Chương 20: Thử
(Từ chương này, đã dần chuyển khỏi giai đoạn sinh tồn, mình sẽ dùng "anh" thay vì "hắn" để nói về Nam Kha)
Mây nấu cháo có muối buổi sáng hôm đó. Không khác gì hôm qua về màu sắc, không khác gì về số lượng, chỉ khác ở cái vị mà người ta quên mất là thiếu cho đến khi có lại. Bà Cả cầm muỗng cháo lên, nếm thử, nhắm mắt một cái rồi thôi. Bà không nói gì, chỉ đặt muỗng xuống, rồi múc tiếp phần của người khác, như thể cái vị đó không đáng để dừng lại lâu hơn một nhịp thở.
Lĩnh phát vải cho người mới, không ai giao nhưng cậu ta tự làm, đi từ người này sang người kia, chia đều theo tay đo. Mấy đứa trẻ nhận vải nhìn lên mặt cậu ta, cậu ta không nói gì, chỉ gật đầu rồi đi tiếp. Lĩnh mười bốn tuổi, vai không còn gồng như tháng trước.
Đăng ngồi gần cửa khe đá, đầu gối phải được Thảo băng lại từ sáng sớm, chân duỗi thẳng không co được. Ông ta không đi lại nhưng đang gọt một cây gậy mới bằng con dao lấy được từ trận đánh hôm qua, tay đều và chậm, mặt bình thản như người không vừa bị đánh bật vào vách đá ngày hôm trước. Không phải bình thản vì không đau mà bình thản vì ông ta quen với loại đau này hơn người ta nghĩ.
Lý Trực đứng ở cửa khe đá, nhìn vào bên trong.
Nam Kha đứng cạnh ông ta, không nói gì, để ông ta nhìn. Lý Trực đã thấy nhiều thứ trong những năm tháng theo đoàn thương nhân. Ông ta thấy chiến trường sau khi lính rút đi, thấy làng mạc bị thổ phỉ đốt, thấy người chết trên đường và người sống sót nhờ may mắn. Nhưng thứ đang ở trước mặt ông ta không phải cảnh tàn phá cũng không phải cảnh thảm kịch. Ba mươi mấy người, già trẻ lớn bé, đang ăn sáng, đang phát vải, đang băng bó vết thương, đang gọt gậy và dỗ đứa trẻ đang khóc vì lạnh. Không ai ngồi chờ ai đến cứu, không ai nhìn về hướng bên ngoài với ánh mắt của kẻ đã bỏ cuộc.
Điều đó, Nam Kha đoán, là thứ Lý Trực chưa có danh mục để xếp vào.
Ông ta im lặng lâu hơn Nam Kha nghĩ.
"Bao lâu?"
ông ta hỏi bằng tiếng Lạc Việt chậm và rõ.
"Ba tháng. Gần bốn."
Lý Trực nhìn thêm một lúc rồi quay đi, không nói thêm gì về điều ông ta vừa thấy. Không cần nói vì thứ đang diễn ra ở trong mắt ông ta đã nói thay rồi.
Buổi trưa, hai người ngồi bên ngoài khe đá ở gốc cây quen thuộc của Nam Kha. Không phải chỗ kín, nhưng đủ xa để người trong khe đá không nghe thấy. Lý Trực ngồi thẳng lưng, chân khoanh lại, tay đặt lên gối theo tư thế của người quen ngồi học và dạy, không phải ngồi nghỉ. Nam Kha ngồi cạnh, thoải mái hơn, lưng tựa thân cây.
Lý Trực bắt đầu bằng cách kể, không phải hỏi. Tiếng Lạc Việt của ông ta rõ hơn Nam Kha tưởng nhưng vẫn có nhịp lạ, một số chữ nặng theo kiểu Nhã ngữ. Một số câu dài quá rồi ông ta dừng lại, tìm từ, rồi nói tiếp bằng từ khác. Nam Kha nghe, để mặc các từ lạ trôi qua, chỉ bắt những từ quen.
Ông ta kể về nước Trịnh, về Cộng Thúc Đoạn, em ruột Trang Công, được phong ấp, đang mở rộng đất phong, và đang âm thầm mộ binh. Ông ta vẽ trên đất một vòng tròn, chỉ vào đó:
"Ấp của Đoạn."
Rồi ông ta bẽ vòng tròn lớn hơn bên ngoài:
"Trịnh."
Hai tay ông chỉ vào vòng tròn nhỏ rồi vòng tròn lớn, làm động tác to ra.
