Bách Việt Hùng Đồ

Quyển 1: Tiếng Khóc

Chương 28: Đêm Lửa

Đăng: 28/08/2026 03:54 2,933 từ 2 lượt đọc

Đêm đó lửa được nhóm sớm hơn thường lệ. Trời cuối chiều đã ngả sang màu tro nhạt, gió từ phía đồng thổi vào khu ngoại vi ấp mang theo mùi rơm mới gặt trộn với mùi phân trâu quen thuộc mà giờ Nam Kha gần như không còn ngửi thấy nữa, bởi cái mũi đã học cách bỏ qua những gì lặp lại mỗi ngày để giữ chỗ cho những gì mới.

Bà Cả ngồi xuống chỗ quen, lưng dựa vào gốc cây nhỏ bên rìa trại. Trước khi ngồi hẳn xuống bà đưa mắt nhìn quanh một vòng, như đang đếm, như đang kiểm tra xem có đủ người chưa. Mây đang gỡ mấy sợi lá khô vướng trong tóc An, tay thoăn thoắt mà mắt vẫn liếc về phía nồi cháo đang sôi lăn tăn trên bếp lửa nhỏ dựng riêng.

A Phúc ngồi cạnh, cầm một que gỗ vẽ nguệch ngoạc trên nền đất ẩm, miệng lẩm bẩm dạy An một từ Nhã ngữ mới học được ở chợ sáng nay, sai hết cả âm điệu nhưng vẫn cười. Cái cười đó lây sang thằng bé, khiến An bật cười theo dù chưa chắc đã hiểu vì sao mình cười.

"Lại sai rồi."

Mây nói mà không quay đầu lại, tay vẫn gỡ tóc cho An.

"Sai từ hôm qua đến hôm nay, sai y hệt."

"Thế mới nhớ."

A Phúc cãi, không thèm ngoảnh mặt lên.

"Sai đúng một kiểu, lần sau chỉ cần sửa đúng một chỗ."

Mây bật cười, tiếng cười ngắn nhưng thật. An trong lòng chị cũng cười theo dù không hiểu câu nào trong cả cuộc đối đáp đó, chỉ thấy hai người lớn cười thì mình cười.

Lĩnh về muộn hơn mọi khi, tay xách một xâu cá nhỏ câu được ở con mương gần đó. Khi cậu đặt xâu cá xuống cạnh bà Cả, cậu không nói gì, chỉ đứng đó một lúc chờ, cho đến khi bà Cả gật đầu một cái thì mới quay đi ngồi xuống. Vai Lĩnh không còn gồng lên như mọi lần cậu đưa thứ gì cho ai đó, mà thả lỏng, gần như tự nhiên, gần như của một người tin rằng phần mình đưa ra sẽ được nhận, không bị hỏi han, không bị nghi ngờ.

"Mấy con vậy?"

A-Phúc ngó sang, giọng trêu đùa.

"Chia ra chắc mỗi người một miếng bằng ngón tay."

"Đủ ăn."

Lĩnh đáp cộc lốc, nhưng không gắt như những lần trước bị chọc.

"Đủ ăn thì mai câu thêm."

A Phúc vẫn không tha.

"Anh câu giỏi thế, sao không câu buổi trưa cho nhiều nắng, cá cắn nhiều hơn."

"Buổi trưa còn phải khuân hàng cho Doãn Phúc."

Lĩnh nói rồi im lặng, rồi thêm một câu nhỏ hơn, gần như lẩm bẩm.

"Tối câu được thì tối câu."

A Phúc không nói gì thêm, chỉ nhìn cậu một thoáng rồi quay lại vẽ tiếp trên đất. Nam Kha ngồi cạnh nghe hết cả đoạn đó mà thấy trong ngực có gì đó ấm lên. Không phải vì nội dung câu chuyện, mà vì cách hai người nói với nhau, thoải mái, không cần giữ ý, đúng kiểu người trong nhà đùa nhau chứ không phải kiểu người lạ dò xét nhau.

