Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 1: Man Di

Chương 21: Tiếng Trịnh

Đăng: 08/06/2026 22:41 2,556 từ 5 lượt đọc

Lý Trực đến khi sương buổi sáng vẫn còn đọng trên lá.

Nam Kha đang ngồi ngoài cửa khe đá, nhìn về đường mòn phía đông thì thấy bóng người đi từ hướng đoàn xe vào. Không vội, không chậm, bước thong thả theo kiểu người đã biết trước hôm nay mình làm gì và không cần chuẩn bị thêm. Áo dài ướt sương ở vai nhưng ông ta không để ý. Kiểu người đi nhiều đến mức quên mất rằng trời lạnh có thể là thứ đáng chú ý.

Nam Kha đứng dậy. Người đàn ông này hôm qua hứa điều gì đó không phải vì tình cảm mà vì thấy nó đáng làm. Loại người như vậy thì không cần ai nhắc mới làm.

"Sớm thật"

Nam Kha nói.

"Ta quen dậy sớm."

Lý Trực đặt chiếc túi nhỏ xuống gần chân, nhìn quanh, mắt dừng ở khoảng đất bằng phẳng dưới tán cây lớn cách cửa khe đá vài bước.

"Chỗ kia được không?"

Nam Kha gật.

Lý Trực bắt đầu bằng cách nhặt một chiếc que và vẽ trên đất.

Ông ta không giải thích trước, không dẫn nhập, không kể lý thuyết mà chỉ làm. Lý Trực vẽ xong một nét, chỉ vào cây cối xung quanh và nói: "Mộc." Rồi nhìn Kha và chờ. Nam Kha lặp lại.

Ông ta vẽ thêm một nét khác, chỉ vào dòng sương mỏng còn vương trên mặt lá: "Thủy.". Nam Kha lặp lại. Tiếng Nhã ngữ trong miệng Lý Trực có nhịp điệu khác hẳn tiếng Lạc Việt, nặng ở chỗ khác, kéo dài ở chỗ khác, như một thứ nhạc cụ khác hẳn dù cùng chơi một bản nhạc.

Tiếng que vẽ trên đất xen với tiếng chim bắt đầu kêu từ phía rừng sâu hơn. Sương tan chậm, không khí lạnh nhạt dần theo ánh sáng.

Khả năng học nhanh hơn người của Nam Kha làm việc theo cách quen thuộc của nó. Lần đầu thì anh nghe chưa rõ, lần thứ hai đã gần đúng, lần thứ ba bám chặt vào trí nhớ mà không cần cố gắng. Nam Kha biết điều đó từ lâu và khả năng này làm việc lặng lẽ và đều đặn như hơi thở.

Lý Trực nhận ra sau chưa đầy nửa canh giờ. Ông ta không nói ra, chỉ tăng tốc độ dạy lên một chút, đưa từ mới vào nhanh hơn, chờ xem Nam Kha có theo kịp không. Kết quả là Nam Kha theo kịp và ông ta tăng thêm một lần nữa.

Lần đầu tiên từ sáng đến giờ, mặt ông ta thay đổi một chút, không hẳn là cười nhưng cũng không còn hoàn toàn bằng phẳng. Ông ta không nói gì về điều đó, chỉ tiếp tục dạy, nhanh hơn, như người vừa tìm ra giới hạn thật của con ngựa mình đang cưỡi và muốn biết giới hạn đó ở đâu.

Khoảng giữa buổi sáng, ông ta bắt đầu dạy cách xưng hô. Đây là phần phức tạp hơn vì tiếng Nhã ngữ phân biệt rõ người trên, người ngang hàng, người dưới, và gọi sai một bậc có thể gây ra rắc rối lớn hơn nhiều so với nói sai một từ đơn giản. Ông ta giải thích dài, lấy nhiều ví dụ, vẽ trên đất ba vòng tròn lồng nhau để minh họa tầng bậc. Giọng ông ta có nhịp khi nói về điều quen thuộc, gần giống người đọc thuộc lòng một đoạn văn từ lâu đến mức không cần nghĩ nữa.

Ông ta lấy ví dụ gần nhất:

"Ông chủ đoàn xe, họ Doãn, tên Phúc. Nếu ngươi gặp ông ta lần đầu, gọi 'Doãn ông.' Nếu quen hơn, có thể gọi tắt, nhưng không bao giờ gọi tên. Gọi tên người lớn tuổi hơn mình ngoài mặt là sỉ nhục."

