Chương 17: Mài Gió
Đêm đầu tiên học 《Phong Nhận Quyết》, Lâm Cơ làm đúng cái việc mà giáo trình dặn ở trang một: không làm gì cả.
Ba trang đầu của quyết không dạy mài gió. Chúng dạy nín gió: ngồi cho hơi thở xuống thật chậm, buông sạch dòng ở hai cánh tay, để lộ tuyến nằm im như lòng máng khô trước khi tháo nước vào. Người viết gốc hẳn đã dạy nghề lâu năm: ông ta biết học trò nào cầm được cuốn này cũng nôn nóng, nên đặt cái ghế bắt-ngồi-yên ngay ở cửa. Lâm Cơ, kẻ từng bắt chính mình đọc mù bảng đo để chống tay run, nhận ra đồng nghiệp cách mấy nghìn năm và ngoan ngoãn ngồi hết ba trang.
Rồi mới tới nước.
Dòng Kim mở từ ngăn bể, đi theo lộ tuyến vòng qua ba khiếu ở cánh tay, con đường hắn đã dẫn thử đêm mở két, đêm nay đi lại chậm hơn, đúng phép hơn, từng đoạn khớp với từng câu khẩu quyết. Tới đầu ngón tay, hắn dừng ở bậc một, giữ, và nhìn.
Trên cạnh bàn tay hắn, vệt sáng trắng quen thuộc của tay-đao hiện lên, nhưng lần này nó không dừng ở da. Nó kéo dài ra, qua khỏi đầu ngón nửa gang tay, thon dần thành một cái mép mỏng đang run rất nhanh, như dây đàn vừa gảy. Gió, được mài.
Hắn đưa cạnh tay qua một cọng cỏ cắm sẵn trên bệ.
Cọng cỏ đổ. Mặt cắt chéo, bóng, không tước xơ.
Để so, hắn thu vệt khí về mức tay-đao cũ, mức tự chế, mài bằng đoán và kinh nghiệm suốt từ mùa khảo, chém vào thanh tre già dựng cạnh. Nhát thứ nhất ăn nửa thân. Nhát thứ hai mới đứt. Rồi hắn nâng lại lên bậc một của quyết, chém thanh tre thứ hai.
Một nhát. Ngọt tới mức thân tre đứng nguyên một hơi rồi mới đổ.
Hắn ngồi xuống, ghi số vào sổ than: cùng một lượng khí, lưỡi của giáo trình cắt sâu gần gấp đôi lưỡi tự chế. Không phải vì hắn mạnh lên: đêm nay hắn vẫn là hắn của hôm qua. Vì đường đi của dòng không còn chỗ phí. Bao nhiêu đêm nay hắn mài tay-đao như người vác nước bằng thùng thủng: tới được lưỡi thì dòng đã rơi vãi dọc đường một nửa.
Trước giờ hắn vẽ lại cái bánh xe. Đây là bản vẽ gốc.
Học tiếp, hắn bắt đầu làm cái việc mà có lẽ chưa học trò nào của quyết này từng làm: ghi chú bên lề bằng giọng của nghề khác. Chỗ giáo trình đúng hơn hắn, hắn ghi thẳng: nhịp nín gió trước khi dẫn, hắn từng bỏ qua vì tưởng là nghi thức, hóa ra là để lộ tuyến sạch nhiễu, sách thắng. Nhưng có một chỗ hắn dừng bút, đọc lại ba lần, rồi ghi: sách dặn bậc hai phải nuôi dòng đều bằng hô hấp. Người thường hụt hơi ở đây. Mình có máy giữ dòng đều hộ. Bậc hai với mình sẽ dễ hơn sách tả. Người viết gốc dạy học trò chèo bằng tay. Hắn có mái chèo gắn guồng.
