Chương 4: Chương 4
Cảnh Ngọc, tự Minh Khuê, người huyện Kinh Lục thuộc Trung Đô. Tổ quán vốn ở các tiểu huyện phía tây, song năm xưa gặp đại tai, phụ mẫu phải lưu ly tha hương, cuối cùng dừng chân nơi Kinh Lục mà dựng nghiệp. Phụ thân hắn thuở đầu chỉ là một mộc tượng nghèo, ngày đêm đục đẽo kiếm ăn, về sau mới tích góp mở được một xưởng gỗ nhỏ. Trong nhà ngoài hắn còn có một trưởng tỷ cùng một ấu đệ.
Cảnh Ngọc từ nhỏ đã tư chất hơn người, cả văn lẫn võ đều xuất chúng. Đến tuổi thiếu niên liền được nhận vào Thư Viện Kinh Lục. Thư viện ấy cách nhà sáu mươi dặm, song đối với hắn lại như một thiên địa khác hẳn.
Nơi đó vốn là chốn tụ hội của con cháu thế gia vọng tộc Trung Đô, phong lưu nhã quý, áo gấm quạt ngà, lời nói cử chỉ đều mang khí độ kinh thành. Phụ mẫu hắn cả đời cơ hàn, tâm nguyện lớn nhất chẳng qua chỉ mong con trai có thể trở thành một “văn sĩ Trung Đô” chân chính. Vì thế Cảnh Ngọc cũng dần tiếp nhận mọi phong vị của giới sĩ tử nơi ấy.
Hắn bắt đầu mặc trường sam rộng tay của thư sinh Trung Đô, bên hông đeo ngọc phiến họa sơn thủy đề thi, tóc búi chỉnh tề dùng ngân kế cố định. Từ dáng đi đến lời nói, đều mang vài phần phong nhã của con cháu thế tộc.
Năm ấy khoa khảo Kinh Lục, hắn đoạt vị Giải nguyên. Không lâu sau lại nhập kinh ứng thí, mười tám tuổi đã đỗ Trạng nguyên, danh chấn Trung Đô, được bổ vào Hình Bộ nhậm chức.
Phụ mẫu hắn thường tự hào nói rằng nhà họ Cảnh là hàn môn đầu tiên của Kinh Lục có người đăng đỉnh Trạng nguyên. Song Cảnh Ngọc mỗi lần nghe vậy đều cố tình phủ nhận, dường như trong lòng hắn vẫn luôn muốn quên đi xuất thân hàn vi của mình.
Trong hai năm ở Hình Bộ, hắn phần nhiều chỉ xử lý những án dân sự nhỏ nhặt. Đúng lúc mọi người đều cho rằng tiền đồ hắn đang rộng mở nơi kinh thành, hắn lại bất ngờ xin tòng quân.
Chuyện ấy khiến không một ai đồng thuận.
Phụ mẫu hắn phản đối. Ngay cả vị hôn thê là Thanh Chiếu huyện chủ cũng mong hắn ở lại kinh đô, an ổn làm quan.
Thế nhưng khi ấy, chẳng hiểu vì sao, Cảnh Ngọc lại nhớ đến bản thân trước khi trở thành “văn sĩ Trung Đô”. Khi ấy hắn chưa từng khoác trường sam tay rộng. Chưa từng cầm quạt ngọc đề thơ. Cũng chưa từng học cách nói năng phong nhã như sĩ tử Trung Đô. Hắn chỉ là một thiếu niên lớn lên giữa phố huyện Kinh Lục, ngày ngày luyện võ dưới nắng gió, trong lòng mang chí khí của nam nhi muốn lập công nơi sa trường.
Cảnh Ngọc quen biết Thanh Chiếu vào ba năm trước, khi hắn còn theo học tại Quốc Tử Giám.
Ngày ấy, Thanh Chiếu đang chọn thử trang sức tại Lãng Hoa Các, cửa hàng kim sức danh tiếng bậc nhất kinh thành. Khi đó Thư Viện Kinh Lục vừa cho đệ tử nghỉ vài ngày, Cảnh Ngọc nhân lúc nhàn rỗi liền đến cửa hàng làm công để kiếm thêm chút ngân lượng.
