Chương 1: Ca Vãn
Chiều ở chợ Phú Thành không tắt hẳn như ở những nơi khác. Nó chỉ loãng dần. Bốn giờ rưỡi, dãy rau ngoài mái hiên vẫn còn người đứng lựa cà chua, nhưng những tiếng gọi nhau đã thưa. Người bán cá bắt đầu xúc lớp đá cũ ra khỏi thùng xốp, đổ thành từng đống trắng đục sát miệng cống. Ở giữa chợ, mấy sạp thịt treo những mảng ba chỉ cuối ngày lên móc cao hơn, tránh ruồi và tránh tầm tay của đám trẻ con hay chạy qua lối. Quán cháo lòng gần cổng phụ vớt nốt nồi xương, mùi tiêu và hành phi quyện với mùi cá tanh, mùi rau dập, mùi nước rửa bát nóng và mùi mồ hôi của một ngày đông khách.
Thu tới làm lúc năm giờ kém mười. Bà dắt chiếc xe máy cũ qua
cổng sau, chào bác bán vé xe rồi dựng sát bức tường bên phòng bảo vệ. Bộ đồng
phục vệ sinh màu xanh đã bạc ở vai được gấp trong cốp từ sáng. Thu thay áo ngay
trong nhà vệ sinh nhân viên, buộc tóc, nhét điện thoại vào túi có khóa kéo rồi
đi một vòng như mọi ngày trước khi nhận ca. Không ai giao cho bà việc phải đi
vòng ấy. Thu tự làm từ nhiều năm trước, lúc mới chuyển từ bán rau sang đội vệ
sinh. Người khác nhìn một khu chợ sắp đóng chỉ thấy rác cần gom. Thu nhìn thấy
thứ tự của một buổi chợ đang kết thúc: sạp nào còn hàng, xe nào chưa ra, ai
đang nấn ná tính tiền, chỗ nào lát nữa sẽ có nước chảy nhiều, chỗ nào phải đợi
người bán dọn xong mới được xịt.
Ở dãy trái cây, chị Yến đang ngồi xổm lựa riêng những quả
cam mềm sang một rổ đỏ dưới chân. Thấy Thu đi qua, chị nhấc một quả còn lành
lên, bảo: “Cam này ăn được, lát cô lấy về cho bé nhà cô.” Thu đỡ quả cam rồi
cười. “Con tôi đi làm rồi, chị cứ gọi bé mãi.”
“Lớn mấy thì với mẹ chả là bé.” Chị Yến nói xong lại cúi
xuống rổ, lựa một quả mềm sang bên. Mấy câu chuyện như thế lặp mỗi ngày đến mức
chẳng ai nhớ mình đã nói từ bao giờ.
Thu cười, bảo lát quay lại. Những câu như vậy không cần nhớ.
Chúng có mặt mỗi ngày như tiếng kéo bạt, tiếng cân điện tử kêu tít hay tiếng
dao chặt xuống thớt ở dãy thịt. Nếu phải kể điều gì làm Phú Thành khác những
khu chợ khác, Thu cũng không nghĩ ra được. Nó không đẹp, không sạch, không quá
cũ, cũng chẳng đủ lớn để lên báo. Nó chỉ là chỗ người quanh đây ghé mua đồ
trước khi về nhà.
Dãy gia cầm ở cuối chợ bắt đầu ồn hơn khi người bán gom
lồng. Gà sống còn lại được chở về, mấy con vịt há mỏ thở sau một ngày nóng.
Mến, người bán gà lâu năm, đứng trên dép nhựa xịt nước xuống nền, miệng vẫn cãi
nhau với một khách quen vì thiếu hai nghìn tiền lẻ. Bà vừa cãi vừa cười, bàn
tay thoăn thoắt kéo túi hàng đưa qua bàn. Dũng đứng ở lối giao hàng, tay cầm bộ
đàm, đang yêu cầu một tài xế dịch chiếc xe tải nhỏ ra nửa mét vì chắn vạch
vàng. Hai mươi bảy tuổi, mới vào làm bảo vệ chưa đầy một năm, Dũng vẫn còn giữ
được kiểu tóc gọn và đôi giày chưa bạc màu như những người trực lâu năm. Cậu
hay chạy bộ buổi sáng và thích uống cà phê đặc đến mức Thu từng bảo vài năm nữa
cái dạ dày sẽ đòi nợ.
Thấy bà, Dũng xoa sống mũi hơi lệch của mình, kể: “Cô Thu
coi giúp con. Sáng chạy gặp thằng nhỏ đạp xe quẹt, nó còn tỉnh queo bảo mũi con
vốn đã lệch rồi nên khỏi tính tiền thuốc.” Thu liếc qua. “Thì vốn lệch thật,
chứ nó nói oan gì mày.”
“Cô nói vậy là không đứng về phía người nhà rồi.” Dũng xoa
mũi, làm bộ thất vọng.