Giá của quyết thì sách không giấu và hắn cũng không được quên: mỗi lần mài gió là khí ra như tháo đập nhỏ, đếm được từng vạch trên bảng đo; giữ lưỡi quá mươi nhịp thở là cổ tay bắt đầu tê, cái tê cắn ngược quen thuộc của Kim, giáo trình gọi bằng cái tên tử tế hơn nhưng cùng một nghĩa: đồ sắc thì cứa cả người cầm. Và trên hết, hắn biết mình đang ở đâu: bậc một của một cái thang dài, lưỡi gió của hắn so với một tu sĩ đơn căn Kim luyện quyết này mười năm thì vẫn là dao rèn vội so với dao gia truyền.
Nhưng dao rèn vội, trong tay thợ biết đo, chém đúng chỗ nó cần chém.
《Càn Mộc Sinh Sát Quyết》 học ở chỗ khác, giờ khác: góc rừng thưa sau khu ngoại môn, quãng chiều muộn khi sân đã vãn người.
Quyết Mộc không hợp phòng kín. Nó cần thứ đang sống. Lâm Cơ ngồi xếp bằng cạnh một bụi dây gai, đúng loại dây từng nghe hắn ra lệnh những mệnh lệnh vụng về nhất trong mùa khảo, và dẫn dòng theo nửa sau của cuốn sách, nửa Sát.
Khác biệt đến ngay từ nhịp đầu. Dây trói tự chế của hắn xưa nay vận hành như sai người làm qua hai lớp thông ngôn: hắn muốn, dòng Mộc truyền, dây hiểu ra thì việc đã trôi mất nửa nhịp. Lộ tuyến của quyết rút ngắn đường truyền ấy lại: dòng không đổ tràn vào cả bụi dây nữa mà bám lấy từng thớ, và dây nghe lệnh sớm hơn nửa nhịp, cái nửa nhịp mà trong một trận đánh là khoảng cách giữa vướng chân và trói chân. Gai trên thân dây, trước giờ chỉ là gai, giờ biết chĩa, nghiêng theo hướng hắn muốn như lông một con vật xù lên đúng phía.
Hắn tập tới khi trời sẫm: cuốn, xiết, buông; cuốn nhanh, xiết chéo, buông gọn. Vẫn là dây rừng, vẫn oải sau vài nhịp, vẫn cần thứ đang sống ở trong tầm. Quyết không xóa được giới hạn nào của trời đất. Nó chỉ xóa chỗ phí, như mọi giáo trình tốt.
Rồi hắn lật về nửa đầu cuốn sách. Nửa Sinh.
Nửa này chữ nghĩa ấm hơn hẳn, như hai người khác nhau viết chung một cuốn. Dưỡng thân. Liền vết. Thúc mầm. Hắn đọc với cái cảnh giác của người cả đời bị quảng cáo lừa, rồi chọn bài đầu tiên, đơn giản nhất: dẫn dòng Mộc chậm, phủ lên chỗ thương cũ.
Trên sườn hắn còn cái sẹo dài của mùa khảo, chỗ vết rách từng khâu bằng gai và giẻ. Dòng Mộc theo lộ tuyến mới phủ lên đó, và cảm giác đến không giống bất cứ thứ gì trong kho từ vựng của hắn: không nóng như Hỏa, không mát như Thủy. Nó giống lúc người ta đắp đất tốt lên gốc cây: không thấy gì ngay, nhưng biết là bên dưới, có thứ vừa được cho phép lớn tiếp.
Hắn ngồi rất lâu với cảm giác ấy.
Hai đời làm kỹ sư, hắn chế đồ để lấy: lấy số đo, lấy dòng, lấy công suất, lấy mạng sống về cho mình. Mọi cỗ máy hắn từng dựng đều là máy hút, máy cắt, máy đẩy. Đây là bài đầu tiên, ở cả hai thế giới, dạy hắn cầm một dòng năng lượng và bảo nó: nuôi.
Máy giỏi hút. Cây giỏi giữ. Hắn đang học cái thứ hai.
Trang cuối của quyết có một dòng cảnh báo, chắc do người đời sau thêm vào, mực khác: cùng một nguồn, khác nhau ở tay người dùng. Hắn đọc thành một lời khen nghề, ghi lại nguyên văn, và gấp sách khi con dơi đầu tiên bay qua khoảng rừng thưa.