Lần đầu gặp mặt, Thanh Chiếu mặc một thân viên lĩnh sam sắc nhạt, cổ đeo chuỗi minh châu óng ánh, dưới thân là bách điệp quần xếp nếp tinh xảo. Dung mạo nàng thanh lệ đoan trang, cử chỉ nhu hòa, tựa như mọi phẩm cách quý nữ kinh thành đều hội tụ trên người nàng.
Thế nhưng điều khiến Cảnh Ngọc động lòng nhất lại chẳng phải dung nhan hay phong thái ấy, mà là tâm địa của nàng.
Thanh Chiếu từng mở lớp dạy nữ công cho lưu dân chạy nạn vào kinh, cũng từng tự tay chăm sóc những cô nhi mất cả song thân sau thiên tai. Ngoài ra nàng còn đứng tên quản lý vài hiệu lương thực, thường âm thầm phát chẩn cứu tế bách tính nghèo khổ.
Đó là người có thiện tâm nhất mà Cảnh Ngọc từng gặp trong đời.
Sau khi hắn đăng khoa Trạng nguyên, hai nhà liền định hôn sự, dự định đợi đến năm hắn hai mươi tuổi, làm quán lễ, sẽ chính thức thành thân.
Nào ngờ đúng lúc ấy, Cảnh Ngọc lại dâng sớ xin tòng quân. Hôn kỳ vì thế cũng phải tạm hoãn.
Sau khi nhập ngũ, Cảnh Ngọc được điều vào Quân Luật Ty.
Có lẽ nhờ được vị thượng quan nào đó âm thầm chiếu cố, tên hắn rất nhanh đã được ghi vào hàng nhân sự trọng yếu trong ty.
Nhập Quân Luật Ty chưa bao lâu, hắn lại chủ động xin điều tới Thủy quân Đông phủ, chỉ vì cho rằng nơi ấy gần chiến địa hơn bất cứ đâu.
Thế nhưng khi thật sự đến nơi, thứ chờ đợi hắn lại không phải chiến trường máu lửa như trong tưởng tượng.
Mà là ngày ngày ngồi trong quân nha, xử lý những tờ hòa thư của binh sĩ nơi tiền tuyến, những người vừa nhận được thư đoạn tình từ thê tử ở quê nhà.
Mãi đến một năm sau, Cảnh Ngọc mới thật sự được theo hạm đội xuất hải tiến về Đông Hải. Cũng chính vào lúc ấy, hắn may mắn được điều dưới trướng Hà Lục Mạnh tướng quân.
Hà Lục Mạnh tướng quân khi ấy đã gần lục tuần. Người cao gầy, tóc mai điểm bạc, dưới môi lưu một hàng ria rộng được cắt tỉa cực kỳ chỉnh tề. Ông vốn xuất thân từ Quân Luật Ty, làm người nghiêm cẩn, ít lời mà thâm trầm, là kiểu quan văn trong quân điển hình của Đại Lương.
Có lẽ bởi cùng từng theo học tại Quốc Tử Giám, Hà tướng quân đặc biệt coi trọng Cảnh Ngọc hơn người khác.
Đến khoảng tháng bảy năm ấy, chỉ vài tuần trước ngày đại quân vượt Đông Hải đổ bộ lên miền đông bắc Bắc Yên, Hà Lục Mạnh được bổ nhiệm làm Biện lý Tham mưu dưới trướng Hắc Kỳ Quân vừa mới thành lập.
Điều khiến Cảnh Ngọc vui mừng nhất chính là việc Hà tướng quân chủ động điểm tên hắn theo hầu, tạm giữ chức trợ lý bên cạnh.
Từ đó, Cảnh Ngọc theo chiến hạm tiến về phương bắc. Mãi đến lúc ấy, hắn mới thật sự cảm nhận được hơi thở của chiến tranh.
Biện lý Tham mưu vốn thuộc hậu doanh quân phủ, không trực tiếp ra trận giao phong. Bọn họ chỉ theo sát bước tiến của Hắc Kỳ Quân khi đại quân quét ngang Sùng Châu thuộc Bắc Yên.
Đó là một chức vụ vừa an toàn vừa thuận lợi. Bọn họ không cần cầm đao giết địch nơi tiền tuyến, nhưng lại hết lần này đến lần khác tiến vào những thành trấn vừa được thu hồi khỏi tay Bắc Yên.
