Áo Vải Giữa Sơn Hà

Chương 2: Máu Trên Bến Sông

Đăng: 07/07/2026 07:54 4,219 từ 8 lượt đọc

Năm Canh Tý 1780, tháng Sáu âm lịch

Chợ Mỹ Tho, phủ Mỹ Tho, dinh Trấn Định[1]

Sương sớm còn giăng mỏng như khói trên mặt sông Tiền. Từ bến chợ Mỹ Tho nhìn ra, những chiếc ghe bầu, ghe lườn, xuồng ba lá nối đuôi nhau dập dềnh theo con nước ròng. Tiếng người í ới gọi nhau, tiếng mái chèo khua nước lõng bõng, tiếng lợn kêu eng éc trong cũi tre, tiếng vịt quàng quạc trên sàn ghe,...tất cả trộn vào nhau thành một thứ âm thanh hỗn độn mà sống động, thứ âm thanh quen thuộc của chợ phiên miệt sông nước.

Nguyên Lộc ngồi thu lu trên mũi xuồng, hai tay ôm chặt cái thùng gỗ nhỏ đựng cá. Nó mặc chiếc áo vải nâu đã sờn vai, quần xắn đến đầu gối, chân trần ướt nhẹp nước sông. Gió sớm thổi qua làm mái tóc rễ tre của nó dựng ngược lên như tổ quạ. Nhưng Lộc chẳng buồn vuốt lại. Mắt nó đang bận nhìn.

Chợ Mỹ Tho buổi sáng hiện ra trước mắt thằng bé mười tuổi như một thế giới vừa lạ lẫm vừa cuốn hút. Những dãy lều tranh lợp lá dừa nước ken dày hai bên bờ dốc, bày bán đủ thứ: gạo, muối, mắm, vải vóc, nồi niêu, dao rựa... Những bà hàng xén ngồi xổm trên manh chiếu, miệng nhai trầu bỏm bẻm, tay phe phẩy quạt mo cau. Mấy ông lái lợn từ miệt Cái Bè, Cai Lậy xuống, áo ướt đẫm mồ hôi, tiếng cười nói oang oang như sấm. Vài gã đàn ông cởi trần, lưng trần bóng nhẫy, vai vác những bao lúa nặng trĩu từ dưới ghe lên bờ, bắp chân nổi cuồn cuộn.

Cá trong thùng Lộc ôm là cá rô đồng và cá sặc bướm mà tía nó dầy[2] từ đêm qua. Con nào con nấy còn tươi roi rói, vảy bạc lấp lánh dưới nắng sớm. Ông Mạnh đã dặn: cá tươi thì phải bán sớm, để trưa nắng lên là cá ươn, mất giá. Vậy nên hai cha con dậy từ lúc gà còn chưa gáy, chèo xuồng gần một canh giờ mới tới chợ.

"Lộc, lại đây con."

Ông Mạnh gọi. Ông đã tìm được một chỗ ngồi tạm dưới gốc cây bần già cạnh bến, nơi có mấy bà hàng cá khác cũng đang bày biện. Chỗ ngồi ẩm ướt, bùn sinh lầy lội, nhưng bù lại gần đường người qua lại. Ông Mạnh trải manh đệm rách xuống đất, đặt rổ cá lên, rồi quay sang đỡ cái thùng từ tay Lộc.

"Con ngồi đây. Hễ có khách hỏi thì con cân giùm tía, nghe chưa?"

"Dạ."

Lộc ngồi xuống, xếp bằng hai chân, đặt cái cân đĩa nhỏ bên cạnh. Nó không biết mặc cả, nhưng nó biết cân. Tía nó dạy rồi: đặt quả cân một bên, bên kia bỏ cá vào, khi nào đĩa cân thăng bằng thì ngưng. Đơn giản như đếm ngón tay.

Nắng đã lên cao hơn một sào[3]. Chợ càng lúc càng đông. Người mua kẻ bán chen chúc, tiếng trả giá, tiếng cười nói, tiếng chửi thề va vào nhau loảng xoảng. Lộc ngồi im, mắt nhìn dòng người qua lại. Nó không rao như những bà hàng cá khác. Nó chỉ ngồi yên, thỉnh thoảng cúi xuống vớt con cá nào nhảy ra khỏi rổ, nhẹ nhàng thả lại.

