Chợ Vãn

Chương 7: Tờ Thông Báo Tìm Người

Đăng: 29/08/2026 09:27 2,214 từ 1 lượt đọc

Hai ngày sau khi Khánh đưa Thu xem bản trích lịch giao nhận của vựa trái cây, cái tên Nguyễn Thị Nga vẫn nằm trong đầu bà theo một cách rất khó chịu.

Thu không nghĩ đến Nga liên tục. Bà vẫn đi làm đúng giờ, vẫn kiểm thùng hóa chất, ký sổ nhận ca, nhắc Liên đừng pha nước lau sàn quá đặc và cằn nhằn Phượng vì lại để cây gạt nước chắn lối xe đẩy. Chợ Phú Thành vẫn đẩy đủ thứ việc vào trước mặt người ta để không ai có thể ngồi yên với một cái tên quá lâu. Buổi sáng người ta giao thịt, buổi trưa nhập trứng, buổi chiều hết tiền lẻ, tối thì tắc cống. Một người mất tích từ hai năm trước không thể làm những việc đó dừng lại.
Nhưng mỗi lần đi qua dãy trái cây, Thu lại nhìn xuống bàn tay những người bán hàng.
Chị Yến vẫn cắt băng keo bằng cây kéo cán đỏ. Hai cô phụ việc ở sạp bên vẫn ngồi lựa táo dập sang rổ riêng. Một người giao nho mới tới còn sơn móng tay màu tím đậm, lớp sơn bong ở đầu ngón trỏ vì kéo dây thùng. Những chi tiết bình thường ấy bây giờ cứ tự chen vào mắt Thu.
Sáng thứ ba, Khánh gọi bà lên phòng quản lý lúc chợ vừa qua đợt khách đông đầu ngày.
Anh không đóng cửa lần này. Trên bàn chỉ có sổ giao nhận cũ, một tập photocopy và hai ly cà phê đã tan gần hết đá. Một người đàn ông mặc sơ mi xanh nhạt ngồi cạnh cửa sổ. Thu từng gặp anh vài lần sau vụ Hảo và Mến nhưng chưa nói chuyện lâu. Khánh giới thiệu anh tên Thành, phụ trách cùng nhóm đang rà lại các vụ việc liên quan đến chợ.
Thành kéo chiếc ghế trống ra cho Thu.
“Bọn anh cần chị nhớ giúp một đoạn, nếu nhớ được thì nói. Không nhớ cũng không sao.”
Cách anh nói khiến Thu dễ chịu hơn những câu hỏi kiểu “chị chắc chứ”. Bà ngồi xuống.
Khánh mở sổ giao nhận cách đây hơn hai năm. Giấy đã ngả màu ở mép, những dòng viết bằng nhiều loại bút khác nhau. Ngày Nga mất được đánh dấu bằng một tờ giấy nhớ nhỏ.
Bốn giờ mười hai, xe của vựa trái cây vào cổng sau.
Bốn giờ bốn mươi bảy, xe ra.
Ở cột ghi chú có một dòng viết thêm bằng bút xanh: “Nga ở lại chốt hàng trả.”
Thu đọc chậm từng chữ.
“Dòng ghi chú này là chữ của ai vậy?”
Khánh đáp: “Bác bảo vệ cũ tên Mậu. Nghỉ hơn một năm rồi. Bọn tôi tìm được ông ấy hôm qua.”
Thành hỏi Thu có nhớ “hàng trả” ở dãy trái cây khi đó thường xử lý ở đâu không.
“Có nhiều kiểu,” Thu nói. “Thùng dập ít thì người nhận trừ tiền. Dập nhiều thì để riêng, chuyến sau vựa lấy về. Có khi bán tháo tại chỗ. Tùy mối.”
“Có chỗ tập trung không?”
Thu nghĩ một lúc.