Thu giục cậu quay lại dọn chiếc xe đang chắn vạch. Dũng cười
rồi đi về phía tài xế. Khi cười, chiếc răng cửa bên phải hơi chồng lên chiếc
bên cạnh làm nụ cười có vẻ trẻ hơn tuổi. Khánh từ phòng ban quản lý bước ra
đúng lúc đó, kẹp dưới nách một tập giấy. Anh chỉ lớn hơn Dũng hơn chục tuổi
nhưng lúc nào cũng có vẻ như đã thức thiếu một giờ từ nhiều năm. Hôm nay anh
đang bực vì một sạp đồ khô tự câu thêm ổ điện cho nồi cơm ngay sát bình chữa
cháy.
Khánh vừa nhìn giấy vừa dặn: “Chị Thu lát cho người đừng xịt
khu B trước nhé. Bên điện xuống tháo cái dây câu đã, tôi không muốn đang làm mà
nước bắn vào.” Thu gật, nhưng nhắc anh: “Anh nói họ làm nhanh giúp. Tám giờ mà
còn chắn lối thì tôi vẫn xịt, chứ đội tôi không đứng chờ tới khuya.”
“Cô cứ làm đúng giờ. Họ chậm thì đồ ướt họ tự chịu.”
Nói vậy nhưng Khánh quay đầu gọi người thợ điện ngay. Anh
không phải kiểu quản lý đứng phòng lạnh chờ người khác báo. Ống nước rò hay
camera tối một góc, anh đều xuống xem. Thu thích làm việc với kiểu người đó vì
ít phải giải thích lại.
Hảo tới trễ mười phút. Anh dựng chiếc Wave cũ cạnh xe Thu,
vừa tháo mũ bảo hiểm vừa xin lỗi. Hảo ba mươi hai tuổi, người hơi gầy, nước da
sạm vì trước đây từng chạy giao hàng. Vợ anh bán đồ ăn sáng gần trường tiểu
học, hai người có một con gái sáu tuổi. Hảo vào đội vệ sinh hơn năm tháng, vẫn
còn giữ thói quen nhét khăn giấy và dây thun vào mọi túi quần áo.
Hảo vừa dựng xe vừa giải thích: “Con bé sốt nên em chờ bà
ngoại qua mới chạy tới. Tối qua nó sốt gần ba chín độ, sáng nay có hạ rồi.” Thu
hỏi anh có cần về sớm không. Hảo lắc đầu. “Không chị. Bà ngoại ở nhà rồi, có gì
vợ em gọi.” Anh giơ hai bàn tay. Một chiếc găng cao su bên phải rách ở kẽ ngón
cái. “Chị còn đôi dự phòng không? Cái này hôm qua móc trúng cạnh thùng.”
Thu mở tủ dụng cụ lấy cho anh đôi mới. Hảo cúi xuống nhận,
ống quần xô lên để lộ miếng băng cá nhân cũ dán ở đầu gối. Thu chỉ liếc qua rồi
đóng tủ.
“Đừng tiếc găng. Nước chợ ngấm vào vết xước một tối là sáng
mai tha hồ mà rát.”
Hảo nhận, đùa rằng tay mình sạch hơn cái cán chổi. Thu bảo
vậy thì lấy tay mà quét. Anh cười, cúi đầu đeo găng.
* * *
Sáu giờ hơn, chợ bắt đầu vãn thật sự. Những tiếng gọi khách
tắt trước. Sau đó là tiếng cân. Tiếp đến tiếng dao. Khi người bán thịt cuối
cùng treo tấm bạt trước sạp, âm thanh còn lại chủ yếu là nước và kim loại:
thùng nhựa kéo trên nền, cửa cuốn đóng, móc treo va nhau, xô úp xuống bàn. Thu
chia việc như mọi hôm. Hảo phụ trách dãy giữa gồm thịt và phần lối sang hàng
khô. Liên với Phượng làm khu cá, gia cầm và cống sau. Thu đi vòng ngoài, gom
điểm rác lớn, sau đó quay lại kiểm tra từng khu.
Công việc không có gì đáng kể nếu chỉ nhìn từ xa. Nhưng
những người làm vệ sinh chợ biết mỗi đoạn nền có một tính khác nhau. Khu cá
không thể chỉ xịt nước; vảy mắc ở mép gạch phải dùng chổi cứng. Khu thịt nếu
còn mỡ thì nước càng nhiều càng trơn. Dãy rau trông sạch nhưng lá dập bị xe đẩy
nghiền vào khe gạch sẽ bốc mùi rất nhanh. Khu quán ăn phải chờ dầu mỡ nguội bớt
mới xử lý, nếu không cả đường cống đóng một lớp nhờn.
Thu đi qua sạp số mười bảy, nơi chú Phước bán thịt heo, thấy
ông còn đang lau chiếc cân điện tử. Thu ghé hỏi hôm nay còn sót gì không. Ông
nhấc chiếc túi nhỏ lên, cười: “Còn miếng vai mà bà kia trả xuống trả lên vì chê
nhiều gân. Tôi đem về ăn, khỏi bán rẻ.” Thớ thịt đỏ hồng, mỡ trắng. Thu từng
đứng bán rau nhưng chồng bà trước đây làm bốc hàng cho lò mổ, nên những thứ
trên quầy thịt không xa lạ. Một miếng thịt cuối ngày chẳng có gì đáng để nhìn
lâu.