Có một người đàn bà trạc tuổi má nó ghé vào, chỉ vào rổ cá rô:

"Cá rô đồng hả chú? Bao nhiêu một cân?"

Lộc ngước lên, đôi mắt to lơ đễnh chớp chậm:

"Dạ... một cân ba tiền."

"Ba tiền? Mắc[4] quá! Hai tiền rưỡi đi."

"Dạ..."

Lộc quay sang nhìn tía. Ông Mạnh đang đứng nói chuyện với một người quen cách đó vài bước. Lộc lại quay sang bà khách, gãi gãi đầu:

"Dạ... ba tiền."

"Hai tiền rưỡi!"

"Ba tiền."

"Trời ơi sao thằng này cứng đầu quá vậy? Thôi hai tiền bảy!"

Lộc im lặng. Nó không biết nói gì khác ngoài cái giá tía nó dặn. Bà khách lườm nó một cái, lầm bầm "thằng khờ", rồi bỏ đi. Nhưng đi được vài bước lại quay lại:

"Thôi được, ba tiền. Cân cho tui hai cân."

Lộc gật đầu, lúi húi cân cá. Nó làm chậm rãi, cẩn thận từng con một. Bà khách nhìn nó, lắc đầu cười:

"Thằng này coi vậy mà bán hàng kỹ. Mặt thì ngờ nghệch mà cân không sai một ly."

Lộc không đáp. Nó chỉ đưa gói cá đã gói trong lá chuối, nhận tiền, rồi lại ngồi im.

Ông Mạnh quay lại, thấy con đã bán được mớ cá đầu tiên, mỉm cười. Ông xoa đầu Lộc:

"Giỏi."

Lộc gật gật. Nó không cười. Nhưng trong lòng nó thấy ấm. Chỉ một chữ "giỏi" của tía cũng đủ làm nó vui cả ngày.

Buổi chợ trôi qua êm ả cho đến khi mặt trời đứng bóng. Cá đã vơi quá nửa rổ. Ông Mạnh tính nhẩm trong đầu: nếu bán hết chỗ này, tiền sẽ đủ mua một thúng gạo, thêm ít muối mắm, và có thể dư vài đồng mua cho con bé An cái kẹp tóc mới. Nghĩ tới con gái út, mắt ông lại ánh lên nét cười.

Nhưng rồi ông thấy bóng họ.

Từ phía đầu chợ, nơi có con đường đất đỏ chạy về hướng dinh Trấn Định, một toán lính xuất hiện. Chừng năm sáu người, áo chàm, thắt lưng da, đi chân đất nhưng dáng đi nghênh ngang như cọp giữa rừng. Người đi đầu chính là gã đội mặt sẹo tối qua từng ghé nhà Lộc. Hôm nay hắn không đeo kiếm, nhưng trên tay cầm một cây roi mây dài, đầu roi quấn da bò đã ngả màu đen bóng.

Dân chợ thấy bóng họ từ xa đã vội vàng né tránh. Tiếng ồn ào ban nãy bỗng lắng xuống như có ai bóp nghẹt cuống họng cả khu chợ. Những bà hàng xén vội vàng thu dọn hàng hóa. Mấy ông lái lợn im bặt, len lén lùi ghe ra xa bờ. Người buôn kẻ bán cúi gằm mặt, không ai dám nhìn thẳng vào toán lính.

"Đội Hiếu."[5] Có tiếng ai đó thì thầm, giọng sợ hãi. "Đội Hiếu của quân Đông Sơn. Nghe nói ổng mới được lệnh thu lương thực cho dinh. Coi chừng..."

Lộc nghe thấy. Tai nó vểnh lên. Đôi mắt lơ đễnh của nó chậm rãi chuyển động, bám theo từng bước chân của gã đội mặt sẹo Đội Hiếu.

Toán lính dừng lại ngay trước dãy hàng cá, nơi ông Mạnh và Lộc đang ngồi. Mùi rượu và mồ hôi từ người chúng tỏa ra nồng nặc. Đội Hiếu chống nạnh, đảo mắt nhìn một lượt những rổ cá, những thùng tôm đang bày trên đất. Hắn nhếch mép:

"Chào bà con. Hôm nay trời nắng đẹp, cá tôm đầy rổ. Chắc bán đắt hàng lắm?"

