Chương 9: Chương 9
Sau khi yết kiến Hạ Lan Địch, Cảnh Ngọc thầm nghĩ: Mã Đình Bắc hiện đóng quân chẳng xa, chi bằng nhân đà này lần theo mà tìm gặp, khỏi phải quay về Nam Thiên rồi sau lại nhọc công ra lại, như vậy thực tiện hơn nhiều. Hạ Lan tướng quân cũng đã sai Quân vụ Ty hiệp lực lo liệu, lại truyền cho vị Tư Mã coi việc quân vụ nhân sự, tên gọi Tạ Tiêu, đem những điều thiết yếu mà bẩm báo, đoạn cấp cho dư đồ cùng lộ trình. Mọi việc xong xuôi, hai người trở lại mã trường, thì viên Ngũ trưởng trông coi nơi ấy bẩm rằng cỗ xe ngựa vốn cấp cho họ đã bị điều đi làm việc khác, trong doanh nhất thời không thể điều thêm chiếc nào, phải đợi đến sáng mai mới liệu được.
Bảo Bảo hiểu ra ngay lập tức. "Muốn dùng đồ của người chứ không xài đồ của mình đây mà," gã lầm bầm với Cảnh Ngọc. Gã nói đúng, dĩ nhiên rồi, nhưng bọn họ vẫn không tài nào kiếm được một chiếc xe ngựa nào. Thay vào đó, bọn họ ai đi đường nấy để tìm chỗ ngủ qua đêm. Viên Hiệu úy thuộc trung quân doanh thấy Cảnh Ngọc là người của Quân Pháp Ty, bèn sai người thu xếp cho hắn một chiếc sạp gỗ trong trướng bốn người, lại chỉ nơi dùng cơm tối ở thực đường dành cho chư tướng hiệu, vốn chỉ là hai chiếc tiểu trướng ghép lại mà thành.
Bữa tối dọn ra là phần khẩu lương hạng Ất, còn nóng, song đã bị nấu đến nhừ nát, xanh xám như hồ, trông chẳng lấy gì làm mỹ quan. Dẫu vậy, trong trướng chẳng một ai hé nửa lời oán thán, bởi ngay đến trung quân doanh, nơi xưa nay vốn dễ xoay xở hơn các doanh khác, nay cũng đã bị cắt giảm, mỗi ngày chỉ còn hai bữa. Cảnh Ngọc bấy giờ lại có một điều thầm kín chẳng tiện nói cùng ai: từ thuở còn ở tân binh doanh, hắn đã phát giác mình không hề chán ghét quân lương dã chiến như lời người ta vẫn than phiền, dẫu là những món đựng trong bát lớn của hạng Ất, hạng Bính, như thịt hầm rau, thịt nấu đậu, hay thịt trộn mì sợi. Quân sĩ thường chê chúng nom như thức ăn cho chó, mùi vị cũng chẳng khác là bao; song với hắn, phần nhiều lại thấy lạ miệng mà mới mẻ. Song thân hắn, tuy chẳng mấy câu nệ lễ nghi Nho gia, ở nhà xưa nay cũng chưa từng dùng nhiều thịt khô đến thế. Bởi vậy, đậu hầm thịt khô tuy không phải món hắn đặc biệt ưa thích, nhưng những sợi thịt khô trong khẩu lương lại khiến hắn lấy làm ngon miệng; thậm chí đến cả từng miếng thịt khô cứng đanh kia, vào lúc này đối với hắn cũng có thể xem là một thứ mỹ vị hiếm có giữa chốn quân doanh.
Sau đó, Cảnh Ngọc men theo lối cỏ về phía doanh địa của đám viện binh, cốt để xem Điền Bảo Đức đã tìm được chỗ nghỉ hay chưa. Nơi ấy trướng lều trùng trùng, nối nhau như thành quách, bao bọc quanh mấy doanh mấy đội, tựa một tòa thành nhỏ mới dựng giữa đồng không. Cảnh tượng nhìn qua lại có một vẻ chỉnh tề khác thường: từng dãy tiểu trướng xếp thẳng tắp, hàng nọ tiếp hàng kia, kéo dài đến mấy trăm bước; giữa các hàng lại đào sẵn rãnh xí, khoảng cách đều nhau, không sai một mảy; khắp nơi ánh lửa từ những bếp lộ thiên bừng lên rực rỡ, soi sáng cả một vùng, nơi bọn hỏa đầu quân vẫn còn đang lui cui trông lửa, thêm củi, đun nước. Cảnh Ngọc vừa đi vừa đưa mắt dò xét, hễ gặp quân sĩ đứng dậy hành lễ thì đều gật đầu đáp lại, đoạn lần theo từng doanh một, mong tìm được nơi Trung Quân Vệ thuộc Đại Doanh hạ trại, là chỗ Điền Bảo Đức đáng lẽ phải tá túc đêm ấy.