Chú Phước kéo chiếc thớt gỗ dày vào trong, úp dao lên giá,
lấy vòi tráng mặt bàn inox. Hảo đứng chờ cách đó hai sạp, chống cây gạt nước,
vừa ngáp vừa nhìn điện thoại. Thu nhìn thấy liền quát Hảo cất điện thoại. Anh
nhét máy vào túi ngay, giải thích chỉ xem vợ nhắn con đã hạ sốt chưa. Thu không
mắng thêm, chỉ bảo: “Biết con ổn rồi thì làm tiếp đi. Khu này còn cả lớp mỡ
dưới chân.” Hảo gật, chống cây gạt nước đứng thẳng dậy.
Chú Phước cười. “Bà làm dữ như hồi bán rau.”
“Không dữ thì sáng ra các ông lại chửi chợ dơ.”
“Chợ mà sạch quá người ta lại tưởng siêu thị.”
Mấy người cùng cười. Chú Phước kéo cửa sạp, chào rồi đi. Sau
ông là từng người một. Dãy giữa thưa đi rất nhanh. Khoảng bảy giờ mười lăm, Thu
ăn vội ổ bánh mì mua ở cổng. Bà ngồi trên ghế nhựa cạnh phòng bảo vệ, tháo khẩu
trang cho dễ thở. Bác Tân đã nhận cổng trước; Dũng phụ trách cổng sau và ở lại
hỗ trợ vì có xe hàng dự kiến vào sớm. Cậu đứng dựa tường, uống cà phê đá trong
ly nhựa.
Dũng nhắc chuyện cuối tháng phải đi thử đồ cưới vì Lan đã
đặt lịch, giọng than như bị bắt đi khám bệnh. Thu bảo cưới có một ngày, mặc cái
vest không chết được. Cậu cười: “Cô nói nghe nhẹ nhàng quá. Con mặc áo sơ mi
mười phút đã thấy ngứa. Chú hồi trước có chịu mặc không?” Thu nhìn cái bánh mì
trong tay một thoáng. Chồng bà mất đã gần bốn năm. Những câu nhắc tới ông không
còn làm bà khựng như hai năm đầu, nhưng cũng chưa trở thành chuyện kể thoải
mái.
“Ông ấy mặc cái áo sơ mi màu kem, nóng quá toát mồ hôi. Ảnh
cưới giờ nhìn như vừa chạy bộ.”
Dũng cười, rồi xin lỗi khi nhận ra mình vừa chạm vào chuyện
cũ. Thu khoát tay. “Có gì đâu. Mày chạy bộ thì coi chừng tới ngày cưới cũng y
chang.” Hảo từ dãy giữa đi ra lấy thêm hóa chất lau sàn. Thu nhìn đôi găng mới
còn nguyên trên tay anh. Thu hỏi Hảo làm tới đâu. Anh bảo đã qua nửa dãy nhưng
khu chú Phước còn nhiều mỡ nên phải chà lại. Bà nhắc đừng đổ hóa chất đặc quá
kẻo sáng mai mặt gạch trắng loang. Hảo vừa lấy chai dung dịch vừa đáp rằng anh
nhớ.
Hảo mở tủ lấy chai dung dịch, đặt lên xe rồi cầm chai nước
lọc uống gần nửa. Gần tám giờ, người thợ điện rời khu B và Khánh đi theo kiểm
tra cầu dao. Cửa chính hạ xuống còn một khoảng vừa đủ cho người ra vào. Khoảng
hơn tám giờ hai mươi, Thu bắt đầu đi kiểm dãy giữa.
Hảo đang quỳ cạnh miệng cống, lấy móc kéo một cục mỡ và giấy
nilon mắc dưới lưới. Thu thấy cổ găng tụt xuống nên nhắc Hảo kéo lên sâu hơn.
Anh bảo đôi mới hơi rộng cổ tay. Bà nói ngày mai sẽ đổi size khác, đừng vì khó
chịu mà tháo ra lúc móc cống. Hảo đứng dậy, lắc nước khỏi tay rồi tiếp tục đẩy
xe sang sạp kế bên.
Dãy thịt lúc đó đã gần sạch. Mặt bàn inox phản ánh đèn tuýp
thành những vệt dài. Các móc treo trống. Trên thớt chỉ còn dấu dao cũ và màu gỗ
thẫm vì ngấm nước qua nhiều năm. Nếu chụp một bức ảnh lúc đó, chẳng ai thấy có
gì bất thường. Thu đi tiếp. Gần chín giờ, bà còn nghe Hảo huýt sáo ở đâu đó
phía sau dãy hàng khô. Một lúc sau tiếng huýt sáo biến mất, nhưng ở một khu chợ
sau giờ đóng, sự im lặng của một người chưa đủ khiến ai chú ý ngay.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.