Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 1: Man Di

Chương 22: Bài Toán

Đăng: 14/06/2026 02:53 2,897 từ 3 lượt đọc

Ngày thứ ba Lý Trực ở lại, Nam Kha nói muốn ra trạm dừng của thương nhân.

Anh không giải thích tại sao, mà Lý Trực cũng không hỏi. Ông ta chỉ nhìn Nam Kha một lúc theo cách đã quen từ mấy ngày nay, cách nhìn của người đang theo dõi một thứ gì đó vẫn chưa hiện ra đủ rõ để đặt tên, rồi gật đầu.

Họ đi qua khu rừng trong buổi sáng còn sương, Lý Trực đi trước, Nam Kha theo sau. Trên đường, ông ta tiếp tục dạy Nhã ngữ theo cách di động như chỉ vào vết bánh xe trên đất sét nói "xa," chỉ vào phân trâu khô bên đường nói "ngưu," chỉ vào mặt trời lọc qua tán cây nói "nhật." Nam Kha lặp lại, ghi nhớ và bước tiếp. Học giữa đường hiệu quả hơn ngồi yên học vì từ ngữ nằm trong bối cảnh thật, không phải trong không khí.

Đến một lúc Lý Trực chỉ cho Nam Kha thêm thứ khác là sự khác biệt giữa đường mòn của thương nhân và đường mòn của thổ phỉ. Đường của thương nhân có vết bánh xe sâu và đều, phân trâu cũ nhiều lớp, bên lề thỉnh thoảng có dấu chân mang giày. Đường của thổ phỉ hẹp hơn, không vết xe, dấu chân trần nhiều hơn giày, cỏ bị dẫm theo kiểu người đi nhanh hơn người đi buôn. Kiến thức nhỏ nhưng thiết thực, loại kiến thức chỉ có được bằng cách đi nhiều hơn đọc nhiều.

Trong đầu Nam Kha có gì đó lập tức ghi nhận một cách lặng lẽ như mọi khi.

Trạm dừng hiện ra sau một khúc cua, nhỏ hơn Nam Kha tưởng nhưng không phải vì có ít người. Đó là khoảng đất bằng rộng cỡ một sân nhỏ, nằm ở ngã ba đường, hai bên có mái che tranh dựng vội trên cột gỗ. Vài gia đình sinh sống ở đây bằng cách bán nước, thức ăn nóng và cỏ khô cho trâu kéo xe. Một giếng đất nằm ở giữa, dây thừng cũ buộc vào miệng giếng, cái xô gỗ đã đen bóng vì dùng lâu. Mấy con trâu đứng ăn cỏ gần đó, lưng bóng mồ hôi, đuôi đập đập theo phản xạ không cần lý do.

Đoàn xe đang dừng ở đây không phải đoàn của Doãn Phúc mà là một đoàn khác, nhỏ hơn, bốn chiếc xe trâu xếp thành hàng không đều. Người của đoàn xe đang ngồi ăn gần mái che, tiếng Nhã ngữ vọng ra, giọng mệt và chậm của người đi đường nhiều ngày. Vài người hộ vệ ngồi xa hơn, giáo dựng cạnh, mắt nhìn không có điểm nhất định.

Ở góc xa mái che, một người lái xe đang nói chuyện với người bán nước, giọng thấp nhưng đủ để Nam Kha bắt được vài từ Nhã ngữ mà anh đã học như "nô lệ," "đường rừng," "mấy hôm trước." Lý Trực nghe thấy, liếc nhìn Nam Kha nhưng không nói gì. Cái liếc đó đủ để xác nhận rằng Tào Thiệu hoặc người của hắn đã đi qua vùng này gần đây, và không phải chỉ mình Nam Kha biết.

Mùi phân trâu và mùi cỏ khô và mùi gì đó đang nấu trên bếp lẫn vào nhau thành một thứ mùi không có tên riêng nhưng sẽ mãi gắn với cái hình ảnh này trong trí nhớ.