Trước lúc rời Nam Thiên, hắn đã nhét mấy quyển sách vào trong hành nang. Người ngoài hẳn khó mà hiểu được những lúc tranh thủ chốc lát trước giờ ngủ, lật vài trang sách dưới ánh đèn mờ, đối với hắn là điều quý giá đến nhường nào. Hễ nghĩ đến song thân, đến huynh đệ tỷ muội, hay đến Thanh Chiếu, trong lòng hắn liền dậy lên một thứ cảm xúc mãnh liệt đến nghẹn thắt. Hắn không dám để mình đắm chìm quá lâu trong nỗi an ủi do tưởng tượng đem lại, cái cảnh lại được ngồi giữa người nhà, lại được trở về với cuộc sống yên ổn đã bỏ lại phía sau, bởi hắn biết, nếu buông lỏng một chút thôi, tất sẽ bị nỗi nhớ cùng sự hối tiếc giày vò đến phát cuồng, hối rằng mình đã quá cố chấp với bổn phận nơi nhung mã. Chỉ có sách là khác. Trong mấy khắc ngắn ngủi ấy, hắn có thể tạm quên nơi mình đang đứng, cũng chẳng hẳn là quay về chốn cũ, mà như được gửi thân vào một cõi nào khác, xa cả chiến địa lẫn quê nhà. Chính cái khoảnh khắc ấy mới là sự khoan miễn hiếm hoi giữa cơn binh lửa, như một dấu hiệu âm thầm cho hắn biết rằng đời sống mai sau, nếu thiên hạ có ngày thái bình, rốt cuộc vẫn có thể trở lại với những sắc thái phong phú và tĩnh lặng vốn có của nó.
Rốt cuộc Cảnh Ngọc không tìm thấy Điền Bảo Đức. Song đi được một quãng, hắn lại tình cờ chạm mặt Bùi Bính. Gã thư lại của doanh Hạ Lan Địch xem chừng đã ngà ngà men rượu, tay còn cầm một túi da đựng rượu, mà phần rượu trong ấy hẳn đã vơi đi quá nửa. Vừa trông thấy Cảnh Ngọc, Bùi Bính đã cười hềnh hệch, giơ túi rượu lên nói: "Ti chức đang tập làm quen với phong vị xứ này đó, đại nhân. Rượu của người Bắc Yên quả thật có chỗ khác thường, như thể người Đại Lương ta còn gửi cả hồn vía vào trong ấy vậy." Nói đoạn, y ngửa cổ định uống thêm một ngụm, nhưng men đã ngấm, miệng chệch đi một chút, rượu tràn cả xuống cằm. Cảnh Ngọc nhìn mà bất giác nghĩ đến quang cảnh suốt dọc đường từ khi quân Đại Lương tiến vào đất Bắc Yên: hễ bắt gặp binh lính nào được nghỉ, mười người đã có đến quá nửa say mềm, như thể những kho rượu cướp được cùng đủ thứ vật lạ phương bắc đã tiếp thêm cho họ một thứ hăng cuồng khác hẳn lúc còn ở phương nam. Các tướng hiệu kỳ thực cũng chẳng khá hơn là bao. Những kẻ ở trung quân như bọn họ, hằng tháng vẫn lĩnh rượu theo định lệ; còn các tướng hiệu ngoài trận tiền, tuy trên danh nghĩa cũng có phần, song phần nhiều vì đường vận lương quá căng thẳng nên hiếm khi đến tay được đầy đủ. Riêng Cảnh Ngọc, hễ được phát rượu thường đem đổi lấy vật khác. Ngay từ thuở ở Quốc Tử Giám, dẫu lệnh cấm rượu khiến việc tụ ẩm trở thành một thú vui lén lút đầy kích thích, hắn vẫn luôn giữ mình dè dặt, chưa từng thật lòng ưa thích cái cảm giác thần trí bị men say lôi kéo, như thể bản thân bỗng không còn hoàn toàn thuộc về chính mình nữa.