Ngày xuống trấn, hắn đi hai hàng.
Hàng thứ nhất ở lò rèn. Hồ Thiết nhận tờ danh sách mới, vòng dự phòng cho bản bền, hai loại kẹp, một bộ nẹp dài mà công dụng thật chỉ mình khách biết, liếc một lượt, gật: "Bốn hôm. Đồ nhỏ mà đều thì phải chờ." Rồi ông nhìn khách kỹ hơn thường lệ, nửa như cân: "Khách kỳ càng ngày càng giống thợ. Hỏi giá như thợ, chê đồ như thợ." Lâm Cơ cười cái cười của thằng học lỏm, trả trước một phần, hẹn ngày lấy. Bốn hôm nữa. Hắn tính nhẩm: đi sớm về trước tối, trọn một ngày đường.
Hàng thứ hai là cái quầy chật của Tiền Quý.
Gã chủ quầy vẫn thế: ngồi giữa đống đồ cũ như con nhện giữa lưới, mua không hỏi, bán không hỏi, và nhớ bằng mắt. Cặp mắt ấy hôm nay dừng trên Lâm Cơ lâu hơn nửa nhịp, đủ để hắn biết mình vừa được cân lại. Lần trước đứng ở quầy này là một thằng đói bán đồ lặt vặt. Lần này là một người hỏi mua đồ có khắc-dẫn. Cùng cái áo vá, nhưng cán cân của Tiền Quý không cân áo.
Trước khi mở miệng, Lâm Cơ đã tính xong ở nhà cái phép tính mà mọi thằng nghèo đều tính sai một lần trong đời.
Ở đời cũ, dân trong nghề cãi nhau mãi một câu: đồ nghề chiếm mấy phần tay nghề. Trong xưởng, hắn từng trả lời kiểu trong xưởng: đồ tốt không thay được tay, nhưng đồ tồi giết tay. Còn cho một trận sinh tử, hắn sẵn sàng ký tên dưới một con số: bốn phần mười nằm ở thứ cầm trong tay. Người ta có thể tiết kiệm tiền nhà, tiền ăn, tiền thuốc. Không ai tiết kiệm dù chỉ một đồng trên thứ đứng giữa cổ mình và một nhát chém.
"Đồ dài," hắn nói. "Hệ Kim. Tốt nhất ông có."
Tiền Quý không lôi gì từ gầm quầy. Gã nhìn Lâm Cơ thêm trọn một nhịp, cán cân sau cặp mắt ấy nhích hẳn một vạch lớn, rồi đứng dậy, vén tấm rèm vải sau lưng.
"Hàng tốt không nằm trên quầy. Vào trong."
Phòng trong chật như cái hộp, một ngọn đèn dầu, một cái bàn gỗ dày. Loại phòng mà mọi trấn buôn đều có và mọi cuốn sổ đều không có. Tiền Quý ngồi xuống một bên, không mời, không rót nước. Lệ của phòng trong: ai có hàng, người ấy nói trước.
Lâm Cơ đặt lên bàn một gói vải, mở ra từng lớp.
Viên yêu hạch nằm giữa vải, đục như đá nhuốm máu, nặng tay hơn kích cỡ của nó. Cạnh đó, cặp sừng mẻ và ba đốt xương lõi, phần cứng nhất của một con thú đã cứng cả đời. Chiến lợi phẩm thật của mùa khảo, thứ hắn đã moi từ bùn về, cất kỹ, và có lúc tưởng sẽ giữ làm vốn xưởng mãi.
Viên hạch ấy, cả tháng nay, là cái tải chuẩn tốt nhất xưởng hắn, mọi cụm thử đều được đo bằng nó. Đưa nó lên bàn này, tay hắn có chậm lại nửa nhịp. Rồi hết chậm. Xưởng mất tải chuẩn thì tìm tải khác. Người chết thì không tìm gì nữa.