Không ai đáp. Những bà hàng cá cúi gằm hơn, tay run run sắp xếp lại rổ rá.

Đội Hiếu đằng hắng, tiếng đằng hắng khô khốc như tiếng chó sủa:

"Tui thay mặt quan trên ra đây báo cho bà con một tin mừng. Chúa Nguyễn ta sắp mở chiến dịch lớn đánh đuổi giặc Tây Sơn ra khỏi bờ cõi. Quan quân cần lương thực để nuôi ba quân. Bà con ai có lòng với triều đình thì tự nguyện đóng góp. Cá, tôm, gạo, muối... đều được. Ít nhiều gì cũng là tấm lòng."

Hắn vừa nói vừa đi dọc theo dãy hàng. Tay hắn cầm cây roi mây gõ nhẹ vào thành thùng cá, vào rổ tôm, như thể đang chọn món hàng ưng ý. Những người bán hàng run rẩy mở rổ, để mặc hắn lấy. Có bà lão run run dâng lên một xâu cá lóc:

"Dạ... con xin góp chút quà cho quan quân ạ."

Đội Hiếu cầm lấy, ném cho tên lính phía sau:

"Tốt. Bà già biết điều."

Rồi hắn dừng lại trước chỗ ông Mạnh.

Lộc ngồi im. Mắt nó nhìn thẳng vào cây roi mây trong tay Đội Hiếu. Cây roi dài chừng ba thước, được bện từ ba sợi mây rừng, đầu roi có quấn da bò, chỗ cầm bóng lên vì mồ hôi tay. Trên thân roi có vài vết thâm, là vết máu khô từ những lần roi quất vào da thịt người.

"Ồ, anh Mạnh." Đội Hiếu cười, nụ cười nửa thân thiện nửa giễu cợt như tối qua. "Lại gặp nhau. Thì ra anh bán cá ở đây. Cá tươi quá."

Ông Mạnh chậm rãi đứng dậy. Ông không cao bằng Đội Hiếu, nhưng lưng ông thẳng. Giọng ông bình tĩnh:

"Thưa ông đội. Tối qua ông đã ghé nhà tui. Ông thấy đó, nhà tui nghèo, chỉ có mấy con cá này nuôi vợ nuôi con..."

"Tối qua khác, sáng nay khác." Đội Hiếu cắt lời. "Tối qua tui ghé chơi. Còn sáng nay tui đang thi hành công vụ."

Hắn cúi xuống, thò tay vào rổ cá của ông Mạnh. Những ngón tay thô ráp bốc lên một nắm cá rô đồng, nhìn ngắm, rồi thả trở lại, để lại những vệt bùn trên mình cá.

"Cá rô đồng bự thiệt. Mấy con cá sặc này cũng mập. Chắc cũng được vài chục cân đây. Anh Mạnh, anh để tui lấy hết. Coi như anh đóng góp cho triều đình."

Ông Mạnh cứng người. Mặt ông thoáng tái đi, nhưng giọng vẫn giữ được vẻ lễ phép:

"Thưa ông đội... chỗ cá này là cả buổi dầy của tui. Nhà tui còn ba đứa con nhỏ... Ông lấy hết thì... thì vợ con tui lấy gì ăn?"

Đội Hiếu không trả lời ngay. Hắn từ từ đứng thẳng dậy, quay sang nhìn ông Mạnh. Ánh mắt hắn lạnh tanh, không còn chút giễu cợt nào. Hắn hỏi, giọng nhỏ nhưng rành rọt:

"Anh Mạnh. Anh nói vậy là... anh không muốn đóng góp cho triều đình?"

"Tui không nói vậy... Tui chỉ xin ông để lại cho tui một ít..."

"Một ít là bao nhiêu?"

"Dạ... một nửa... Một nửa thôi cũng được..."

Đội Hiếu im lặng một lúc. Rồi hắn bật cười. Tiếng cười khô khốc, không chút ấm áp. Hắn quay sang đám lính phía sau:

"Tụi bây nghe chưa? Ổng xin tao để lại một nửa. Ổng thương vợ con ổng hơn là thương giang sơn xã tắc."

Đám lính cười ầm lên. Tiếng cười như chó sủa giữa chợ. Người dân xung quanh càng cúi thấp hơn. Có người len lén bỏ đi. Có người đứng nép sau cột, mặt cắt không còn hột máu.