Cảnh Ngọc nhìn túi rượu trong tay Bùi Bính, khẽ nhếch môi mà nói: "Xem ra ngươi đã thấm khá sâu phong vị bản thổ rồi đấy, Bùi Bính." Bùi Bính nghe vậy bèn cười, lảo đảo đáp: "Vâng, thưa đại nhân. Chỉ mong đến sáng mai còn có thể gượng dậy nổi là được." Nói đoạn, hắn chợt trông thấy quyển sách Cảnh Ngọc đang cầm nơi tay, liền ghé mắt nhìn, rồi thuận miệng cùng hắn bàn đôi câu về mấy thiên tạp truyện, tiểu thuyết đang lưu hành trong kinh cùng ngoài quân doanh. Hai người nói qua nói lại được một lúc, bỗng Bùi Bính hạ giọng, như thể men rượu khiến hắn gan dạ hơn thường ngày, mà buông ra một câu: "Việc này… e rằng giao cho ngài tra xét là lầm người mất rồi."
Cảnh Ngọc nghe vậy liền quay đầu, chăm chú nhìn hắn. "Ngươi nói thế là ý gì?" Bùi Bính cười nhạt, đáp: "Chuyện giữa Hạ Lan tướng quân với Mã tướng quân ấy mà. Theo cách thuộc hạ nhìn, ngài đang tra lầm người rồi. Nếu thật muốn biết căn nguyên, chi bằng đi hỏi quanh thêm vài chỗ nữa." Cảnh Ngọc nghe xong, thần sắc hơi trầm xuống, bèn nói: "Nếu đã thế, vậy ta hỏi ngươi trước. Ngươi nói 'tra lầm người', rốt cuộc là lầm ở đâu? Hãy nói cho rõ." Bùi Bính không đáp ngay, chỉ cúi đầu nhìn chằm chằm vào miệng túi rượu trong tay, tựa hồ câu trả lời hắn định nói đều nằm cả trong ấy. Hồi lâu, hắn mới ngẩng lên, chậm rãi cất tiếng: "Có lẽ… ý của câu ấy là thuộc hạ đã uống hơi nhiều thứ này rồi." Nói đoạn, hắn lại nở nụ cười láu lỉnh quen thuộc, vừa như giấu giếm, vừa như trêu cợt, rồi không đợi Cảnh Ngọc hỏi thêm lời nào nữa, đã ôm túi rượu quay người lẩn nhanh vào bóng tối trùng điệp của doanh trại, để lại Cảnh Ngọc đứng yên tại chỗ, giữa ánh lửa chập chờn cùng những dãy trướng kéo dài bất tận.
—-------------------------------------
Theo biên lục quân đình xét xử phụ thân hắn là Cảnh Ngọc, người biện hộ khi ấy chính là Lục Bàng, một lão luật quan dày dạn của Quân Luật Ty dưới trướng đại doanh Nguyên soái Sầm Chương. Cái tên ấy vừa lọt vào mắt, Cảnh Duệ đã thấy quen thuộc lạ thường; đến khi tra cứu kỹ lại, hắn mới sực nhớ ra cớ gì mình từng lưu tâm đến người này. Vào năm Quốc Hưng thứ mười sáu, Lục Bàng tuy chưa chính thức nhập các, song đã dự phần nghị chính trong Nội Các, là người từng ra sức chủ trương trấn áp các bang hội giang hồ, những tổ chức ngầm vốn được thế gia sĩ tộc lén lút nâng đỡ phía sau.
Kỳ thực, Cảnh Duệ đã bắt đầu tra xét về Lục Bàng từ những tháng triều đình tìm đủ cách ngăn trở hắn lần theo án quyển nơi quân đình về phụ thân.
(Mãi đến tháng sáu năm Khánh Hưng thứ mười sáu, hắn mới thật sự lấy được án quyển ấy, mà sở dĩ được trao ra cũng chỉ vì khi đó hắn đã có thể chứng minh rằng phần lớn những điều ghi chép trong đó, mình đã dò biết gần hết.)
