Chương 6: Chiếc Rổ Xanh
Chiếc rổ xanh được giữ làm vật chứng. Hơn một tuần sau, phía công an trao đổi với ban quản lý những thông tin cần cho việc rà người liên quan: các mẫu trong rổ không đến từ cùng một người. Ít nhất ba nguồn sinh học khác nhau được ghi nhận. Không mẫu nào trùng với Mến.
Mẩu răng trong rổ cũng không trùng chiếc răng sâu đã tìm
dưới cống ở vụ Hảo. Chi tiết đó khiến Khánh phải mở rộng việc rà hồ sơ cũ thay
vì coi hai vụ chỉ liên quan đến một kẻ nhắm vào Hảo và Mến.
Thông tin này không được công bố trong chợ. Nhưng việc công
an quay lại hỏi camera, sổ giao nhận và người từng ngủ lại khiến lời đồn mọc
nhanh hơn bất kỳ thông báo chính thức nào. Người nói có kẻ lấy nội tạng. Người
nói nha sĩ bệnh hoạn. Người khác lại bảo hai nạn nhân quen cùng một người.
Khánh không tranh luận với từng lời đồn. Anh chỉ yêu cầu
những người ở lại sau giờ đóng phải đăng ký, đồng thời cho kiểm lại khóa cửa
chung và các điểm khuất mà người lạ có thể ẩn từ trước. Anh vẫn làm theo những
việc có thể làm được.
Buổi họp tiểu thương cuối tuần đông hơn thường lệ. Chủ sạp
hỏi camera sẽ lắp tới đâu, ai chịu tiền và vì sao người nhập hàng sớm phải đăng
ký. Một người bán đồ khô nói thẳng không chấp nhận camera nhìn vào chỗ cất
tiền.
Khánh không kể những gì chưa được phép nói. Anh chỉ xác nhận
hai vụ việc đang được điều tra, camera lối chung sẽ tăng và ai ở lại sau giờ
đóng phải báo bảo vệ. Anh không hứa chợ an toàn tuyệt đối.
Một người đàn ông ngồi gần đầu dãy ghế buột miệng nói có khi
Mến quen kẻ nào đó rồi tự cho vào sạp. Con dâu Mến đứng bật dậy. Thu bước tới
giữ cánh tay cô trước khi lời qua tiếng lại thành cãi vã. Người đàn ông nhìn
quanh rồi im.
Sau buổi họp, con dâu Mến xin lỗi Thu. Thu bảo cô không có
gì phải xin. Cô gái nhìn dãy gia cầm đang sáng đèn rồi nói mẹ chồng cứ đòi về
bán, ở nhà cũng không chịu nghỉ. “Bả nói bị lấy một cái răng chứ có mất cái tay
đâu.” Cô nói lúc tới bệnh viện mẹ chồng vẫn hỏi đủ mười tám lồng chưa, con nào
chết dọc đường có trừ tiền không. Bác sĩ phải nhắc hai lần Mến mới chịu cất
điện thoại. Đến lúc y tá hỏi người thân ký giấy, bà còn giục con dâu về mở sạp
trước giờ khách quen tới.
Mến vẫn đi được, vẫn tính được tiền và đã gọi về sạp hỏi giá
từng con gà từ trên giường bệnh. Khoảng trống ở hàm răng đủ nhỏ để người ngoài
dễ quên; với Mến, mỗi lần nhai lại chạm đúng chỗ ấy.
Ba hôm Mến còn ở viện, khu gia cầm tự đổi cách làm trước cả
khi ban quản lý ra thêm quy định. Hai sạp có chuyến hàng sớm ghép giờ với nhau
để ít nhất luôn có hai người thức. Một bà bán vịt vốn vẫn ngủ trên ghế bố sau
quầy mang chăn gối về nhà, sáng nào cũng nhờ con rể chở tới. Người bán trứng ở
dãy bên thuê xe ôm đi từ nhà lúc hai giờ rưỡi, vừa tốn tiền vừa than suốt,
nhưng vẫn làm.
Những thay đổi ấy gây phiền nhiều hơn gây yên tâm. Tài xế
phải chờ ngoài cổng lâu hơn. Người bán sợ hụt chuyến, người bảo vệ sợ bị trách
mở chậm, còn Khánh phải nghe đủ lời phàn nàn vì bắt đăng ký người ở lại. Một
buổi sáng có xe thịt tới sớm hơn lịch, chủ sạp gọi Dũng xuống tận cổng để cùng
đi vào kho lấy cân. Hai người nói chuyện bóng đá suốt quãng hành lang còn tối.