Lộc vẫn ngồi im. Tay nó nắm chặt mép rổ cá đến trắng bệch. Mắt nó không nhìn Đội Hiếu nữa. Nó đang nhìn tía nó. Nó thấy gân trên trán tía nó nổi lên, thấy bàn tay tía nó run run bên hông, thấy hàm răng tía nó cắn chặt vào nhau. Nhưng tía nó vẫn không nói gì thêm. Ông chỉ đứng im, lưng thẳng, mắt nhìn vào khoảng không trước mặt.

"Thôi được." Đội Hiếu đột ngột ngừng cười. Hắn vẫy tay. "Lấy hết. Cá rô, cá sặc, lấy hết. Tôm tép gì cũng lấy luôn."

Hai tên lính bước tới, định thò tay vào rổ cá.

Ông Mạnh không nhúc nhích. Nhưng khi tay tên lính gầy nhom sắp chạm vào rổ cá, ông bất ngờ cúi xuống, nhanh như cắt, ôm lấy cái rổ vào lòng.

"Không được."

Giọng ông không lớn. Nhưng nó vang lên giữa khoảng lặng của khu chợ như một tiếng sét.

Tên lính gầy khựng lại, tròn mắt nhìn ông Mạnh. Đội Hiếu cũng sững người một thoáng. Rồi mặt hắn tối sầm lại.

"Anh Mạnh... anh vừa nói gì?"

"Tui nói không được." Ông Mạnh ngẩng lên, mắt ông giờ đây nhìn thẳng vào Đội Hiếu. "Mấy ông là lính triều đình. Triều đình phải bảo vệ dân. Chớ không phải cướp của dân."

"Cướp?"

Đội Hiếu lặp lại từ đó như thể vừa nghe thấy điều gì buồn cười nhất trần đời. Hắn bước tới một bước. Rồi thêm một bước. Khoảng cách giữa hắn và ông Mạnh giờ chỉ còn một cánh tay.

"Thằng Mạnh. Mày nói tụi tao là... cướp?"

Hắn không đợi câu trả lời. Cây roi mây trong tay hắn vụt lên.

Vút.

Một đường roi quất ngang mặt ông Mạnh.

Tiếng roi chạm da thịt vang lên một tiếng "bốp" khô khốc. Ông Mạnh loạng choạng, ôm mặt, máu từ vết rách trên trán chảy xuống thấm đỏ cả bàn tay.

"TÍA!"

Lộc hét lên. Nó bật dậy, lao về phía tía nó. Nhưng một tên lính đã kịp tóm lấy cổ áo nó, xách nó lên như xách một con cá. Lộc giãy giụa, hai chân đạp vào không khí, nhưng sức một thằng bé mười tuổi chẳng thấm vào đâu so với bàn tay của gã lính lưng trần đầy hình xăm.

"Thả con tui ra!" Ông Mạnh gào lên, máu từ trán vẫn chảy ròng ròng. Ông định lao tới, nhưng Đội Hiếu đã lại vung roi.

Vút. Bốp.

Lần này roi quất vào lưng ông. Ông Mạnh ngã sấp xuống bùn, ôm lưng, rên lên đau đớn. Cái rổ cá đổ lăn ra đất. Những con cá rô đồng, cá sặc bướm giãy đành đạch trong bùn, vảy bạc lấp lánh như những mảnh trăng vỡ.

Dân chợ đứng chết lặng. Có người quay mặt đi. Có người ôm miệng, nước mắt lăn. Nhưng không ai dám lên tiếng. Không ai dám can.

Lộc bị xách lên, hai chân không chạm đất. Nó không khóc. Mắt nó mở to, khô khốc, nhìn tía nó đang nằm dưới bùn, máu trên trán hòa với nước bẩn. Nó nhìn cây roi trong tay Đội Hiếu đang vung lên lần thứ ba. Nó nhìn những con cá đang giãy chết dưới đất. Và nó nhìn gương mặt tía nó, một gương mặt đàn ông lam lũ, hiền lành, giờ đây méo xệch vì đau đớn.

"Ổng nói tụi tui là cướp."

Đội Hiếu nói, giọng hắn đều đều như đang kể chuyện. Hắn quay sang đám đông, cây roi vẫn lăm lăm trong tay.