Mị Linh ngồi hơi lùi lại phía sau vòng lửa, như thói quen cũ chưa bỏ hẳn. Nhưng lần này khi bà Cả chia cháo, bà không gọi nàng lại mà tự bưng bát đến mà đặt xuống trước mặt nàng, một bát đầy như bát của bất cứ ai khác trong nhóm.

"Ăn đi."

Bà Cả nói.

Mị Linh nhìn bát cháo, rồi nhìn bà. Nàng cúi đầu chậm, như thể động tác cúi đầu đó cũng cần được học lại từ đầu.

"Cảm ơn."

Nàng đáp giọng nhỏ, và đó là câu đầu tiên Nam Kha nghe nàng nói với bà Cả kể từ hôm ở lại.

"Ở đây không cần cảm ơn nhiều thế."

A-Phúc chen vào, cười toe toét.

"Cảm ơn một lần đủ rồi, cảm ơn hoài bà Cả tưởng chị khách sáo, bà lại múc thêm cho chị đấy."

Mị Linh khẽ nhếch mép, không hẳn là cười, nhưng là cái gì đó gần với cười hơn bất cứ biểu cảm nào Nam Kha từng thấy trên gương mặt nàng. Rồi nàng cúi xuống ăn, không nói gì thêm, nhưng vai đã bớt căng hơn hẳn.

Nam Kha ngồi xuống bên đống lửa, cảm nhận hơi ấm lan lên mặt, lên hai tay đang khum lại gần ngọn lửa. Anh nhìn quanh một lượt, đếm từng người, một thói quen anh mang từ hồi còn ở trường đại học, hồi mỗi lần đi dã ngoại lớp luôn có đứa đếm đầu người trước khi lên xe. Cái thói quen vô hại đó giờ đây, giữa một khu trại ngoại vi ở nước Trịnh, mang một trọng lượng khác hẳn, vì mỗi cái đầu anh đếm được là một mạng người anh biết mình sẽ không để mất.

Đăng đứng ở rìa trại như mọi tối, lưng tựa vào một thân cây nhỏ, mắt nhìn ra phía con đường dẫn vào ấp. Nhưng đêm nay ông không đứng thẳng như tượng gỗ theo cách vẫn đứng, mà dịch lại gần vòng lửa hơn một bước, đủ để ánh sáng hắt lên một bên vai áo.

Cháo chia xong, nhóm ăn trong tiếng lửa nổ lép bép và tiếng côn trùng rả rích ngoài bóng tối. Có một lúc A Phúc kể chuyện gì đó ở chợ sáng nay, về một ông bán bánh cứ nhất định trả giá bằng tay vì không tin thằng nhỏ nói được tiếng ông. Câu chuyện khiến Lĩnh bật cười thành tiếng, một tiếng cười ngắn, hơi khàn vì lâu không dùng đến, nhưng là tiếng cười thật. Nam Kha nghe tiếng đó mà thấy ngực nhẹ hẳn đi, vì đây là lần đầu tiên anh nghe Lĩnh cười kể từ hôm gặp cậu run rẩy ôm khúc gỗ trong đêm mưa.

An buông bát cháo đã hết từ lúc nào, bò lại gần đống lửa, cầm một cành củi nhỏ chưa cháy vạch những đường ngoằn ngoèo lên nền đất ẩm cạnh bếp. Nam Kha liếc qua thấy không chỉ một con thỏ như những lần trước thằng bé vẫn vẽ một mình trong góc trại, mà bên cạnh con thỏ giờ có thêm mấy nét gạch đứng lô nhô, cao thấp không đều, như hình người đứng thành hàng.

"Ai đây?"

A Phúc hỏi, ngó xuống hình vẽ với giọng thích thú.

An chỉ vào từng nét, miệng lẩm bẩm gì đó không rõ tiếng, và A-Phúc cúi xuống nghe kỹ hơn, rồi bật cười.

"Nó bảo cái này là chị Mây, cái này là anh Lĩnh."