Đến giờ đóng, những chiếc giường xếp bắt đầu biến mất dần
khỏi sau các quầy. Bình nước, áo khoác và dép đi trong nhà vẫn còn, nhưng ít
người chịu kéo rèm nằm xuống như trước.
Phía điều tra bắt đầu rà thêm các trường hợp từng được báo
mất tích, từng nhờ xem camera hoặc từng để lại tranh chấp ở chợ trong vài năm
gần đây. Khánh được yêu cầu cung cấp sổ giao nhận, danh sách thợ sửa chữa và
những người có quyền ra vào ngoài giờ.
Danh sách dài, phần lớn chẳng dẫn tới đâu: va quẹt, mất xe,
nợ hàng, người bỏ việc. Thu chỉ tham gia khi Khánh cần hỏi về một cái tên hoặc
thói quen của người từng làm lâu ở Phú Thành.
Giữa một tập giấy cũ, Khánh tìm thấy bản thông báo tìm người
mang tên Nguyễn Thị Nga.
Khánh photocopy tờ thông báo rồi mang xuống dãy trái cây.
Thu đi cùng vì bà từng bán ở khu này và biết những người làm lâu năm. Nga không
có sạp cố định; cô chạy hàng cho một vựa ngoài quốc lộ, mỗi tuần vài lần giao
cam, táo và lê vào Phú Thành.
Chị Yến nhận ra trước. “Con Nga giao hàng cho vựa ngoài quốc
lộ chứ gì.” Chị đặt chiếc kéo cắt băng keo xuống, lau tay vào tạp dề rồi xin
nhìn gần hơn.
Hai năm trước, lúc Nga mất tích, gia đình từng tới hỏi
camera và dán ảnh ở cổng. Khi ấy người ta chỉ biết cô gái giao trái cây không
về nhà. Có người bảo Nga nợ tiền, người khác nói cô bỏ theo bạn trai. Sau vài
tháng, tờ tìm người rách dần rồi bị tháo xuống.
Khánh hỏi Yến còn nhớ đặc điểm nào dễ nhận không. Chị nghĩ
một lúc rồi nói Nga hay sơn móng tay màu xanh đậm, từng đùa màu đó che được vết
nhựa trái cây bám quanh móng.
Thu nghĩ tới mảnh móng xanh trong chiếc rổ nhưng không nói
đó là của Nga. Một màu sơn không đủ để biến ký ức thành bằng chứng.
Thu nhớ tên trước khi nhớ mặt. Rồi những chi tiết nhỏ quay
lại: Nga thường giao hàng lúc trời chưa sáng hẳn, hay đứng tựa thùng xe chờ
người nhận đếm đủ và nói rất nhanh mỗi khi tài xế giục.
Khánh hỏi có ảnh cũ nào nhìn rõ bàn tay Nga không. Chị Yến
bảo trong nhóm Zalo của tổ trái cây có thể còn ảnh những đợt nhập hàng cũ,
nhưng phải lục lại.
Chiều hôm đó họ mới tìm được vài tấm. Nga đứng cạnh xe tải,
áo khoác chống nắng kéo tới cổ, một tay đặt lên thùng lê. Móng tay sơn xanh lá
đậm.
Ảnh quá mờ để đối chiếu hình dạng mảnh móng. Khánh gửi ảnh
và bản thông báo cho cán bộ phụ trách, ghi rõ đây chỉ là một điểm cần kiểm tra
chứ chưa phải nhận dạng.
Tối ấy, khi đi qua dãy trái cây, Thu nhớ Nga từng có lần đưa
bà chiếc áo mưa mỏng vì trời đổ mưa mà Thu quên mang.
Chuyến sau Thu trả áo và mua cho Nga một ly cà phê. Cô uống
cà phê đen nhưng bỏ rất nhiều đá. Những chuyện ấy không có trong tờ thông báo
tìm người.
Sáng hôm sau, chị Yến chủ động kể thêm. Ngày Nga mất, vựa
trái cây gọi hỏi vì một chuyến hàng đã giao đủ nhưng Nga không về lại kho.
Người tài xế đi cùng khai anh ta xuống hàng ở hai nơi, sau đó Nga bảo anh chạy
chuyến kế, cô ở lại giải quyết tiền với khách. Chị Yến không còn nhớ Phú Thành
có phải điểm cuối hay không.
Gia đình Nga tới chợ ba lần. Lần đầu mang ảnh. Lần sau xin
xem camera. Lần cuối chỉ có mẹ cô, một người phụ nữ nhỏ thó cầm túi hồ sơ nhựa,
đi từng dãy hỏi xem có ai nhớ con gái mình hay không.