"Bà con nghe cho rõ. Quân Đông Sơn tụi tui vào sinh ra tử, xông pha trận mạc, lấy máu xương đổi lấy bình yên cho xứ này. Vậy mà có kẻ dám gọi tụi tui là cướp. Có kẻ dám chống lệnh triều đình."

Hắn dừng lại, nhìn xuống ông Mạnh đang cố gượng dậy.

"Mạnh. Tao hỏi mày lần cuối. Mày có chịu nộp lương thực cho triều đình không?"

Ông Mạnh chống tay xuống bùn, run rẩy đứng dậy. Máu từ trán chảy xuống che khuất một bên mắt. Nhưng ông vẫn ngẩng lên. Mắt ông vẫn nhìn thẳng vào Đội Hiếu.

"Tui... tui đã nói rồi. Mấy ông... là cướp."

Im lặng.

Rồi Đội Hiếu gật gù, như thể vừa nghe được một điều hắn đã đoán trước.

"Được."

Hắn giơ cây roi lên. Lần này, hắn không quất ngang. Hắn vụt thẳng từ trên xuống, như một lưỡi đao chém xuống đầu.

Nhưng lần này, roi không chạm vào ông Mạnh.

Một bàn tay đã tóm lấy đầu roi.

Đó là bàn tay của một ông già.

Ông già đứng sau lưng ông Mạnh từ lúc nào. Người ông gầy gò, lưng hơi còng, mặc bộ quần áo vá chằng vá đụp, đầu đội nón rách, trông chẳng khác gì lão ăn mày. Nhưng bàn tay nắm đầu roi của ông thì chắc như gọng kìm sắt. Cả khu chợ nín thở.

Đội Hiếu giật mạnh cây roi, nhưng không rút ra được. Hắn trợn mắt:

"Ông già... Ông muốn chết à?"

Ông già không trả lời. Ông chỉ từ từ thả đầu roi ra, rồi cúi xuống, đỡ ông Mạnh dậy. Động tác chậm rãi, bình thản như không có gì xảy ra.

"Thôi. Được rồi." Ông già nói, giọng khàn khàn như tiếng gió qua kẽ lá. "Cá đây, mấy ông lấy hết đi. Còn người này... để ổng về với vợ con."

Đội Hiếu nhìn ông già, ánh mắt dao động trong thoáng chốc. Có gì đó trong giọng nói của lão già này khiến hắn thấy gai gai sống lưng. Nhưng rồi hắn lại nhếch mép, cố giữ vẻ kênh kiệu:

"Lão biết điều đấy. Nhưng mà..." Hắn liếc sang ông Mạnh, người vừa được ông già đỡ đứng dậy. "Kẻ chống lệnh, xúc phạm quan quân, phải bị trừng trị để làm gương."

Dứt lời, hắn bất ngờ vung chân, đạp mạnh vào bụng ông Mạnh.

Cú đạp trúng giữa thượng vị. Ông Mạnh bắn người ra sau, đập lưng vào gốc cây bần già. Tiếng "rắc" khô khốc vang lên. Không ai biết đó là tiếng xương gãy hay tiếng cành cây gãy. Ông Mạnh trượt xuống, ngồi phịch dưới gốc cây, đầu gục xuống, máu từ miệng trào ra.

"Tía!"

Lộc vùng vẫy điên cuồng. Không biết sức mạnh từ đâu, nó thoát được khỏi tay tên lính, lao tới bên ông Mạnh. Nó quỳ xuống, hai tay ôm lấy đầu tía nó, máu từ miệng ông thấm đỏ cả áo nó.

"Tía... tía... tía ơi..."

Lần đầu tiên trong đời, giọng Lộc run lên. Nhưng mắt nó vẫn không khóc. Đôi mắt to, lơ đễnh ngày thường, giờ đây mở to hết cỡ, nhìn chằm chằm vào gương mặt nhợt nhạt của tía.

Ông Mạnh mở mắt. Mắt ông đã mờ đi, nhưng ông vẫn nhận ra thằng con trai. Ông cố nhếch môi, định nói điều gì đó. Nhưng chỉ có máu trào ra. Rồi mắt ông từ từ nhắm lại.

"Tía! Tía đừng ngủ! Tía!"