Nam Kha đang quan sát thì Lý Trực nắm cánh tay anh, kéo nhẹ sang bên, sau chiếc xe trâu dừng gần nhất. Ông ta không nói gì mà chỉ kéo anh đi.

Từ hướng đường mòn phía bắc, bốn người đang đi đến. Người đi đầu cao, gầy, mặt có vết sẹo dọc từ thái dương trái xuống gần cằm.

Tào Thiệu.

Hắn bước vào trạm bình thường như bất kỳ thương nhân nào. Không uy hiếp, không to tiếng, hắn chỉ đi thẳng đến chỗ người bán nước, ngồi xuống, nói chuyện bằng giọng bằng phẳng. Nam Kha không nghe rõ hết nhưng bắt được vài từ như "đường phía tây," "nhóm mới."

Rồi Tào Thiệu đặt một thanh đồng nhỏ lên mặt bàn. Người bán nước nhận, nhìn thanh đồng, nhìn Tào Thiệu, rồi chỉ tay về hướng tây nam.

Tào Thiệu không vội đi. Hắn ngồi uống nước, mắt nhìn quanh trạm theo cách mà Nam Kha nhận ra ngay là hắn ta đang quan sát vết bánh xe trên đất. Cái kiểu quan sát đúng cách Lý Trực vừa dạy Nam Kha sáng nay, từ độ sâu vết lún biết xe nặng hay nhẹ, từ khoảng cách hai vết biết loại xe nào, từ phân trâu cũ mới biết đoàn nào qua gần đây. Hắn ta quan sát nhanh, không nhìn quá lâu vào chỗ nào, nhưng mắt dừng ở đúng những chỗ có thông tin cần thiết.

Một thuộc hạ đến bên, nói nhỏ. Tào Thiệu nghe, mắt không rời mặt đất, rồi hắn nói một câu:

"Đổi đường. Đi vòng qua sông."

Thuộc hạ không hỏi lại. Cả nhóm đổi hướng ngay, nhanh gọn như người đã quen nghe lệnh và làm theo mà không cần giải thích.

Nam Kha nhìn cảnh đó từ sau xe trâu. Tào Thiệu không phải tên côn đồ. Hắn ta mua thông tin bằng đồng, không bằng đe dọa. Hắn quan sát địa hình nhanh hơn Nam Kha. Hắn ra quyết định trong một nhịp thở và thuộc hạ nghe lệnh tuyệt đối.

Bốn năm ở vùng rừng này, Tào Thiệu tồn tại được lâu thế là vì vậy.

Lý Trực đợi cho nhóm Tào Thiệu khuất vào đường mòn phía bắc mới buông tay Nam Kha ra. Ông ta nhìn theo, im lặng một lúc, rồi nói nhỏ:

"Hắn mua thông tin giỏi hơn nhiều người ta biết."

Rồi Lý Trực dừng một nhịp.

"Tên đó không phải loại liều lĩnh, mà là loại biết tính toán."

Nam Kha ghi nhận. Trong đầu anh, hình ảnh Tào Thiệu ngồi đọc vết xe và hình ảnh Tào Thiệu nhìn thẳng vào mặt anh ở bìa rừng hôm trước nằm cạnh nhau, tạo thành một bức tranh rõ hơn. Kẻ này nguy hiểm không phải vì mạnh mà vì giỏi thật sự.

Nam Kha đứng ở rìa trạm, vai tựa vào cột gỗ mái che. Lý Trực đứng cạnh, không giải thích gì, để anh nhìn. Đoàn bốn xe vẫn dừng ở đó, người ăn, trâu đứng, hàng xếp trên xe phủ vải thô.