Nam Kha nghe, nhìn ba vòng tròn, nhìn lại Lý Trực.

"Với Doãn thì ông dùng loại nào?"

Anh hỏi.

Lý Trực dừng lại.

"Phụ thuộc vào tình huống. Nếu ngươi ở trong thành, trước mặt quý tộc, thì phải dùng kiểu thứ nhất vì thương nhân thấp hơn quý tộc. Còn nếu chỉ hai người gặp nhau ngoài đường..."

"Kiểu thứ hai."

Nam Kha nói.

"Vì Doãn ông không phải quý tộc."

Không phải câu hỏi mà là kết luận từ những gì Lý Trực vừa giải thích, rút ra trong lúc ông ta đang nói chứ không cần chờ ông ta nói xong.

Lý Trực nhìn Nam Kha với khoảng thời gian bằng hai nhịp thở. Rồi ông ta gật đầu, xóa phần vừa vẽ trên đất và vẽ lại theo hướng khác, không giải thích lý do đổi hướng. Từ đó trở đi, ông ta không giải thích nhiều nữa mà chỉ đưa ví dụ và chờ xem Kha rút ra quy tắc gì. Cách dạy thay đổi theo người học, không theo giáo trình.

Gần cuối buổi sáng, tiếng bước chân nhẹ từ phía cửa khe đá. Mị Linh bước ra ngoài, tay cầm cái bình đất nung đi về phía suối. Nàng đi ngang qua chỗ hai người đang học, nghe Lý Trực đang phát âm một từ Nhã ngữ mới để Nam Kha lặp lại, cô ta chậm lại đúng một nhịp rồi tiếp tục bước đi. Không dừng, không hỏi. Nam Kha nhìn theo lưng Mị Linh và không nói gì.

Họ đổi chiều sau đó, Nam Kha chỉ vào từng thứ xung quanh và dạy tên tiếng Lạc Việt. Lý Trực học chậm hơn nhiều nhưng không bao giờ hỏi lại cùng một từ hai lần. Ông ta nhắm mắt khi lặp lại, nghe âm thanh hơn là nhìn miệng, cách ghi nhớ của người quen làm việc với ngôn ngữ đã lâu và biết rằng tai đáng tin hơn mắt trong việc này.

Hai người dạy nhau trong buổi sáng đó mà không ai hoàn toàn là thầy, cũng không ai hoàn toàn là trò.

Gần trưa, tiếng vó ngựa xuất phát từ phía đường mòn. Không phải đoàn xe lớn mà chỉ một người hộ vệ cưỡi ngựa, mang theo túi buộc chặt. Người đó đặt túi xuống trước mặt Nam Kha, nói một câu Nhã ngữ ngắn rồi quay đi không chờ phản hồi.

Nam Kha mở ra, bên trong là muối và lương khô đủ vài ngày, một ít vải băng bó mỏng. Thực dụng, không thừa không thiếu, đúng kiểu người tính toán cẩn thận trước khi cho đi thứ gì.

"Doãn ông gửi."

Lý Trực nói.

"Vì sao?"

Lý Trực ngồi xuống tảng đá gần đó.

"Ông ta giữ ta ở lại để theo dõi ngươi. Số vật dụng kia là chi phí theo dõi, không nhiều hơn không ít hơn."

Nam Kha xếp lại đồ vào túi, không ngạc nhiên và không biểu lộ thêm gì.

"Ông ta là người như thế nào?"

Anh hỏi.

Lý Trực suy nghĩ trước khi trả lời, không phải vì không biết mà vì đang tìm cách nói bằng tiếng Lạc Việt cho đúng ý.

"Hai mươi năm đi buôn trên tuyến đường này. Bị thổ phỉ chặn thì đàm phán, bị quan phủ gây khó dễ thì tìm người phù hợp mà hối lộ, bị chèn ép giá thì tìm chỗ khác bán, không phàn nàn."

Lý Trực dừng lại.

"Ông ta không phải người mạnh nhất, không phải người giàu nhất. Ông ta là người mà sau mỗi lần giao dịch, cả hai phía đều muốn gặp lại."