Tiền Quý cầm viên hạch lên, soi nghiêng bên đèn, im rất lâu. Ngón cái gã miết qua mặt hạch, dừng ở chỗ vân đục xoáy vào tâm.
"Hạch của thứ biết làm đất rung," gã nói, không hỏi. "Đặc tới lõi. Còn nguyên tủy khí. Đồ núi không giấy."
"Đồ núi không giấy," Lâm Cơ gật. "Nên nó mới nằm trên bàn này chứ không nằm trên quầy ngoài kia. Ông định giá đi. Định thấp thì gói lại."
"Ba mươi."
"Hạch nguyên tủy của thứ biết địa-chấn, luyện đan luyện khí đều tranh." Lâm Cơ không nhấc gói, chỉ đặt thêm cặp sừng và mấy đốt xương cạnh đó. "Bốn mươi. Sừng với xương, ông cứ tính sáu. Còn thiếu bao nhiêu, ta bù mặt."
Tiền Quý nhìn đống hàng, nhìn khách, và lần đầu tiên từ khi Lâm Cơ biết cái quầy này, gã cười, một cái cười ngắn, khô, của con nhện gặp đúng loại khách nó thích.
Gã lôi từ dưới bàn lên một cái rương dẹt, mở ba lần khóa vải, lật lớp lót cuối cùng.
"Món này ngủ ở đây hơn hai năm," gã nói. "Không phải vì không ai trả nổi. Vì chưa ai đáng."
Một thanh đoản đao. Một lưỡi, sống dày, nặng đầu, cỡ từ khuỷu tới đầu ngón tay, vóc dáng của đao làm việc, không phải đao múa. Nhưng hết chỗ giống con đao chém củi mà Lâm Cơ định tìm ban đầu: thép hàn-linh xám xanh, lưỡi lành không một vết mẻ, và dọc sống đao chạy ba đường khắc-dẫn nguyên bản, một dẫn khí, một giữ mép, một tản chấn, mảnh như ba sợi tóc đặt song song, không đứt một chỗ nào.
Lâm Cơ cầm lên. Đầu ngón tay hắn nghe thép như đã nghe cái ổ trục hôm nào, và lần này bản nghiệm thu chỉ có một dòng: không có gì để sửa. Thân thẳng, tâm không vênh, trọng tâm rơi đúng chỗ ngón trỏ muốn nó rơi. Hắn dẫn thử một sợi Kim khí mỏng qua chuôi, dòng chạy suốt ba đường khắc, ngọt như nước vào mương đã nạo sạch, và ở mép lưỡi, thép khẽ ngân lên một tiếng rất nhỏ, như đàn so dây.
"Của một người sa cơ," Tiền Quý nói. "Quầy này không hỏi sa cơ kiểu gì. Sáu mươi."
Sáu mươi. Hắn có bốn mươi sáu trên bàn và hai mươi mốt trong túi. Phép trừ làm xong trước khi tim kịp có ý kiến.
"Bốn mươi sáu trên bàn, mười bốn viên bù mặt." Lâm Cơ xếp mười bốn viên linh thạch thành hai chồng, từng viên một, không run tay nhưng cũng không nhanh tay. "Đủ sáu mươi. Và lần sau ta cần gì, vật liệu, tin, đồ khó tìm, ghé quầy này trước."
Tiền Quý nhìn hai chồng linh thạch, nhìn đống chiến lợi phẩm, gật. Nhưng Lâm Cơ chưa rút tay về.
"Chưa xong." Hắn đặt lên bàn thêm một gói nữa, một mảnh giáp lưng của con thú, to bằng hai bàn tay, dày như thớt, mặt ngoài lì đòn tới mức con dao nhỏ của hắn từng trượt trên đó không để lại vạch. "Cùng một con thú. Hạch, sừng, xương, giáp: ông gom đủ bộ thì bán ra giá khác hẳn bán lẻ, ông biết rõ hơn ta. Mảnh này ta không lấy tiền."
Cặp mắt Tiền Quý sáng lên đúng một chớp, con nhện nhìn thấy nốt góc lưới còn thiếu.