“Ngày trước cuối dãy trái cây có cái phòng cân nhỏ. Không phải kho. Chỉ là chỗ để cân bàn với mấy rổ hàng lỗi khi hai bên cãi nhau số ký. Sau sửa mái thì bỏ.”
Khánh ngẩng lên.
“Phòng dưới cầu thang sắt?”
“Ừ. Giờ chất thùng giấy.”
Thành không ghi ngay. Anh hỏi: “Ngày Nga mất, chị có nhớ cô ấy ở lại chợ không?”
Thu lắc đầu.
Bà đã cố ép ký ức mình đi qua ngày đó từ lúc nhìn thấy tờ tìm người. Nhưng hai năm là khoảng thời gian đủ dài để hàng nghìn buổi sáng giống nhau chồng lên nhau. Nga giao hàng lúc sớm. Thu khi ấy thường làm ca tối. Những lúc hai người gặp nhau thường là khi Thu có việc đi sớm hoặc Nga giao trễ.
“Tôi nhớ Nga,” bà nói. “Nhưng ngày đó thì không. Nếu tôi bảo có là tôi bịa.”
Thành gật, ghi đúng câu đó vào sổ tay.
Khánh đưa bà xem thêm một tờ giấy. Đó là bản photo phiếu giao hàng của vựa. Bốn loại trái cây, tổng mười sáu thùng. Ở góc dưới có dòng ghi bằng bút bi: “trả 4 khay cam dập, chờ đối chiếu”. Phần ký người giao là chữ Nga.
“Vựa giữ bản này?” Thu hỏi.
“Bản carbon cũ trong kho hồ sơ,” Thành nói. “Không đủ để biết cô ấy rời chợ lúc nào. Nhưng phù hợp với ghi chú của bảo vệ.”
Ngoài cửa phòng có người gọi Khánh xuống xử lý một xe đỗ chắn lối chữa cháy. Anh đứng dậy, bảo Thu chờ một phút rồi đi ra.
Thành ở lại. Anh lật tờ phiếu về phía Thu.
“Gia đình Nga sẽ tới chiều nay.”
“Có kết quả rồi à?”
“Chưa thể gọi là kết luận cuối. Mảnh móng có lớp mô bám đủ lấy mẫu. Kết quả ban đầu cho thấy có quan hệ huyết thống rất gần với mẫu của mẹ và em trai Nga. Bọn anh còn phải hoàn tất đối chiếu, nhưng khả năng đó là của Nga đã đủ cao để mở lại hồ sơ theo hướng khác.”
Thu không hỏi “cao là bao nhiêu”. Bà nhìn dòng chữ “trả 4 khay cam dập” trên giấy.
Thành nói tiếp: “Những mẫu còn lại trong cái rổ không cùng một người. Cái răng vỡ là một nguồn khác. Mẩu da có sẹo lại là nguồn khác nữa.”
“Còn mẫu tóc bạc trong rổ thì sao?”
“Phần đó vẫn đang được làm tiếp.”
“Răng dưới cống vụ Hảo?”
Thành nhìn bà một nhịp rồi đáp: “Vẫn đang đối chiếu.”
Không có gì trong giọng anh cho biết thêm.
Khánh quay lại, tay còn cầm bộ đàm. Thu đứng lên. Bà không biết mình cần ở lại để nghe gì nữa.
Trước khi đi, Thành nhắc bà nếu chiều gặp gia đình Nga thì đừng nói về các mẫu chưa được xác nhận. Thu bảo bà biết.
Xuống cầu thang, bà gặp chị Yến đang đẩy một xe lê vào kho. Bốn quả dập được đặt riêng trong một rổ đỏ dưới chân xe. Một quả đã mềm hẳn, chỗ va chuyển màu nâu sẫm.
* * *
Mẹ Nga đến chợ lúc gần ba giờ chiều.