A-Phúc dịch lại cho cả nhóm nghe, giọng vẫn cười.

"Cái ngắn nhất là nó."

"Còn con thỏ là ai?"

Mây hỏi và nhích lại gần xem.

An lắc đầu, không trả lời, chỉ ôm lấy đầu gối cười khúc khích. Cả nhóm không hỏi thêm, để thằng bé giữ riêng câu trả lời đó cho mình. Nam Kha nhìn hình vẽ một lúc rồi quay đi, không nói gì, vì có những thứ tốt hơn khi được để yên không bị soi vào.

Ăn xong, không ai vội đứng lên dọn. Bà Cả dừng tay bện sợi dây đang làm dở, đặt xuống đùi, nhìn vào lửa một lúc lâu. Trong khoảng lặng đó Nam Kha nhận ra cả nhóm cũng đang chờ, không ai nói ra nhưng ai cũng cảm được rằng đêm nay bà sẽ kể chuyện gì đó.

Bà Cả bắt đầu với giọng trầm và chậm, không giống giọng nói thường ngày mà mang một nhịp riêng, gần như hát. A Phúc dịch từng đoạn nhỏ, giọng cũng hạ xuống theo nhịp bà. Lần này bà không kể về Lạc Long Quân hay trăm trứng như đêm bên đống lửa năm nào sau khi ông Khiết mất, mà kể về mùa gặt ở quê nhà, về tiếng trống đồng vang lên khi lúa chín, về cách người già trong làng dẫn trẻ con ra đồng vào sáng sớm. Họ đặt tay chúng lên bông lúa còn ướt sương, dạy chúng cách cảm nhận hạt đã chắc hay chưa chỉ bằng đầu ngón tay mà không cần nhìn.

Nam Kha nghe mà trong đầu tự dựng lên hình ảnh cánh đồng đó, dù anh chưa từng thấy, dù bà Cả cũng chưa từng thấy, chỉ nghe kể lại từ người trước. Người trước lại nghe từ người trước nữa, một chuỗi kể chuyện kéo dài qua không biết bao nhiêu đời mà giờ đây đang chảy tiếp qua giọng bà, vào tai một nhóm người đang ngồi giữa một xứ sở không phải quê hương họ.

"Bà đã ra đồng như thế bao giờ chưa?"

Mây hỏi khẽ, khi bà Cả ngừng lại lấy hơi.

Bà Cả lắc đầu chậm.

"Bà nghe mẹ bà kể. Mẹ bà nghe bà ngoại kể."

Bà im một lúc rồi nói tiếp, giọng nhỏ hơn.

"Chưa ai trong nhà bà từng thấy cánh đồng đó cả. Nhưng ai cũng nhớ."

Không ai nói gì sau câu đó. Đến một đoạn, bà Cả ngừng lại, tay đặt lên đùi, mắt vẫn nhìn vào lửa, không nhìn ai. Khi bà cất tiếng lại thì giọng đã đổi, không còn nhịp hát nữa mà trở về giọng nói thường, chậm hơn, như từng chữ được cân trước khi rời miệng.

A Phúc dịch lại, chỉ vài từ, giọng nhỏ hẳn.

"Bà sợ quên."

Bà nhìn quanh vòng lửa khi nói câu đó chậm, từng người một, dừng lại lâu nhất ở An đang gà gật trong lòng A-Phúc, rồi ở Mây đang mấp máy môi theo lời kể dù không thành tiếng, rồi ở Mị Linh ngồi lặng lẽ ở rìa vòng người mà mắt vẫn dán vào bà như một kẻ vừa được cho một thứ gì đó mình chưa từng có.

Không ai nói gì. Tiếng lửa lấp đầy khoảng lặng. Một cành củi gãy đôi bật ra tiếng tách khô, tàn lửa bay lên rồi tắt giữa không khí lạnh.