Dân chúng Sùng Châu đứng kín hai bên đường nghênh đón vương sư.
Từ trên chiến xa cùng phá thành xa, binh sĩ Đại Lương liên tục ném lương khô xuống đám đông, tiếng reo hò vang dậy không dứt.
Chỉ là những người hô lớn nhất phần nhiều đều là lão nhân tóc bạc. Sùng Châu đã bị Bắc Yên chiếm cứ hơn bảy mươi năm.
Đám thanh niên nơi ấy, từ lâu đã chẳng còn nhớ rõ mình vốn thuộc về triều đại nào nữa. Nhưng sau khi Sùng Châu cùng vài vùng đất khác lần lượt được thu hồi, cục diện lại dần sinh biến.
Đông Lương vốn liên minh cùng Nam Nguyệt và Tây Tấn để phạt Bắc Yên. Nay đất cũ vừa đoạt lại, triều đình các bên vẫn chưa kịp thiết lập nha phủ cùng quan chế rõ ràng, khiến nhiều châu huyện nhất thời rơi vào cảnh hỗn tạp vô chủ.
Ngày ngày đều có bách tính tụ tập trước nha môn và quân doanh. Người cầu xin lộ dẫn để hồi hương. Kẻ khóc lóc hỏi thăm tung tích thân nhân từng bị Bắc Yên bắt đi làm tù dịch.
Cùng lúc ấy, những kẻ từng quy phục Bắc Yên cũng lần lượt bị lôi ra ánh sáng. Có nơi dân chúng kéo những nha lại cũ từng phục dịch dưới quyền Bắc Yên ra giữa phố đánh chửi.
Ngay cả kỹ quán thanh lâu cũng không tránh khỏi. Trong một kỹ viện nọ, có một kỹ nữ vì từng thân cận với quân sĩ Bắc Yên mà bị đám thanh niên bao vây giữa đường.
Bọn họ ép ả quỳ xuống, rồi ngay trước mặt mọi người cắt đi mái tóc dài, coi đó là hình phạt dành cho kẻ “quên mất gốc gác”.
Cảnh Ngọc đứng nhìn cảnh tượng ấy, trong lòng chợt nhớ đến một đạo lý từng đọc qua trong sử thư: Phàm kẻ phản chủ, xưa nay đều như vậy.
Một khi đã phản bội chủ cũ để quy thuận chủ mới, đến lúc thời cuộc đổi thay, bọn chúng lại càng phải liều mạng chứng minh lòng trung thành của mình. Chỉ có như thế, chủ mới mới tin rằng sự trung thành hôm nay khác với thứ chúng từng dâng cho chủ cũ ngày trước.
Thế nhưng điều khiến Cảnh Ngọc khó quên nhất lại không phải đám người đang gào thét kia. Mà là biểu cảm của người kỹ nữ nọ.
Ả từ đầu đến cuối đều không chống cự. Tựa như năm xưa từng thuận theo quân Bắc Yên thế nào, hôm nay cũng lặng lẽ chịu đựng việc bị người khác cắt tóc như thế ấy.
Ả không kêu la, cũng chẳng biện giải lấy một lời, chỉ cúi đầu âm thầm rơi lệ.
Suốt cả quá trình, ngoại trừ một cánh tay vẫn vô thức co giật nơi mạn sườn, khẽ đập liên hồi như cánh của một con chim bị thương đang tuyệt vọng muốn thoát khỏi lồng giam, thì toàn thân ả gần như bất động.
Chính vào lúc ấy, Phục Thanh đại tướng quân của Thủy quân Đông phủ bắt đầu sinh lòng lo ngại.
Sau khi đại quân tiến vào Sùng Châu, cảnh tượng hỗn loạn tại các vùng đất vừa thu hồi ngày một lan rộng. Ông e rằng không khí ấy sẽ ảnh hưởng đến quân tâm cùng quân kỷ, vì vậy đặc biệt truyền lệnh cho Hà Lục Mạnh tăng cường quản thúc tam quân.
Từ đó, công vụ của Quân Luật Ty lập tức trở nên nặng nề hơn hẳn.