Lộc lay mạnh vai ông. Nhưng thân thể ông Mạnh đã mềm nhũn, đầu gục hẳn xuống, máu từ miệng vẫn chảy, từng giọt, từng giọt, thấm vào gốc bần già.

Đội Hiếu đứng nhìn, mặt không chút biểu cảm. Hắn phủi tay, quay sang đám lính:

"Lấy hết cá. Rồi đi."

Mấy tên lính cúi xuống, hốt vội những con cá còn đang giãy trong bùn, bỏ vào bao tải. Tên lính gầy còn tiện tay giật luôn cái cân đĩa của Lộc, ném cho đồng bọn. Chỉ trong chốc lát, chỗ cá của ông Mạnh đã sạch bóng. Chỉ còn lại vũng bùn lầy lội, lấm tấm vảy cá, và một vệt máu dài loang trên mặt đất.

Đội Hiếu quay lưng, bước đi. Được vài bước, hắn dừng lại, ngoái đầu nhìn Lộc đang ôm xác cha:

"Nói với má mày. Coi đây là bài học. Đừng có chống lại triều đình."

Rồi hắn đi thẳng. Toán lính theo sau, tiếng chân bì bõm trong bùn xa dần.

Khu chợ vẫn im phăng phắc. Mãi một lúc sau, mới có tiếng khóc thút thít của một bà hàng xén. Rồi tiếng xì xào, tiếng thở dài, tiếng chân người lặng lẽ tản ra. Có người đến gần, định giúp Lộc đỡ ông Mạnh dậy. Nhưng ông già ban nãy đã ngăn lại.

Ông già cúi xuống, đặt tay lên vai Lộc. Giọng ông trầm và chậm, như tiếng chuông chùa vọng từ xa:

"Thôi con. Tía con đi rồi."

Lộc không trả lời. Nó vẫn ôm chặt lấy đầu tía, mắt mở to, khô khốc. Gương mặt nó, dưới ánh nắng trưa, vẫn giữ nguyên vẻ ngờ nghệch thường ngày. Nhưng có gì đó trong đôi mắt đã thay đổi.

Đôi mắt của một đứa trẻ mười tuổi vừa chứng kiến tía mình bị đánh chết ngay trước mặt.

Đôi mắt không khóc.

Nhưng lạnh như nước sông mùa lũ.

Ông già thở dài, rút từ trong người ra một miếng vải sạch, lau mặt cho ông Mạnh. Ông chắp tay, lẩm nhẩm điều gì đó như cầu kinh. Rồi ông quay sang Lộc:

"Con tên gì?"

Lộc không đáp. Một lúc lâu sau, khi ông già định hỏi lại, nó mới mấp máy môi:

"Lộc. Trần Nguyên Lộc."

"Lộc à." Ông già gật gù. "Con có muốn báo thù cho tía không?"

Câu hỏi ấy đột ngột như một nhát dao. Lộc ngước lên, nhìn ông già. Đôi mắt nó lần đầu tiên trong buổi sáng hôm ấy chớp động. Nó không trả lời. Nhưng cái cách nó siết chặt lấy tay tía đã nói lên tất cả.

Ông già lại gật đầu, như thể đã hiểu.

"Vậy thì... rồi sẽ có ngày. Nhưng không phải hôm nay. Hôm nay, con phải đưa tía về với má. Có biết đường về không?"

"Dạ."

"Tốt."

Ông già đứng dậy, phủi ống quần. Ông nhìn xuống thằng bé một lần nữa, ánh mắt như muốn khắc ghi điều gì. Rồi ông quay lưng, lặng lẽ bước đi, hòa vào dòng người đang dần tản ra khỏi chợ.

Lộc ngồi đó, giữa vũng bùn và máu, ôm xác cha. Nắng trưa đổ xuống gay gắt. Ruồi nhặng bắt đầu bu tới. Nhưng nó vẫn ngồi im, như một pho tượng đá.

Một lúc lâu sau, có tiếng chân người chạy huỳnh huỵch. Là chú Tư Bảy, người làng chài dưới bến, vừa nghe tin dữ. Chú chạy tới, thấy cảnh tượng ấy, lặng người một lúc rồi cúi xuống:

"Lộc... về thôi con. Để chú đưa tía con về."