Thu khi ấy đang kéo hai bao rác từ khu trái cây ra xe. Bà
nhớ mình đã tránh sang một bên cho người mẹ đi qua nhưng không nói gì. Chiếc
túi hồ sơ của bà bị rách ở quai, được buộc lại bằng một sợi dây thun màu vàng.
Nền hôm đó trơn sau một trận mưa; người phụ nữ đi chậm, cứ vài quầy lại mở túi
lấy ảnh Nga ra rồi cất vào. Khi xe rác tới, Thu vẫn kéo bao đi như mọi hôm.
Hai năm sau, điều Thu nhớ rõ nhất về người mẹ ấy lại là sợi
dây thun màu vàng trên quai túi.
Buổi trưa, bà hỏi chị Yến gia đình Nga sau đó thế nào. Yến
lắc đầu. “Không biết. Họ hết tới thì mình cũng thôi nghe.”
Một khách chen vào hỏi giá lê. Yến quay sang cân hàng, cuộc
nói chuyện dừng ở đó. Thu đẩy xe rác đi tiếp.
Ở cuối dãy, tiếng xe nâng tay kéo qua nền lấn hết những âm
thanh còn lại.
* * *
Mến trở lại chợ sau chín ngày.
Bà nói chuyện vẫn hơi ngọng vì ổ răng chưa lành. Con dâu đi
cùng buổi đầu, đứng bán giúp tới trưa. Mến không cho ai tỏ vẻ thương hại; người
hỏi quá nhiều bị bà mắng thẳng.
Chiếc giường xếp đã được mang về nhà. Mến nói từ giờ xe hàng
tới sớm thì bà sẽ nhờ người mở sạp hoặc ngủ ở nhà con trai gần chợ. Chiếc rổ
xanh đã bị giữ làm vật chứng, nhưng Phú Thành có hàng chục chiếc rổ cùng màu.
Ngày đầu quay lại, Mến nhìn thấy một chiếc rổ xanh ở sạp
bên. Bà đang buộc túi hàng thì tay dừng lại. Sau vài giây, bà cúi xuống nhìn
vào trong. Chỉ có chai nước rỗng và túi dây thun.
Mến dùng mũi dép đẩy nó sâu hơn dưới gầm rồi tiếp tục bán.
Đến chiều, một khách quen mua gà hỏi sao Mến mất răng. Bà
nói nhổ ở bệnh viện. Khách bảo đáng lẽ nhổ luôn cái răng sâu bên dưới cho đỡ
công. Mến đang cầm túi hàng, bàn tay dừng lại.
“Ừ,” bà nói. “Đáng lẽ.”
Khách không nhận ra gì, cầm túi đi. Thu đứng ở lối bên kia
nghe thấy nhưng không bước sang.
Tối đầu tiên sau khi quay lại, Mến thu sạp sớm hơn thường
lệ. Bà kiểm hai lần xem điện thoại, chìa khóa và ví đã nằm trong túi chưa, rồi
gọi con trai tới đón dù xe máy của mình vẫn dựng ở bãi. Con trai hỏi sao không
tự chạy về, Mến cáu rằng đường tối nhìn không rõ, hôm khác lấy xe sau. Thu nghe
vậy cũng không nói gì.
Hai hôm sau Mến lại tự chạy xe như cũ, nhưng không ngủ lại
sạp nữa. Những hôm chuyến hàng tới lúc ba giờ sáng, bà sang nhà con trai ngủ từ
tối rồi đi bộ ra chợ cùng con dâu. Bà than phiền cách đó phiền phức, tốn thời
gian và làm bà mất khách đầu phiên; dù vậy, chiếc giường xếp không được mang
trở lại.
* * *
Khánh tăng người trực đêm thêm một tuần rồi phải giảm lại.
Ban quản lý không đủ ngân sách giữ hai bảo vệ tăng ca mãi. Đội vệ sinh vẫn đi
theo cặp ở các dãy khuất. Camera khu gia cầm được bổ sung một mắt nhìn sâu hơn
vào quầy ngoài, nhưng khoảng kho riêng của từng tiểu thương vẫn không thể đặt
máy.
Một tối Thu thấy Khánh đứng dưới cột camera, ngẩng nhìn góc
quay. Bà hỏi đang tính lắp thêm à. Khánh lắc đầu. “Chỗ người ta ngủ với thay đồ
thì không đặt được đâu chị. Lắp tới mức nhìn hết mọi góc, họ không chịu.”
Thu đẩy xe sang khu gia cầm. Mến đã về. Nền sạch. Không còn
giường xếp. Chiếc cân mới phủ bạt. Thu dừng ở sạp bên cạnh, cúi nhìn dưới gầm
theo thói quen mới hình thành mà bà ghét phải thừa nhận.