Nam Kha nhìn cảnh này và thấy những thứ mà không ai ở đây thấy, không phải vì họ mù mà vì họ chưa bao giờ biết có cách khác. Anh biết vì anh đến từ nơi đã có cách khác rồi. Anh nhận ra hàng hóa chất trên xe theo kiểu tích lũy hơn là sắp xếp, nặng nhẹ không phân biệt, muối để cạnh vải, thịt khô bọc sơ sài bằng lá chuối đã héo. Anh còn để ý cách che chắn hàng là một tấm vải thô kéo ngang trên xe rồi buộc lại bằng dây thừng, đủ để chặn mưa nhỏ, không đủ để chặn cái ẩm tích lũy từ bên dưới lên. Rồi Nam Kha chú ý đến màu sắc của một góc bao vải, loang ố theo kiểu của muối ướt đã khô lại rồi lại ướt nhiều lần.

Không ai nhìn những điều đó như vấn đề. Người của đoàn xe ăn cơm, nói chuyện, buộc lại dây thừng bị lỏng ở một chỗ. Người bán nước múc nước, trâu thì ăn cỏ. Thế giới vận hành theo cách bình thường ở thời đại này.

Rồi Nam Kha nhìn thêm. Thứ anh thấy tiếp theo là người đàn ông trung niên ngồi cạnh xe ngoài cùng. Ông ta mặc áo người lái xe, đang cầm một cái bao vải nhỏ dốc ra đất. Muối đổ xuống thành một vệt trắng lẫn nâu, đã vón cục và ướt. Ông ta nhìn vệt muối đó, lắc đầu theo kiểu người thấy thứ không thể dùng được nữa, rồi đứng dậy lấy chân gạt vệt muối sang bên, phủi tay, quay đi tìm chỗ ngồi khác.

Nam Kha nhìn vệt muối đó trên đất. Không nhiều, nửa cái bao, có thể ít hơn. Nhưng ba mươi mấy người trong khe đá, mấy tuần trước, đã ăn cháo nhạt trong bao nhiêu ngày vì không có thứ này. Bà Cả nếm một muỗng rồi nhắm mắt lại. Thứ người đàn ông vừa gạt xuống đất bằng một động tác không cần suy nghĩ là thứ mà nhóm anh từng coi là quý giá để chia nhau từng dúm nhỏ.

Nam Kha đứng nhìn vệt muối đó thêm một lúc. Thứ người ta vứt đi không phải vì nó vô giá trị, mà vì nó đã trở thành thứ vô dụng do họ không biết cách giữ.

Anh nhìn đoàn xe tiếp tục. Bây giờ mắt anh không chỉ thấy muối nữa mà thấy toàn bộ hệ thống, hoặc đúng hơn là thấy những chỗ trong hệ thống không tồn tại mà đáng lẽ phải có.

Vải bị mốc ở góc bao, ai cũng nhìn thấy nhưng không ai ngăn nó từ sớm vì không biết cách ngăn. Thịt khô treo bên hông xe, gió và nắng đôi khi giúp, mưa và ẩm đôi khi hỏng, không ai kiểm soát được tỉ lệ giữa hai thứ đó. Muối ướt thì đổ đi, vải mốc thì cắt bỏ phần hỏng, thịt hỏng thì bán nhanh ở trạm gần nhất với giá rẻ hơn, coi như lỗ một phần thay vì lỗ toàn bộ.

Nam Kha không biết con số chính xác. Nhưng nếu hai mươi, ba mươi phần trăm hàng hóa hao hụt mỗi chuyến, và nếu giảm được dù chỉ một nửa trong đó, Doãn Phúc sẽ lời thêm bao nhiêu? Đủ để ông ta nhìn nhóm man di trong rừng bằng con mắt khác, đủ để khoảng cách giữa "kẻ xin xỏ" và "người đáng giao dịch" thu hẹp lại trong một chuyến hàng.

Và thứ cần để làm điều đó đang nằm ngay dưới chân anh đây, khu rừng với đầy than củi và lá khô.

Họ đi về khi mặt trời đã qua đỉnh đầu. Lý Trực không hỏi gì trong suốt buổi sáng ở trạm và không hỏi gì trên đường về. Ông ta chỉ đi, thỉnh thoảng chỉ vào thứ gì đó bên đường dạy thêm một từ Nhã ngữ, như thể không có gì đặc biệt đang xảy ra trong đầu người đi cùng ông ta.