Rồi bà Cả đưa tay sang, đặt lên mu bàn tay Mây đang để trên đùi, giữ một lúc, không nói gì, rồi buông ra. Mây lật bàn tay lên nắm lại chỗ vừa được chạm, như đang giữ một thứ gì đó vừa được đặt vào mà cô chưa nhìn thấy hình dạng nhưng đã cảm được sức nặng.

Nam Kha ngồi im, nhìn ngọn lửa co dần lại thành than đỏ. Trong lúc đó anh chợt nghĩ đến em gái mình, đến những buổi tối hồi nó còn học lớp ba, khi nó nằn nì anh đọc bài cho nghe trước giờ ngủ. Khi đó anh vừa đọc vừa lướt điện thoại bằng tay kia, đọc hết trang thì hỏi cho có "nhớ chưa" mà chẳng buồn nhìn xem nó gật hay lắc. Lúc đó với anh, những câu chuyện trong sách giáo khoa chỉ là bài học phải đọc cho xong rồi quên. Giờ đây, ngồi giữa vòng lửa này, nghe một bà cụ kể lại chính những gì sẽ trở thành trang sách đó, bằng giọng không phải giọng đọc mà giọng của người đang cố nhồi vào đầu những đứa trẻ càng nhiều càng tốt trước khi không còn ngồi kể được nữa. Nam Kha nghĩ giá mà em gái anh ngồi đây, có lẽ nó sẽ không ngáp ngủ như hồi đó, vì giọng bà Cả khác hẳn giọng anh đọc qua loa năm nào.

Anh đưa mắt sang Lý Trực, người vẫn ngồi hơi tách khỏi vòng lửa chính, gần chỗ để hàng hóa, và nhận ra ông không nhìn vào lửa như những người khác mà nhìn ra phía con đường dẫn vào ấp. Ông im lặng hơn thường lệ, tay xoay xoay một đoạn dây da nhỏ mà Nam Kha chưa từng thấy ông cầm trước đây.

"Ông không đói à?"

Nam Kha hỏi với giọng nhẹ, chuyển sang chỗ Lý Trực ngồi.

Lý Trực giật mình nhẹ, như vừa bị kéo ra khỏi một ý nghĩ nào đó, rồi lắc đầu cười gượng.

"Đói chứ. Chỉ đang nghĩ chuyện hàng hóa thôi."

"Chuyến hàng chậm mấy hôm nay."

Nam Kha nói, không phải câu hỏi.

"Ừ."

Lý Trực chỉ đáp có vậy, rồi cầm bát cháo lên ăn và không nói thêm. Nam Kha không hỏi nữa, vì cách ông tránh nhìn thẳng vào mắt mình đã là câu trả lời đủ rõ. Có điều gì đó trong dáng ngồi ấy khiến Nam Kha thoáng nghĩ đến cái tên đã được nhắc mấy hôm nay, đến ánh mắt Cao Cát khi nhắc đến một cái tên khác trong buổi gặp gần nhất. Nhưng đêm nay anh không muốn nghĩ về điều đó. Anh gạt ý nghĩ sang một bên, để dành cho ngày mai, và quay lại chỗ ngồi cũ bên đống lửa.

Mây đứng dậy trước tiên, lấy một tấm vải mỏng đắp lên vai bà Cả đang ngồi gà gật. Cô đắp nhẹ tay, rồi ngồi lại chỗ cũ thêm một lúc trước khi đi nằm. A Phúc bế An đã ngủ hẳn trong lòng, đặt thằng bé xuống, kéo vải che cho nó. Trước khi nằm xuống bên cạnh, cậu liếc nhìn hình vẽ nguệch ngoạc trên nền đất một lần nữa, con thỏ và mấy nét người đứng thành hàng, rồi mỉm cười một mình, một nụ cười không dành cho ai xem, chỉ dành cho chính cậu.

Lĩnh ngồi lại lâu hơn mọi lần, nhìn vào đống than đỏ, và có một lúc cậu quay sang nhìn Nam Kha. Cậu ta không nói gì, chỉ nhìn, rồi bất chợt lên tiếng, giọng khẽ.