Lý Trực ngừng thêm một nhịp, tìm từ ngữ rồi nói tiếp:

"Ông ta nói với ta thế này: kẻ buôn giỏi không phải kẻ mua rẻ bán đắt, mà là kẻ khiến người ta nghĩ mình vừa được lợi hơn phía kia."

Nam Kha nghe câu đó và ghi nhận.

"Ngươi muốn biết về ông ta hơn thì ta kể một chuyện."

Lý Trực nói, giọng chuyển sang tông kể chuyện tự nhiên hơn.

"Năm ngoái, đoàn xe ông ta bị một nhóm thổ phỉ chặn ở đèo phía bắc. Không nhiều người, nhưng đủ để gây thiệt hại. Thay vì trả tiền bảo kê hoặc gọi hộ vệ đánh, ông ta mời đầu lĩnh thổ phỉ uống rượu."

Lý Trực dừng lại tìm cách diễn đạt rồi nói tiếp:

"Đầu lĩnh thổ phỉ hỏi ông ta muốn gì? Ông ta nói rằng mình muốn biết đường nào an toàn hơn đường ông đang đi. Và đầu lĩnh thổ phỉ biết rõ đường nào an toàn hơn ai hết, vì chính hắn ta biết chỗ nào nguy hiểm."

Ông ta nhìn Nam Kha.

"Ông ta không trả tiền bảo kê mà trả bằng hàng hóa, đổi lấy thông tin đường đi và cam kết không bị chặn trong một năm. Cả hai bên đều có lợi. Cả hai bên đều muốn lặp lại."

Nam Kha nghe xong, ngồi yên một lúc. Câu chuyện không có gì đặc biệt nếu nhìn bề mặt. Nhưng Lý Trực không chỉ kể một câu chuyện thôi mà ông ta kể để Nam Kha biết mình sắp phải thuyết phục kiểu người nào.

"Gần đây vùng này có lái buôn nô lệ hoạt động nhiều hơn."

Lý Trực nói tiếp, giọng trở lại bằng phẳng.

"Đường rừng mất an toàn, thương nhân chính đáng phải thuê thêm hộ vệ, chi phí tăng lên. Doãn ông không thích điều đó."

Ông ta nhìn Nam Kha.

"Đó là lý do ông ta chú ý đến nhóm ngươi. Người biết rừng và biết đánh, ở vùng này lúc này, không dễ tìm."

Nam Kha không hỏi thêm. Tào Thiệu làm đường rừng mất an toàn. Doãn Phúc cần đường rừng an toàn. Anh thấy chỗ hai thứ đó gặp nhau, nhưng chưa nói ra.

Buổi chiều, nhóm vận hành theo nhịp đã thành hình từ mươi ngày trước.

Mị Linh dẫn nhóm luyện tập ở khoảng đất trống gần khe đá, đang chạy cùng họ thay vì đứng nhìn. Mồ hôi ướt vai áo cô ta và mấy người chạy cùng như nhau, không ai được ưu tiên. Một người đàn ông trung niên trong nhóm mới vấp, dừng lại, đặt tay lên đầu gối thở. Mị Linh dừng theo, nhìn ông ta, không nói gì. Ông ta tự đứng dậy và chạy tiếp, rồi cô ta quay đi.

Không xa đó, Đăng ngồi trên tảng đá thấp, chân phải vẫn duỗi thẳng, đang chỉnh tư thế cầm gậy cho hai người trẻ đứng trước mặt. Không thể đứng dậy trình diễn nên ông ta nói bằng tay, cầm một mẩu gỗ ngắn làm mẫu, chỉ từng điểm một từ khuỷu tay, cổ tay, khoảng cách giữa hai chân. Người học nhìn vào tay ông ta và sửa theo. Sai thì ông ta nói "lại," đúng thì ông ta không nói gì, mắt đã nhìn sang người kế tiếp.

Bà Cả ngồi cùng bọn trẻ gần cửa khe đá, dạy chúng bện dây thừng từ vỏ cây phơi khô. Mùi vỏ cây tươi và đất ẩm quanh chỗ bà ngồi lẫn vào nhau. An ngồi sát bên, vừa bện vừa thỉnh thoảng ngẩng lên nhìn bàn tay bà so sánh với bàn tay mình. Bà Cả không sửa bằng lời, chỉ cầm tay An chỉnh lại một nhịp, rồi buông ra cho cậu bé tự làm tiếp.