Dưới gầm chỉ là nền trống. Bà đứng thẳng dậy rồi tiếp tục
công việc.
Gần chín giờ, Lan ghé qua cổng đưa Dũng tờ giấy nhà in ghi
danh sách bàn cưới hai bên đang sửa tới sửa lui. Hai người đứng cạnh bàn bảo vệ
tranh luận nhỏ giọng xem có cần thêm một bàn họ hàng xa. Thu đi ngang, nghe
Dũng than cưới xin còn mệt hơn trực đêm rồi bật cười.
Lan gấp tờ giấy lại, bảo cậu hết ca thì gọi. Dũng nhét nó
vào ngăn bàn, cầm sổ trực lên rồi quay ra cổng.
Đêm đó yên. Sáng hôm sau chợ mở như thường. Ba ngày sau,
Khánh gọi Thu lên phòng quản lý lần nữa. Cán bộ phụ trách vụ việc vừa gửi sang
phần lịch giao nhận do vựa trái cây cũ của Nga cung cấp để đối chiếu với hồ sơ
chợ.
Trên bàn có tờ photocopy thông báo tìm Nga mà gia đình cô
từng đưa tới hơn hai năm trước và bản trích lịch giao nhận mới được chuyển
sang.
Ảnh chân dung nhỏ, in đen trắng. Dưới ảnh là tên đầy đủ, năm
sinh, số điện thoại liên hệ và dòng ghi lần cuối gia đình biết cô đi giao hàng
vào rạng sáng.
Trong lịch của vựa, chuyến cuối cùng gắn với tên Nga ghi
điểm giao: Chợ Phú Thành. Thu đọc dòng đó hai lần.
Khánh không nói mảnh móng xanh thuộc về Nga. Chưa có xét
nghiệm nào xác nhận. Anh cũng không nối Nga với Hảo hay Mến bằng một kết luận
vượt quá những gì đang có.
“Hồi đó camera còn gì không anh?” Thu hỏi.
Khánh lật phần ghi chú cũ. Gia đình Nga tới hỏi khi dữ liệu
gốc đã gần hết thời hạn lưu. Bảo vệ khi ấy chỉ sao ra vài đoạn ở cổng sau. Một
đoạn ghi chiếc xe của vựa rời chợ, nhưng góc hình không cho biết Nga có lên xe
hay ở lại. Không có đoạn nào đủ để xác định sau đó cô đi đâu. Phía điều tra
đang lấy lại hồ sơ cũ để kiểm tra lần nữa.
Thu đặt tờ photocopy xuống.
Ngoài phòng quản lý, một người phụ đang kéo xe hàng qua lối.
Bánh xe cán phải đoạn dây nhựa rồi dừng. Anh ta cúi nhặt, vo lại và ném vào
chiếc sọt gần cầu thang.
Bà nhớ chiếc rổ xanh dưới gầm sạp gia cầm: chiếc răng vỡ,
những mảnh móng dày, tóc bạc, miếng da có sẹo và mảnh móng sơn xanh.
Tất cả đều nhỏ. Nếu nằm riêng trên nền chợ, chẳng món nào đủ
khiến một người quét rác phải dừng tay.
Khánh gấp tờ thông báo của Nga lại, đặt vào túi hồ sơ rồi
nhắc Thu chuyện này chưa được nói với ai. Bà gật.
Xuống cầu thang, Thu đi qua dãy hàng khô. Dưới gầm các sạp
là rổ, thau, sọt nhựa, túi dây, thùng carton và những món đồ người bán tiện tay
nhét xuống để lát dùng. Bà chưa từng để ý chúng nhiều đến vậy.
Tối ấy, bà lại đi một vòng Phú Thành trước khi đội vệ sinh
bắt đầu. Khu cá còn đá, dãy thịt còn khách, Mến đang cãi nhau vì thiếu tiền lẻ.
Ở cổng sau, Dũng cúi ghi biển số một xe giao hàng vào sổ; phía bên kia, Khánh
kéo mấy thùng giấy ra khỏi vòi chữa cháy. Mọi thứ đều nằm đúng chỗ của nó.
Thu đẩy xe dụng cụ qua lối giữa và chợt nhớ công việc của
mình trước đây đơn giản đến mức nào. Nhặt một thứ dưới nền, bà chỉ cần biết đó
là loại rác gì để bỏ đúng chỗ. Từ đêm chiếc rổ xanh được kéo ra khỏi gầm sạp
Mến, mỗi khi cúi xuống một vật nhỏ, bà lại mất thêm một nhịp để nghĩ xem nó
từng thuộc về ai.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.