Bà tên Hường, nhỏ người hơn Thu nhớ. Hai năm trước, Thu chỉ nhìn bà vài lần từ xa khi người phụ nữ cầm túi hồ sơ đi hết dãy này sang dãy khác. Hôm nay bà Hường vẫn mang một túi nhựa đựng giấy tờ, nhưng là chiếc túi mới có khóa kéo. Em trai Nga đi cùng, một người đàn ông khoảng ba mươi tuổi tên Nam.
Khánh mời họ lên phòng quản lý trước. Thu không có lý do tham gia buổi trao đổi nên ở dưới làm việc. Gần một tiếng sau, chị Yến chạy sang gọi.
“Cô Thu, mẹ con Nga hỏi cô.”
Thu lau tay vào khăn rồi đi qua.
Bà Hường đứng trước sạp trái cây của Yến, hai tay ôm chiếc túi giấy vào bụng. Bà nhận ra Thu trước khi Thu kịp chào.
“Hồi đó cô làm vệ sinh ở đây phải không?”
“Dạ. Tôi vẫn làm.”
Bà Hường gật. Ánh mắt bà đi qua vai Thu, nhìn dãy chợ phía sau.
“Tôi nhớ cô. Hôm tôi tới lần cuối, cô kéo hai bao rác rất lớn. Tôi đứng chắn đường, cô tránh cho tôi đi.”
Thu thấy cổ họng mình khô đi.
Bà đã nhớ sợi dây thun vàng buộc quai túi của người mẹ. Bà Hường lại nhớ hai bao rác của bà.
“Lúc đó tôi không biết gì để giúp cô,” Thu nói.
“Hồi đó chẳng ai biết nó đã đi đâu.”
Bà Hường không trách. Chính điều đó làm Thu khó chịu hơn.
Chị Yến kéo ghế ra. Nam đứng bên cạnh mẹ, một tay giữ chiếc nón bảo hiểm. Cậu hỏi có thể đi xem chỗ Nga thường giao hàng không. Khánh đã đồng ý miễn không vào khu nào đang giữ để kiểm tra.
Yến dẫn họ tới sạp cũ từng nhận hàng của vựa. Chủ sạp đã đổi người, nhưng vị trí vẫn vậy. Bà Hường đứng ở lối, nhìn mặt bàn mới, kệ mới, biển giá mới. Không có thứ gì ở đó thuộc về hai năm trước.
“Con bé hay đứng đâu?” bà hỏi.
Yến chỉ khoảng sát cột.
“Thường nó đứng đây chờ đếm hàng. Nó hay để điện thoại trên cái thùng trên cùng rồi vừa ký vừa cằn nhằn tài xế.”
Bà Hường bật cười rất nhỏ.
“Nó nói nhanh lắm.”
“Đúng rồi.” Yến cũng cười. “Nhất là lúc thiếu hàng.”
Hai người cười được đúng vài giây. Sau đó Yến quay mặt đi, giả vờ chỉnh lại dây buộc trên thùng lê.
Nam hỏi về phòng cân cũ.
“Khánh nói với cậu rồi?”
“Anh ấy nói chị có nhớ một chỗ người ta để hàng trả.”
Thu dẫn họ đi tới cuối dãy.
Phòng cân nằm dưới cầu thang sắt dẫn lên gác kỹ thuật. Cửa cao chưa tới hai mét, bản lề dưới đã rỉ. Từ sau đợt sửa mái, chiếc cân bàn lớn được chuyển sang kho mới; căn phòng trở thành chỗ nhét thùng carton, bảng quảng cáo cũ và mấy cuộn bạt.
Khánh đã cho người dọn lối ngoài nhưng chưa ai được tự ý xê dịch đồ bên trong. Thành cùng một cán bộ khác đang chụp ảnh hiện trạng.
Bà Hường đứng ngoài vạch Khánh dán tạm trên nền.
“Ngày đó nó vào đây à?”
Thu đáp: “Chưa ai biết.”