"Mai tôi câu thêm."

"Không cần vội."

Nam Kha đáp.

"Không vội."

Lĩnh nói, gần như tự nói với chính mình hơn là nói với Nam Kha.

"Chỉ là muốn thôi."

Nam Kha gật đầu, không nói gì thêm, và cả hai đều hiểu không cần thêm lời nào nữa.

Mị Linh vẫn ngồi ở chỗ cũ, bát cháo đã cạn từ lâu nhưng nàng chưa đứng lên, đưa mắt nhìn đống lửa tàn. Khi Nam Kha liếc sang, anh thấy vai nàng đã bớt căng hơn hẳn so với những ngày đầu, không còn cái tư thế của kẻ luôn sẵn sàng bỏ chạy, mà đã ngồi theo cách một người ngồi trong nhà mình, dù chưa hẳn tin, nhưng không còn canh chừng lối thoát nữa.

"Bà ấy hay kể chuyện thế à?"

Mị Linh hỏi, không quay đầu, giọng như hỏi trong không khí hơn là hỏi ai cụ thể.

"Không thường."

Nam Kha đáp.

"Lâu lắm mới có một đêm như vậy."

Mị Linh im lặng một lúc rồi nói, nhỏ hơn cả câu trước.

"Ở chỗ tôi trước đây, không ai kể chuyện gì cả."

Nàng không nói thêm và Nam Kha cũng không hỏi, chỉ để câu nói đó lơ lửng giữa hai người, đủ nặng để không cần thêm gì nữa.

Đăng bước lại gần hơn, thêm một cành củi khô vào đống than sắp tắt, lửa bùng lên nhỏ một chút rồi lại lụi dần. Ông không nói gì, chỉ làm vậy rồi lùi lại chỗ đứng cũ. Nhưng lần này khoảng cách giữa ông và vòng lửa đã ngắn hơn đêm đầu tiên Nam Kha còn nhớ, ngắn hơn cả tuần trước. Nam Kha hiểu đó là cách của Đăng nói rằng ông đang ở đây, thuộc về đây, dù không bao giờ nói ra bằng lời.

Lửa cháy nhỏ dần, chỉ còn than đỏ âm ỉ giữa bóng tối. Nam Kha ngồi lại một mình thêm một lúc, nhìn qua khoảng trống giữa mấy nóc nhà tranh, thấy bầu trời đầy sao hiện ra, dày hơn bất cứ bầu trời nào anh từng thấy ở thành phố cũ. Anh nhớ đêm đầu tiên anh nhìn lên trời như thế này, một mình, không biết mình đang ở đâu, không biết có ai còn sống quanh mình không.

Đêm nay anh vẫn nhìn lên cùng một bầu trời đó, nhưng quanh anh có tiếng thở đều của những người đang ngủ, có tiếng Đăng đổi thế đứng gác phía xa, có mùi khói bám trên áo từ đống lửa vừa tàn. Anh nghĩ rằng câu chuyện bà Cả vừa kể, dù anh chỉ hiểu được vài từ rời rạc qua lời dịch của A Phúc, đã làm được một điều mà không lời giải thích nào làm nổi. Nó nối anh vào đúng cái dòng người đang ngủ quanh anh đêm nay, bằng những từ rất cũ mà hóa ra chưa từng cũ. Ngày mai, dù có chuyện gì xảy ra, dù cái tên vẫn lởn vởn trong đầu Lý Trực đêm nay có mang đến điều gì đi nữa, thì ít nhất đêm nay họ đã có một đêm như thế này, trọn vẹn, ấm áp và không ai bị bỏ lại ngoài vòng lửa.

Anh nằm xuống kéo vải che người, và trước khi nhắm mắt, anh nhìn một lượt cuối cùng quanh trại, đếm lại từng người. Đủ cả, rồi anh mới để mắt khép lại, chìm vào giấc ngủ giữa tiếng côn trùng và mùi khói còn vương trong không khí lạnh.

0