Cảnh Ngọc cùng đồng liêu của mình là An Tôn Ái, một Thiên hộ trẻ tuổi người Đề Tây, thân hình vạm vỡ như gấu, bắt đầu ngày đêm xử lý vô số quân án phát sinh liên tiếp trong doanh trại.
Phần nhiều đều là trọng tội, có kẻ sát nhân đoạt mạng, có kẻ cưỡng bức dân nữ, có vụ binh sĩ hành hung bách tính, cướp đoạt tài vật quy mô lớn. Thậm chí còn có người dám công nhiên kháng lệnh quân doanh.
Mà điều khiến người ta khó xử nhất chính là phần lớn nạn nhân đều là dân chúng Đông Lương tại những nơi vừa được “thu phục”.
Ở các quân doanh khác, loại vụ án này thường do thống lĩnh trực thuộc thuận tay xử trí, nhiều khi còn âm thầm tìm cách xin giảm nhẹ hình phạt cho thuộc hạ dưới quyền.
Nhưng Hà Lục Mạnh lại hoàn toàn khác. Ông tuyệt không cho phép những vụ án có khả năng dẫn đến trọng hình hoặc xử trảm bị giải quyết qua loa cho xong việc.
Bởi vậy, toàn bộ các trọng án đều bị chuyển sang cho Án Sát thuộc Quân Luật Ty đích thân thẩm tra xử lý.
Khó khăn lớn nhất nằm ở chỗ quân đoàn hành quân quá nhanh. Tòa án quân sự vừa mới dựng xong chưa được mấy ngày, đại quân đã tiếp tục xuất phát.
Quân của Phục Thanh càn quét Bắc Yên với tốc độ gần như chưa từng có. Các doanh bộ vượt qua từng vùng lãnh thổ nhanh đến mức đôi khi người dẫn đường còn chưa kịp treo xong quân đồ trong soái trướng, đại quân đã lại đổi hướng tiến binh.
Vì thế, rất nhiều vụ án đều phải xét xử ngay trong những doanh trướng tạm bợ giữa đường hành quân.
Bọn họ phán định sinh tử của người khác trong các lều quân chật hẹp, còn lời khai nhiều lúc gần như không thể nghe rõ, bởi phía xa vẫn vang vọng tiếng chém giết cùng tiếng máy bắn đá không ngừng truyền tới từ chiến địa.
Thế nhưng Cảnh Ngọc lại cảm thấy một niềm kích động khó diễn tả. Hắn biết mình đang đứng rất gần dòng chảy của lịch sử. Cho dù chưa thật sự ở trung tâm, ít nhất cũng đã đủ gần để cảm nhận được nó.
Mà điều khiến hắn kính phục hơn cả chính là Hà Lục Mạnh tướng quân.
Trong đám sĩ quan được triều đình vội vã dựng nên cho cuộc chiến này, không thiếu kẻ dù giữ chức vị cao nhưng cả đời chưa từng thật sự lâm trận. Song Hà Lục Mạnh thì khác.
Ông không chỉ là một vị Hành Án Ngự Sử xuất sắc của Quân Luật Ty, mà còn là cựu binh từng trải qua đại chiến ba mươi năm trước, trận chiến thất bại đã khiến ông nhiều lần đi qua chính mảnh đất Bắc Yên này.
Đầu tháng chín, bộ chỉ huy lại dời từ La Sơn sang Mã Sơn, vượt qua sông Mã Lạp. Hôm ấy, Hà tướng quân bảo Cảnh Ngọc đánh xe đưa mình rời doanh một chuyến.
Ông muốn đi tìm lại chiến địa năm xưa, nơi ông từng sống sót sau trận huyết chiến dữ dội nhất đời mình. Nay nơi ấy chỉ còn là một vùng đồng cỏ rộng.
Nhưng Hà Lục Mạnh vẫn nhận ra hàng rào đá dài nằm giữa hai mảnh đất hoang.
Ông chỉ vào nơi đó rồi chậm rãi nói rằng, ba mươi năm trước, khi ấy ông mới hai mươi lăm tuổi, còn là một thiếu úy trẻ tuổi, từng cùng đồng đội đào chiến hào ngay trên vùng đất xanh này.
Mà quân Bắc Yên khi ấy, cách bọn họ chưa đầy một trăm bước.