"Đoạn, lấy thêm. Thêm. Thêm."
Nam Kha nhìn sơ đồ trên đất.
Trong đầu anh, câu chuyện Cộng Thúc Đoạn hiện ra đầy đủ và rõ như một trang sách đã đọc nhiều lần. Năm 722 trước Công Nguyên, Đoạn nổi loạn, Vũ Khương làm nội ứng, Trang Công dẹp loạn nhanh chóng. Nhưng đó là chuyện của năm sau. Bây giờ là năm trước, và trên mặt đất trước mặt anh, Lý Trực đang vẽ lại chương mà anh đã biết kết cục từ trước khi câu chuyện bắt đầu. Thứ kỳ lạ không phải là biết kết cục, mà là nhìn thấy nó từ bên trong, từ chỗ người ta đang tranh luận về điều anh đã biết là không có gì để tranh luận.
"Triều thần Trịnh?"
Nam Kha hỏi, dùng tay chỉ vào vòng lớn hơn.
"Chia."
Lý Trực chém tay xuống đất, chia sơ đồ làm hai. "Phe nói đánh. Phe nói chờ."
Ông ta nhìn Nam Kha.
"Trang Công im lặng. Ngươi nghĩ sao?"
Câu hỏi thật, không phải hỏi để hỏi cho có.
Nam Kha nhìn sơ đồ trên đất. Hai vòng tròn, một vạch chém giữa, và câu hỏi mà cả triều Trịnh đang tranh luận. Anh không cần phân tích để tìm ra câu trả lời, anh chỉ cần nhớ lịch sử diễn ra. Nhưng nhớ và phân tích ra câu trả lời là hai thứ khác nhau, và Lý Trực cần thứ sau.
"Trang Công không ngốc"
Anh nói. Chậm, chọn từ, vì tiếng Lạc Việt của anh không đủ để nói mọi thứ đang trong đầu.
"Biết em mình. Không đánh. Nghĩa là chờ."
"Chờ gì?"
"Đoạn tự lộ."
Nam Kha dừng lại, tìm thêm từ.
"Đánh Đoạn bây giờ, mình sai. Chờ Đoạn đánh trước, mình đúng."
Lý Trực nhìn anh không chớp mắt.
Cả buổi triều thần Trịnh tranh luận, mấy phe mấy hướng, không ai nói được thứ người này vừa nói. Không phải vì họ không biết mà vì không ai dám nói thẳng ra là Trang Vương đang dùng em trai làm bẫy. Một kẻ man di ba tháng sống trong rừng vừa nói thứ đó bằng sáu câu tiếng Lạc Việt vụng về, chỉ tay vào sơ đồ vẽ trên bùn, mà câu nói ra nặng hơn tất cả.
"Ngươi"
Lý Trực nói chậm
"Hiểu nhanh quá."
Nam Kha nhìn ông ta nhưng không giải thích. Trong đầu anh thoáng qua một suy nghĩ mà anh không nói ra. Không phải amhiểu nhanh, chỉ là anh đã đọc xong cuốn sách lịch sử rồi mới ngồi vào giữa chương. Cái khó không phải biết kết cục, cái khó là tìm ra mình đứng ở đâu trong câu chuyện khi nó đang diễn ra.
Lý Trực gật, không hỏi thêm. Nhưng mắt ông ta ghi nhận thứ gì đó, và lần này Nam Kha biết đó là cái gì.
Một lúc sau, Lý Trực kể tiếp. Giọng ông ta bình thường hơn, như người đang kể chuyện thật thay vì đang thử người nghe. Ông ta kể về cái ấp mà Đoạn đang mở rộng, rồi vẽ thêm vào sơ đồ. Kể về môn khách bốn phương đến theo và kể về tên đất.
"Đoạn mộ binh ở Bích"
Ông ta nói.
"Nhiều binh."
Nam Kha nghe. Trong đầu anh, từ "Bích" không khớp với gì anh nhớ. Không phải Bích mà là Kinh, anh biết chắc. Ông ta vừa nói sai một chi tiết, có thể là vô tình, cũng có thể là ông ta đang thử anh.
Anh nhìn sơ đồ trên đất, rồi nhìn lại Lý Trực.
"Kinh"
Anh nói.
"Không phải Bích."
Lý Trực không phản ứng ngay. Ông ta ngồi yên, nhìn sơ đồ, tay không động. Rồi ông ta nhìn lên, mắt ông ta có thứ gì đó nặng hơn tò mò.
