thành ai. Nó chỉ biết rằng, tối nay, lần đầu tiên trong đời, nó thấy sợ. Không phải sợ cho bản thân. Mà sợ cho tía, cho má, cho thằng Sinh, cho con bé An.
Nó sợ một ngày nào đó, những bóng người như tối nay sẽ không chỉ "ghé coi chơi" nữa.
Nó sợ mình không kịp lớn.
Ngoài sông, tiếng cá quẫy nước vọng vào, cô đơn và xa vắng. Nguyên Lộc nằm co ro, tay nắm chặt mép chiếu. Nó thì thầm điều gì đó, nhỏ như hơi thở, như gió thoảng qua vách lá:
"Tía... má... Sinh... An..."
Nó gọi tên từng người. Rồi nó nhắm mắt, thả mình vào giấc ngủ chập chờn, nơi những cơn ác mộng chưa kịp thành hình.
Bên ngoài, bếp lửa đã tàn từ lâu. Tro nguội bay lả tả trong gió, hòa vào màn đêm đen đặc trên sông Tiền mùa nước đổ.
Nơi xa lắm, phía chân trời phía Đông Bắc, những đám mây đen đang âm thầm cuộn lên.
Cơn bão đầu mùa sắp tới.
Chú thích
(1) Phủ Mỹ Tho, dinh Trấn Định: Tên gọi hành chính thời chúa Nguyễn. Dinh Trấn Định được thành lập năm 1779 trên cơ sở một phần đất của dinh Long Hồ cũ, quản lý vùng đất thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay. Phủ Mỹ Tho là một trong những đơn vị hành chính trực thuộc dinh này.
(2) Vô: Vào (phương ngữ Nam Bộ).
(3) Nhúm bếp: Nhóm bếp, chụm lửa (phương ngữ Nam Bộ).
(4) Nơm: Dụng cụ bắt cá làm bằng tre đan hình ống, úp xuống nước để bắt cá.
(5) Mi: Mày (phương ngữ Nam Bộ xưa, thường dùng trong gia đình với người dưới, thân mật).
(6) Chiều ni: Chiều này, chiều nay (phương ngữ Nam Bộ).
(7) Quân Đông Sơn của tướng Đỗ Thành Nhơn: Lực lượng quân sự do danh tướng Đỗ Thành Nhơn (một trong "Gia Định Tam Hùng") chỉ huy, từng có công lớn giúp Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định năm 1778. Tuy nhiên, quân Đông Sơn cậy công, thường xuyên lộng hành, cướp bóc dân chúng và sách nhiễu thương thuyền nước ngoài. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Nguyễn Ánh ra tay sát hại Đỗ Thành Nhơn vào năm 1781.
(8) Lưu dân: Dân di cư, không có quê quán gốc tại nơi sinh sống. Trong lịch sử Nam Bộ, lưu dân là lực lượng chính trong công cuộc khai hoang mở cõi từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Họ thường là nông dân nghèo từ miền Trung (Ngũ Quảng, Bình Định) di cư vào Nam tìm đất sống.
(9) Bự chà bá: Rất to, rất lớn (phương ngữ Nam Bộ).
(10) Trộm vía: Cách nói dân gian khi khen trẻ nhỏ, ngụ ý "xin phép các vía (thần linh, ông bà) cho con cháu được khỏe mạnh, không bị quở trách".
(11) Kho tộ: Món cá kho trong nồi đất (tộ), thường kho với nước dừa, ớt, tiêu, đặc trưng của ẩm thực Nam Bộ.
(12) Hết trơn: Hết cả, hoàn toàn (phương ngữ Nam Bộ).
(13) Coi chơi: Xem thử, ghé xem cho biết (phương ngữ Nam Bộ). Trong ngữ cảnh này mang sắc thái nửa đùa nửa thật, có ý dọ ò.
(14) Ông đội: Chức vụ chỉ huy một đội lính (khoảng 10-50 người) trong quân đội thời chúa Nguyễn và Tây Sơn.
(15) Bỏ quá cho: Bỏ qua cho, tha thứ cho (phương ngữ Nam Bộ).
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.