Trước đó, hắn vẫn ngỡ Lục Bàng, người vào năm Quốc Hưng thứ mười một đã là một luật quan tranh tụng lão luyện, tuổi tác tất hơn phụ thân hắn khá xa, ắt hẳn đã sớm khuất núi, cho nên điều hắn mong mỏi chẳng qua là gia quyến họ Lục còn lưu giữ được những giấy tờ cũ của ông mà thôi. Vì lẽ ấy, cuối tháng mười năm Khánh Hưng thứ mười lăm, hắn đã thân đến Ký Châu, tìm hỏi người thừa tự của Lục Bàng.
Khi ấy, tại nha môn sở tại, Cảnh Duệ vừa nhắc đến tên người cần tìm, viên thư lại đang chấp bút bỗng khựng tay, mực bắn loang cả xuống giấy. Hắn ngẩng phắt lên, kinh ngạc hỏi: "Lục đại nhân đã qua đời rồi ư?" Nói đoạn lại quay sang người bên cạnh, giọng càng thêm hoảng hốt: "Lục đại nhân mất rồi sao?" Chỉ trong khoảnh khắc, câu hỏi ấy đã bị ném qua ném lại khắp nha môn, người này hỏi người kia, như thể một tin dữ vừa bất thần truyền đến. Hồi lâu sau, viên thư lại mới quay lại phía Cảnh Duệ, đáp rằng: "Không, thưa công tử. May mắn thay, Lục đại nhân vẫn còn tại thế."
Viên thư lại ấy không chịu tiết lộ chỗ ở của Lục Bàng, song cũng hứa sẽ thay hắn chuyển thư. Quả nhiên, chưa đầy bảy ngày sau, Cảnh Duệ đã nhận được hồi âm. Lá thư viết bằng một nét bút già nua, nguệch ngoạc mà run rẩy, chỗ đứt chỗ nối, song từng nét bút vẫn còn thấy vuông vức, cứng cỏi, tựa như khí lực của người viết tuy đã suy mà thần cốt vẫn chưa hoàn toàn tán mất. Trong thư, Lục Bàng viết rằng:
"Ta quả vẫn còn nhớ việc từng thay phụ thân cậu biện hộ trước quân đình. Vụ án của Cảnh Ngọc, cho đến nay, vẫn là một trong những án sự rắc rối bậc nhất trong đời làm hình luật của ta; bởi thế, nếu cậu muốn cùng ta bàn lại việc ấy, ta rất lấy làm sẵn lòng. Để đáp lại điều cậu hỏi, ta quả có giữ lại một ít giấy tờ liên quan đến vụ án, e rằng trong đó có những thứ cậu muốn xem qua. Chỉ là tuổi già sức yếu, việc cầm bút hồi thư vào lúc này đối với ta quả thật đã thành một nỗi nhọc nhằn. Nếu cậu không chê một lời mạo muội, ta mong cậu, nếu có thể, hãy thân hành đến thăm ta một chuyến.
Song, dẫu ta rất vui lòng đem ký ức cùng giấy tờ trong tay mà trao lại, việc ấy xét về luật lệ vẫn còn điều vướng mắc, chưa ổn thỏa, bởi phụ thân cậu là người năm xưa ta từng biện hộ. Bởi vậy, nếu cậu đến, ta mong cậu thuận tay mang theo một tờ cam kết, trong đó có thủ bút hoặc triện ấn xác nhận của phụ thân cậu, của lệnh đường nếu người còn tại thế, cùng tất cả huynh đệ tỷ muội của cậu, rằng mỗi người trong số ấy đều bằng lòng từ bỏ mọi dị nghị hay truy cứu về những điều ta sẽ tiết lộ.
Chẳng phải để khiến cậu kinh sợ, ta chỉ thuận miệng nhắc một câu rằng năm nay ta đã chín mươi sáu tuổi, mà ở cái tuổi này, người ta chẳng còn dám mua quả xanh(1) nữa . Bởi thế, nếu cậu muốn gặp ta, thì nên liệu sớm. Mong chẳng bao lâu nữa sẽ được diện kiến cậu.
Thuận chúc cậu vạn an.
Lục Bàng."
Mua quả xanh: sợ không sống nổi đợi được quả chín
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.