Về đến khu vực khe đá, Nam Kha không vào trong ngay. Anh dừng ở khoảng đất bằng dưới tán cây, nhặt que rồi ngồi xuống.

"Ngồi đây một lúc được không?"

Anh hỏi Lý Trực.

Ông ta ngồi xuốngbên cạnh, không nói gì.

Nam Kha vẽ trên đất, không phải chữ Nhã ngữ mà là sơ đồ. Anh vẽ mặt cắt ngang một xe hàng nhìn từ bên cạnh. Vẽ đơn giản, đường thẳng và hình chữ nhật, đủ để truyền đạt ý. Ông ta nhìn vào sơ đồ, im lặng chờ.

Nam Kha bắt đầu giải thích, dùng tiếng Lạc Việt pha Nhã ngữ còn vụng nhưng đủ rõ.

"Hàng hóa trên xe bị hỏng vì ẩm."

Anh nói.

"Muối ướt, vải mốc, thịt hỏng. Mỗi chuyến mất nhiều."

Ông ta gật, biết chuyện này.

"Vì sao ướt?"

Nam Kha chỉ vào sơ đồ.

"Hàng xếp sát nhau. Hơi ẩm từ dưới đất lên, từ không khí vào, từ hàng này sang hàng kia. Không có gì ngăn."

"Không ngăn được."

Lý Trực nói.

"Trời mưa thì ướt."

"Ngăn được một phần."

Nam Kha nói.

"Không cần hết. Giảm đi một phần đã đủ để lời rồi."

Ông ta nhìn anh không nói gì, nhưng không bác bỏ. Cử chỉ của người đang nghe thật sự.

Nam Kha vẽ thêm vào sơ đồ. Các lớp bên trong xe hàng gồm dưới cùng là lớp than củi nghiền nhỏ trộn lá khô, dày khoảng hai ngón tay. Trên đó là hàng hóa, xếp theo nguyên tắc nặng dưới nhẹ trên, dễ hỏng ở giữa bọc thêm vải. Giữa các kiện hàng, rắc thêm than và lá khô làm lớp đệm ngăn cách.

"Than củi hút ẩm."

Anh giải thích.

"Lá khô giữ than không rơi, cũng thêm một lớp ngăn. Rẻ và có sẵn trong rừng, không cần mua."

Lý Trực nhìn sơ đồ và ông ta im lặng lâu hơn Kha nghĩ. Không phải im lặng của người không hiểu mà im lặng của người đang xử lý thứ gì đó nhiều hơn chỉ một kỹ thuật đóng gói. Ông ta nhìn những đường vẽ trên đất sét, nhìn cái sơ đồ đơn giản đến mức một đứa trẻ có thể hiểu, và ông ta nghĩ đến thứ mà Nam Kha đoán ông ta đang nghĩ là ai đã dạy kẻ này thứ này, và từ đâu.

Ông ta đã quyết định không hỏi câu đó từ mấy hôm trước. Nhưng mỗi lần Nam Kha mở miệng, câu hỏi lại vang lên trong đầu ông ta một lần.

"Ngươi đã thử chưa?"

Lý Trực hỏi.

"Chưa. Nhưng nguyên lý đúng."

"Nguyên lý."

Ông ta nhắc lại từ đó bằng tiếng Lạc Việt, nhấn nhẹ theo kiểu người thấy từ này lạ miệng, rồi gật, chậm và dứt khoát.

Nam Kha xóa sơ đồ trên đất. Lý Trực ngồi nhìn chỗ đất vừa bị xóa thêm một lúc.

"Ta sẽ nói với Doãn ông."

Lý Trực nói sau đó.

"Trước khi ông ta đến."

Nam Kha gật đầu.

"Nhưng..."

Ông ta nhìn thẳng vào Nam Kha.

"Khi gặp ông ta, ngươi phải tự nói. Bằng Nhã ngữ, không qua ta."