Bà Hường nhìn căn phòng tối dưới cầu thang rất lâu.
“Lần cuối tôi tới, không ai dẫn tôi xuống chỗ này.”
Khánh đứng gần đó, nghe thấy. Anh nói: “Hồi ấy bên quản lý chỉ kiểm camera với các lối chính. Hồ sơ cũ không ghi phòng này có liên quan. Bây giờ bọn tôi mới rà lại từ đầu.”
Bà Hường gật. Bà không mắng anh. Nam thì siết quai nón bảo hiểm đến các khớp tay trắng ra.
Thành bước ra khỏi phòng. Găng trên tay anh bám bụi carton.
“Chưa thấy gì đáng kể. Bên trong chỉ là đồ cũ. Bọn anh sẽ làm từng lớp.”
Bà Hường hỏi có thể đứng thêm một lúc không. Thành bảo được.
Thu quay về việc. Lúc đi khỏi cuối dãy, bà nghe tiếng cầu thang sắt rung vì có người trên gác bước qua. Âm thanh khô, đều, chẳng có gì lạ. Nhưng lần đầu tiên bà nghĩ một người có thể biến mất ở một khu chợ không phải vì nơi đó có quá nhiều chỗ để trốn.
Có khi chỉ vì mọi người đã quá quen với việc không nhìn vào những chỗ không liên quan đến mình.
* * *
Việc kiểm căn phòng cân cũ kéo dài gần hết buổi chiều.
Không có máu. Không có thuốc, dây trói hay dụng cụ nào khiến một căn phòng chất thùng giấy biến thành câu trả lời. Dưới lớp bụi chỉ có những thứ người ta bỏ quên nhiều năm: một cuộn dây nilon đã giòn, hai chiếc móc cân gỉ, mấy bảng giá in từ mùa Tết cũ, một cái áo mưa rách vai và bốn chiếc khay nhựa đen cùng loại từng dùng đựng trái cây dập.
Bốn chiếc khay làm Nam đứng chết lặng vài giây.
Thành phải giải thích ngay rằng chúng không phải bốn khay trong phiếu của Nga chỉ vì số lượng trùng nhau. Loại khay đó từng được dùng hàng trăm cái trong chợ. Không có nhãn vựa, không còn dấu sơn hay mã đủ đọc.
Nam gật nhưng vẫn nhìn chúng.
Bà Hường xin về trước khi trời tối. Yến biếu bà một túi cam. Bà từ chối hai lần rồi nhận, ôm túi vào lòng như sợ làm dập. Thu tiễn hai mẹ con tới cổng.
Trước khi lên xe, bà Hường hỏi:
“Nếu ngày đó cô thấy nó ở lại, cô có nhớ không?”
Thu hiểu câu hỏi không phải để trách.
“Tôi nghĩ là có.”
“Vậy chắc hôm đó hai người không gặp nhau.”
“Chắc hôm đó hai cô cháu không gặp nhau.”
Bà Hường nhìn cổng chợ, rồi nói như với chính mình: “Nó mà biết tôi vẫn đi tìm hai năm chắc nó mắng. Nó ghét tôi đi đường xa một mình.”
Nam đội nón cho mẹ, cài dây giúp bà. Chiếc xe chạy ra khỏi bãi, nhập vào dòng người ngoài đường.
Thu đứng nhìn thêm một lúc.
Tối ấy, Phú Thành đóng cửa đúng giờ.
Sau vụ Mến, lịch kiểm tra đêm được sửa lần nữa. Những người vào trước giờ mở phải đăng ký biển số. Ai ngủ lại phải có lý do và báo vị trí. Các khu khuất không còn một người đi một mình. Camera mới đã phủ thêm dãy gia cầm và phần ngoài phòng cân cũ. Khoảng trong căn phòng dưới cầu thang vẫn không có camera vì Khánh chưa quyết định có biến nó thành khu sử dụng lại hay niêm hẳn.

0