"Ngươi biết từ đâu?"
Nam Kha không trả lời.
Lý Trực ngồi thêm một lúc, nhìn kẻ đang im lặng trước mặt mình. Người ta im lặng theo nhiều kiểu, có im vì không biết, im vì sợ, im vì giấu giếm. Cái im lặng này không phải vì không biết và không phải vì sợ, mà là im lặng của người biết rằng câu trả lời thật sẽ dẫn đến câu hỏi khác mà cả hai chưa sẵn sàng.
"Thôi"
Ông ta nói cuối cùng.
"Ta không hỏi nữa."
Ông ta đứng dậy, phủi đất trên tay, nhìn về phía bắc theo con đường đoàn xe sẽ đi vào ngày mai.
Đến chiều, A-Phúc chạy về từ phía đường lớn. Cậu bé không vội như hôm mang tin xấu mà vội theo kiểu khác, kiểu muốn báo cáo nhanh trước khi không kịp.
"Có người trên đường. Đang đi về hướng bắc."
Nam Kha đứng dậy, đi ra bìa rừng.
Tào Thiệu.
Hắn đi theo con đường lớn, không vào chỗ đoàn xe đang nghỉ nhưng đi đúng tuyến đường mà từ đó có thể nhìn thấy trạm dừng. Năm sáu người đi cùng, bước đều và im lặng, không phải lính tuần mà là người biết đi đường. Hắn mặc áo thường, không giáp, không có biểu hiệu của ấp hay quan phủ nào. Trông giống thương nhân hơn là kẻ truy người.
Nam Kha đứng ở rìa bìa rừng và Tào Thiệu nhìn thấy anh.
Hắn không dừng mà bước không chậm lại. Nhưng mắt hắn quay sang, nhìn thẳng vào Nam Kha qua khoảng cách hai mươi mấy bước. Cái nhìn đó không phải nhìn của kẻ tình cờ thấy ai đó ở bìa đường, mả là cài nhìn của người đã biết người kia ở đó và đang xác nhận. Không tức giận, không đe dọa, không khinh thường, chỉ là ghi lại. Kiểu mắt của kẻ làm nghề theo dõi người lâu năm, nhìn để nhớ chứ không phải để cảnh báo.
Cái đó, Nam Kha nghĩ, đáng sợ hơn một lời đe dọa. Hai người nhìn nhau trong khoảng thời gian ngắn mà không ai nói gì.
Lính của Tào Thiệu đi theo hắn, không ai quay đầu, không ai chậm bước. Hắn bước tiếp, mắt nhìn về phía trước như người không có chuyện gì vừa xảy ra.
Mị Linh đứng cạnh Nam Kha, nhìn đoàn người khuất dần vào đường phía bắc.
"Hắn biết mình ở đây."
"Biết từ hôm qua rồi"
Nam Kha nói. "Hôm nay hắn muốn mình biết là hắn biết."
Cô ta hiểu ngay đây không phải thăm dò mà đây là thông báo. Hắn đang nói bằng cái nhìn đó rằng tao thấy mày, tao biết mày ở đây, tao chưa đánh vì có người chứng kiến, nhưng tao sẽ quay lại. Không phải vì thù hận, không phải vì tức giận, chỉ vì đây là việc làm ăn của hắn và mày đang ở trong danh sách chưa xử xong.
"Bao lâu mình còn ở được gần đây?"
Mị Linh hỏi.
Kha nhìn theo hướng Tào Thiệu đã đi. Muối và vải đủ cho một tháng. Lý Trực ở lại thêm vài ngày, có thể hơn. Mùa đông đang đến và Tào Thiệu vừa tuyên bố không bằng lời.
"Không lâu."
Đêm đến, Lý Trực đến chỗ Nam Kha ngồi bên ngoài khe đá. Ông ta không mang theo gì, chỉ ngồi xuống cạnh anh, rổi nhìn vào khe đá nơi nhóm đang ngủ. Lý Trực im lặng một lúc theo kiểu người đang sắp xếp lại câu trước khi nói, người quen dùng ngôn ngữ cẩn thận hơn những người khác.
"Ngươi muốn..."
Ông ta dừng lại, tìm từ, môi mấp máy theo kiểu người đang dịch trong đầu từ Nhã ngữ sang Lạc Việt.
"Ngươi muốn làm gì. Với những người đang theo ngươi?"