Nam Kha im lặng một nhịp, không phải ngạc nhiên mà đang tính toán. Mấy ngày, từng này từ vựng, một bài trình bày kỹ thuật đóng gói trước mặt thương nhân hai mươi năm kinh nghiệm.

"Vì sao?"

Anh hỏi, dù phần lớn đã đoán ra câu trả lời.

Lý Trực giải thích bằng cách đặt câu hỏi ngược.

"Nếu ngươi muốn mua một con ngựa, ngươi nói chuyện với người bán ngựa hay người phiên dịch của người bán ngựa?"

Nam Kha hiểu.

Doãn Phúc là thương nhân, ông ta giao dịch với người, không giao dịch với ý tưởng. Nếu Nam Kha để Lý Trực nói hộ, ông ta sẽ thấy ý tưởng hay của một kẻ man di không nói được tiếng người. Nếu Nam Kha tự nói, dù vụng về, dù sai, ông ta sẽ thấy anh là người đáng giao dịch.

"Bảy ngày."

Nam Kha nói.

"Gần vậy."

Bảy ngày để học đủ Nhã ngữ trình bày một ý tưởng kinh doanh. Không phải xin xỏ, không phải giới thiệu bản thân mà là trình bày, giải thích, trả lời câu hỏi. Trước mặt người đã nghe hàng trăm đề nghị từ hàng trăm người và biết phân biệt đề nghị tốt thật sự với đề nghị nghe có vẻ tốt.

Khả năng học nhanh kỳ lạ của anh tốt, nhưng anh biết nó không phải phép màu. Chỉ là tốc độ học nhanh hơn người bình thường, không phải tức thì và không phải hoàn hảo.

"Được."

Anh nói.

Lý Trực gật, đứng dậy, phủi đất trên tay.

"Chiều nay ta dạy ngươi cách nói về hàng hóa. Sáng mai về đóng gói."

Ông ta nhìn xuống chỗ sơ đồ đã xóa.

"Và ngươi cần chuẩn bị hai mẫu. Một gói theo cách cũ, một gói theo cách ngươi vừa vẽ."

"Để cho Doãn ông nhìn thấy chứ không phải nghe nói."

"Ông ta là người buôn bán."

Lý Trực quay đi.

"Thứ ông ta tin là thứ ông ta sờ được bằng tay."

Chiều hôm đó, trong lúc Lý Trực dạy từ vựng về hàng hóa và giao dịch, Nam Kha giao việc cho Thảo và mấy người khác: thu thập than củi nghiền nhỏ, phơi lá khô, chuẩn bị vải và dây để thử nghiệm đóng gói. Anh không giải thích nhiều, chỉ nói thứ cần làm và thời hạn. Nhóm bắt đầu thực hiện mà không hỏi tại sao, đã quen với cách giao việc này.

Đến chiều tối, Lĩnh mang về mấy nắm than và đống lá khô đủ để thử. Thảo chuẩn bị hai túi vải nhỏ, nhét vào mỗi túi một nắm muối và một miếng vải mỏng. Một túi đóng theo cách thường, một túi đóng theo sơ đồ của Nam Kha với lớp than và lá khô. Cả hai buộc kín, đặt gần miệng suối nơi ẩm nhất vào ban đêm.

Trong khe đá, bà Cả đang kể chuyện cho An nghe. Tiếng bà vọng ra ngoài, nhỏ và đều.

Nam Kha ngồi ở cửa khe đá, ôn lại những từ Nhã ngữ về giao dịch mà Lý Trực vừa dạy. Anh thử phát âm từng từ trong đầu, không thành tiếng. Có những từ anh nhớ ngay, có những từ trơn tuột sau lần đầu.

Bảy ngày. Không phải để học hoàn hảo, chỉ cần đủ để người đứng trước anh thấy rằng đây là người đáng nghe tiếp, không phải kẻ man di cầm mấy nắm than củi đến xin việc.

0