Gần đây, vùng đất này lại vừa trải qua giao chiến.
Trong những cánh rừng lân cận, vô số cây cối bị máy bắn đá phá gãy ngổn ngang. Mặt đất bị bánh xe công thành cày nát, hằn đầy những vệt xích sâu hoắm kéo dài giữa bùn đất.
Xác binh sĩ cùng khí giới hư hỏng phần lớn đã được dọn đi, nhưng đâu đó vẫn còn sót lại vài xác gia súc cùng chiến mã quân dụng.
Những cái xác trương phình dưới nắng cuối hạ, mùi tử khí nồng nặc đến nghẹt thở, ruồi nhặng bâu kín thành từng đám đen đặc.
Thế nhưng điều chiếm lấy tâm trí Hà Lục Mạnh tướng quân lại không phải chiến sự vừa mới diễn ra.
Mà là những trận huyết chiến của hơn hai mươi năm trước. Ông cùng Cảnh Ngọc chậm rãi bước dọc cánh đồng hoang tàn.
Đi được một đoạn, Hà tướng quân bỗng chỉ xuống một khoảng đất thấp nơi mé rãnh, giọng nói bình thản đến kỳ lạ:
“Năm đó có một người bằng hữu của ta… chỉ vừa nhô người ra ngoài chiến hào để giải quyết.”
Ông dừng lại một thoáng. “Sau đó bị một mũi tên xuyên thẳng qua ngực.”
Ánh mắt ông nhìn xa xăm. “Chết như thế đấy… quần còn chưa kịp kéo lên khỏi đầu gối, cả người ngã chúi xuống hố phân.”
Ông cười khẽ, nhưng trong giọng nói hoàn toàn không có ý cười.“Thật khủng khiếp.” “Mọi thứ khi ấy… đều khủng khiếp.”
Nói rồi ông quay sang nhìn Cảnh Ngọc.
Phía bên kia hàng rào đá ngăn ruộng, trong một con mương hẹp ngập nước đục, bọn họ bắt gặp một thi thể quân Bắc Yên nằm úp mặt xuống bùn.
Một cánh tay vẫn còn vươn lên khỏi mép nước. Lớp da trên bàn tay đã khô quắt lại, bám chặt lấy bộ xương gần lộ ra ngoài.
Đó là lần đầu tiên Cảnh Ngọc tận mắt nhìn thấy xác chết còn sót lại trên chiến trường. Tim hắn đập dữ dội đến mức gần như nghe rõ bên tai.
Hà Lục Mạnh đứng lặng nhìn cái xác rất lâu. Mãi một lúc sau ông mới khẽ nói:
“Tạ thiên địa.”
Cảnh Ngọc ngẩn ra.
“Thưa tướng quân?”
Hà Lục Mạnh vẫn nhìn con mương trước mặt.
“Ta cảm tạ trời đất, Minh Khuê à…”
Ông chậm rãi nói.
“Rằng đến lần chiến tranh kế tiếp, ta hẳn đã già đến mức không cần phải trở lại nơi này nữa.”
Khi trở lại xe ngựa, Cảnh Ngọc đánh xe đi được một đoạn mới cất tiếng hỏi:
“Tướng quân… ngài có cho rằng thiên hạ rồi sẽ lại khai chiến nữa không?”
Hắn nhớ đến lời Ngải Tư, đồng liêu cũ ở Hình Bộ, từng nói trước khi hắn rời kinh. Gã tin rằng sau khi Bắc Yên suy yếu, chiến sự giữa Đông Lương với hai nước đồng minh còn lại sớm muộn cũng không thể tránh khỏi. Thậm chí có khả năng còn bùng phát trước cả khi quân Bắc Yên bị đuổi hoàn toàn về thảo nguyên.
Hà Lục Mạnh nghe xong, thần sắc lập tức trở nên cực kỳ nghiêm nghị. Ông quay đầu nhìn về phương bắc xa xăm, rất lâu không nói gì.
Cuối cùng mới thấp giọng đáp:
“Chuyện ấy…” “Không được phép xảy ra, Minh Khuê.”
Giọng ông trầm thấp mà nặng như quân lệnh. “Vĩnh viễn không được phép xảy ra.”
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.