Nam Kha nhìn vào khe đá. Bà Cả ngủ gần cửa, tay vẫn giữ cái gậy bà dùng để chống đỡ khi đi. Lĩnh canh gác đêm ở bìa phía nam, bóng cậu ta mờ trong tối nhưng thẳng. A-Phúc ngủ cạnh An, tay nhỏ của đứa trẻ nắm vào áo anh trai từ lúc ngủ, A-Phúc không gỡ ra. Mị Linh nằm với lưng tựa vách đá bên trong, vai không gồng khi ngủ.
"Trước mắt"
Anh nói
"Cho ba mươi người này sống qua mùa đông."
Lý Trực không nói gì ngay. Ông ta ngồi với câu trả lời đó, để nó lắng xuống. Ông ta đã chuẩn bị nghe thứ gì đó lớn hơn, thứ gì đó có tầm vóc xứng với người vừa phân tích mưu kế của Trang Công bằng năm câu tiếng Lạc Việt. Nhưng câu trả lời là "sống qua mùa đông." nhỏ đến mức không có chỗ để nghi ngờ là giả. Người muốn gây ấn tượng sẽ nói thứ lớn hơn. Người thật sự đang lo thứ gì đó mới nói điều nhỏ như vậy.
"Chỉ vậy thôi?"
Ông ta hỏi, không phải hỏi để thách thức mà hỏi để chắc chắn.
"Trước mắt là vậy."
Lý Trực gật chậm. Kẻ nói điều mình chưa làm được không đáng tin. Kẻ nói đúng thứ mình đang cần làm thì khác.
Ông ta ngồi thêm một lúc, nhìn ra bóng tối phía rừng, nghe tiếng côn trùng và tiếng gió từ phía con sông nhỏ mà A-Phúc dùng để định hướng. Rồi ông ta nói, giọng như người đã nghĩ xong và đang đưa ra đề nghị, không phải xin xét:
"Ta ở lại thêm một thời gian để dạy ngươi và nhóm ngươi nói tiếng Trịnh, đủ để ra ngoài mà không bị nhìn như man di. Đổi lại, ngươi kể cho ta nghe thứ ngươi biết."
Nam Kha nhìn người đàn ông ngồi cạnh mình. Lý Trực không mạnh, không có quân, không có vũ khí. Nhưng ông ta có thứ quý hơn tất cả những thứ đó lúc này. Ông ta biết tiếng Trịnh, biết lễ nghi, biết cách để nhóm man di này không bị đuổi ra khỏi mọi cổng thành trước khi kịp nói một câu gì. Và ông ta đang đề nghị dạy những thứ đó không phải vì thương hại mà vì tò mò, không phải vì nghĩa vụ mà vì thấy đây là giao dịch có giá trị cho cả hai phía.
"Được"
Nam Kha nói.
Lý Trực gật đầu, không bắt tay, không thề thốt. Người thực tế không cần những thứ đó cho thỏa thuận đơn giản.
Ông ta ngồi thêm một lúc, rồi hỏi khẽ, gần như nói với chính mình hơn là hỏi Nam Kha:
"Ngươi biết Cộng Thúc Đoạn sẽ nổi loạn, đúng không?"
Nam Kha không trả lời.
Lý Trực gật một cái nữa, lần này chậm và nhẹ, kiểu gật của người vừa xác nhận thứ mình đã nghĩ từ lâu và không còn ngạc nhiên nữa dù vẫn chưa hiểu.
"Thôi. Ta không hỏi nữa."
Ông ta đứng dậy, phủi đất trên tay, đi về phía chỗ đoàn xe đỗ gần đó. Nam Kha nhìn theo bóng ông ta mờ dần trong bóng tối, bước đi vẫn thong thả như buổi sáng, như người không mang theo thứ gì nặng dù vừa nhận về một thứ nặng hơn ông ta nghĩ khi đến.
Cả khu rừng im ắng. Trong khe đá, tiếng thở đều của ba mươi mấy người. Tiếng côn trùng và tiếng gió và xa xa tiếng con sông nhỏ.
Anh đưa tay sờ vào túi áo, sợi dây thun đỏ vẫn ở đó.
Tào Thiệu ở phía bắc và mùa đông đang đến. Và từ ngày mai, sẽ có người dạy nhóm này nói tiếng Trịnh. Không phải vì ông ta phục, không phải vì ông ta tin, mà vì ông ta tò mò về kẻ man di biết những thứ không nên biết và không chịu giải thích tại sao.
Cái tò mò đó, Nam Kha nghĩ, là thứ dễ giữ người ở lại hơn bất cứ lời hứa nào.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.