Nam Kha đứng nhìn tất cả những điều đó từ cửa khe đá. Buổi sáng anh ngồi học dưới tán cây, buổi chiều nhóm anh đang luyện tập và làm việc như thể họ đã ở đây từ lâu, như thể khe đá này không phải nơi tạm dừng mà đang dần thành nơi ở. Không phải anh hoạch định điều đó từ đầu. Nó tự xảy ra theo từng ngày nhỏ, từng việc nhỏ, từng người tìm ra chỗ của mình mà không cần ai chỉ định. Anh không biết đó là điều tốt hay chỉ là ảo giác của sự ổn định trước khi Tào Thiệu tìm ra vị trí mới của nhóm.

Thật ra anh biết câu trả lời. Anh chỉ chưa muốn nghĩ đến nó khi trời vẫn còn sáng.

Tối đến sớm, mây kéo về từ phía tây che khuất phần lớn bầu trời trước khi hoàng hôn kịp đỏ. Bên trong khe đá, bà Cả nhóm lửa nhỏ, đủ ấm không đủ sáng để nhìn thấy từ xa. Tiếng củi tách nhẹ, tiếng người thở đều dần, tiếng côn trùng bắt đầu từ phía rừng.

Nam Kha ngồi ngoài cửa khe đá. Lý Trực ngồi cạnh, kéo thêm lớp áo vào người chống lạnh.

"Đoàn xe Doãn ông sẽ quay lại tuyến này trong khoảng bảy đến mười ngày."

Ông ta nói, mắt nhìn ra bóng cây phía trước.

"Lần này có chuyến hàng lớn, sẽ dừng lâu hơn ở trạm phía đông để kiểm tra."

Nam Kha nghe nhưng không hỏi ngay.

"Lần trước ngươi cứu đoàn xe. Ông ta trả bằng muối và vải vì đó là nợ sòng phẳng."

Giọng Lý Trực bằng phẳng như người đang giải thích quy tắc chứ không phải đang khuyên bảo.

"Nếu lần tới ngươi đến chỉ để xin thêm, ông ta sẽ cho vì bản tính ông ta vốn vậy. Nhưng mỗi lần ngươi ngửa tay, khoảng cách giữa hai người rộng thêm theo hướng ngươi không muốn."

Lý Trực dừng, tìm cách nói cho đúng ý, rồi tiếp:

"Nếu ngươi đến với thứ gì đó ông ta cần, thứ mà ông ta nhìn vào biết ngay là có giá trị, lúc đó ngươi không còn là kẻ ông ta giúp đỡ mà là người ông ta muốn tiếp tục gặp."

Ông ta nói xong thì thôi, như người đã đặt thứ gì đó lên bàn và phần còn lại là việc của người khác.

Kha nhìn vào bóng tối phía rừng. Ba mươi mấy người bên trong, muối đủ khoảng ba tuần nếu tiết kiệm, mùa đông đang đến chậm nhưng chắc chắn, khoảng bảy đến mười ngày.

Anh nghĩ đến những gì mình biết mà người thời này chưa biết. Danh sách dài, hầu hết không dùng được khi không có nguyên liệu, không có công cụ. Nhưng vấn đề không phải anh biết bao nhiêu thứ, mà vấn đề là trong tất cả những thứ đó, cái nào là thứ Doãn Phúc đang nhìn thấy mỗi ngày mà chưa nhận ra là vấn đề.

Người ta không đi tìm giải pháp cho thứ họ chưa biết là vấn đề.

Bên trong khe đá, tiếng bà Cả kể chuyện nhỏ cho bọn trẻ trước khi ngủ. Không nghe rõ lời nhưng nghe được nhịp điệu của giọng bà, thấp và đều và quen thuộc như tiếng suối xa.

Muộn hơn, khi tiếng bà Cả đã ngừng và phần lớn nhóm đã ngủ, Kha nghe một âm thanh nhỏ từ phía suối. Ai đó đang thử phát âm gì đó, nhỏ đến mức gần như không nghe được, lặp lại vài lần rồi dừng rồi lại thử. Không phải tiếng Lạc Việt mà là âm thanh của tiếng Nhã ngữ mà Lý Trực dạy buổi sáng.

Nam Kha không quay đầu nhìn.

Anh đưa tay sờ vào túi áo. Sợi dây thun đỏ vẫn ở đó, ấm theo thân nhiệt.

Anh tiếp tục suy nghĩ.

0