Lộc ngước lên nhìn chú Tư Bảy. Rồi nó từ từ đứng dậy. Chân nó tê cứng vì ngồi quá lâu, nhưng nó không loạng choạng. Nó cúi xuống, cùng chú Tư Bảy khiêng xác tía lên xuồng.

Xuồng rời bến chợ Mỹ Tho, xuôi dòng sông Tiền, chở theo xác một người đàn ông và một đứa trẻ không khóc.

Suốt dọc đường về, Lộc không nói một lời. Nó ngồi ở mũi xuồng, tay vẫn nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của tía. Gió sông thổi qua, cuốn theo mùi máu tanh. Nước sông vẫn chảy, đều đặn và vô tình, như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Và trong đầu Nguyên Lộc, lần đầu tiên, hình ảnh một gã đàn ông mặt sẹo, tay cầm roi mây, hiện lên rõ ràng như một vết sẹo không bao giờ lành.

Nó sẽ nhớ.

Nó sẽ nhớ rất lâu.

Bởi vì đó là thứ duy nhất nó giỏi.

Má Lộc ngất xỉu khi thấy xác chồng được khiêng vào sân. Con bé An khóc thét lên, ôm chặt lấy chân má, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Thằng Sinh đứng chết trân ở góc sân, mặt trắng bệch như tờ giấy, hai tay nắm chặt đến bật máu.

Cả xóm chài nhỏ ven sông hôm ấy chìm trong tiếng khóc.

Riêng Nguyên Lộc, nó vẫn không khóc.

Nó ngồi bên xác tía suốt đêm hôm ấy, mắt mở to, nhìn ngọn đèn dầu leo lét cháy. Gương mặt nó, dưới ánh đèn, vẫn ngờ nghệch như mọi ngày.

Nhưng đôi mắt thì không còn lơ đễnh nữa.

Đôi mắt ấy giờ đây lặng lẽ ghi nhớ từng chi tiết, từng khuôn mặt, từng giọng nói.

Đội Hiếu.

Gã lính gầy.

Gã lính xăm mình.

Và cả ông già mặc áo vá, người đã nắm đầu roi cứu tía nó dù chỉ trong giây lát.

Nó sẽ nhớ hết.

Để một ngày...

Chú thích

(1) Chợ Mỹ Tho, phủ Mỹ Tho, dinh Trấn Định: Chợ Mỹ Tho xưa nằm bên bờ sông Tiền, gần vàm sông Bảo Định, là một trong những trung tâm thương mại sầm uất nhất vùng đất Định Tường (nay là Tiền Giang). Dinh Trấn Định được chúa Nguyễn thành lập năm 1779, quản lý vùng đất từ sông Tiền đến sông Vàm Cỏ. Chợ Mỹ Tho thời kỳ này là nơi tập trung nhiều thương lái người Hoa, người Việt và cả thương nhân phương Tây đến buôn bán lúa gạo, thủy sản.

(2) Dầy: Đánh bắt cá bằng cách thả lưới hoặc đặt nơm qua đêm (phương ngữ Nam Bộ). Cá "dầy" là cá đánh bắt được sau một đêm.

(3) Một sào: Đơn vị đo chiều dài dân gian, thường dùng để ước lượng chiều cao của mặt trời. Một sào tương đương khoảng 2-3 mét. "Nắng lên một sào" nghĩa là mặt trời đã lên cao khỏi mặt đất chừng ấy.

(4) Mắc: Đắt, giá cao (phương ngữ Nam Bộ).

(5) Đội Hiếu: Chức "đội" là cấp chỉ huy nhỏ trong quân đội thời chúa Nguyễn và Tây Sơn, quản lý khoảng 10-50 lính. Quân Đông Sơn dưới quyền tướng Đỗ Thành Nhơn có nhiều đội trưởng như vậy, nổi tiếng vì sự ngang tàng, cậy công lấn lướt cả quan lại địa phương. Việc quân Đông Sơn cướp bóc dân chúng và thương thuyền là một trong những nguyên nhân chính khiến Nguyễn Ánh quyết định thanh trừng lực lượng này bằng cách sát hại chủ tướng Đỗ Thành Nhơn vào năm 1781. Nhân vật Đội Hiếu là hư cấu, nhưng đại diện cho kiểu hành vi có thật của một bộ phận quân Đông Sơn trong giai đoạn 1778-1781.

0
Ủng hộ tác giả Viên An Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.