"Đổi," Lâm Cơ nói. "Một món phòng thủ, loại trung. Hệ Thổ càng tốt."
"Sao lại Thổ?" Câu đầu tiên gần giống một câu hỏi mà cái quầy này từng thốt ra. Gã tò mò thật.
"Người mua không hỏi giá xuống," Lâm Cơ nói, "thì chủ quầy không hỏi mua làm gì."
Tiền Quý cười khô lần thứ hai trong buổi, lục cái rương dẹt, và đặt lên bàn một tấm thẻ đồng cỡ bàn tay, xanh rỉ ở rìa, mặt thẻ khắc chi chít trận văn xoáy vào một chữ Thổ ở tâm.
"Thổ Tường Bài. Rót một hớp khí vào là bung một bức vách đất chắn trọn một hướng, đứng được vài hơi thở, chịu đòn thay người. Trận văn còn bảy phần, đủ dùng, không đủ khoe. Đồ trấn của một tiêu sư về già." Gã đẩy thẻ qua. "Mảnh giáp đổi ngang. Coi như ta mua cái bộ, không mua cái mảnh."
Lâm Cơ cầm thẻ, dẫn thử một hớp khí. Trước mặt hắn, đất nền phòng trồi lên thành một tấm vách mỏng cao ngang ngực, đứng im hai nhịp thở, rồi rã xuống thành bụi. Khí hao: của cái thẻ chín phần, của hắn một phần mồi.
Đó chính là chỗ đáng tiền, và là lý do hắn đòi hệ Thổ chứ không đòi hệ Kim thứ hai. Trong một trận đánh dài, chiêu tấn công là khoản chi lớn nhất, nhưng phòng thủ mới là khoản chi đều nhất. Việc gì cũng tự vận khí mà làm thì bể nào cũng cạn. Đưa được phần phòng thủ cho một món đồ gánh hộ, dòng chi đều ấy gần như về không, mà tiết kiệm, trong nghề đánh nhau cũng như trong nghề máy, là một loại chiến lực. Ai cũng nhìn vào thanh đao. Thợ thì nhìn vào hóa đơn.
Rồi gã đẩy thanh đao qua bàn bằng cả hai tay, lệ của đồ đáng tiền.
"Khách kỳ." Gã gói viên hạch lại cẩn thận như gói trứng. "Quầy này không hỏi. Nhưng khuyên không lấy tiền: đồ đã phải mua bằng cả một mùa khảo, thì đừng để ai thấy nó trước khi cần."
"Đó giờ vẫn thế," Lâm Cơ nói, và câu ấy thật hơn mọi câu hắn từng nói ở trấn này.
Đao và thẻ không rời phòng trong trên vai hay trong ngực áo. Chúng vào thẳng túi da, cái túi trữ vật moi từ bụng con thú, giờ đựng đồ đổi ra từ chính con thú ấy, ngay trước mặt Tiền Quý, người coi việc khách cất đồ kỹ là một lời khen cho quầy. Còn vào bể thì chưa. Đan điền hắn có một cỗ máy không được phép tồn tại trên đời; đồ mới mua, dù mua của ai, vẫn là đồ chưa kiểm, và đồ chưa kiểm thì không được nằm cạnh máy. Luật xưởng không có ngoại lệ cho đồ đắt tiền.
Ra khỏi quầy, túi còn bảy viên, người nhẹ tênh như kẻ đi tay không vào trấn rồi đi tay không về. Người nghèo tiết kiệm cả đời ở mọi chỗ, để đúng lúc cần thì biết chỗ nào không được tiết kiệm, và biết biến cả sự tiết kiệm thành một món binh khí.
Ba đêm tiếp theo, xưởng trong phòng làm cái việc mà mọi món đồ vào xưởng này đều phải qua, kể cả đồ sáu mươi viên: nghiệm thu.
Đêm đầu là đo. Con đao trước: cân trọng tâm, vẽ lại ba đường khắc-dẫn vào sổ than, chạy dòng ở năm mức từ mảnh tới đậm, ghi ngưỡng: đường dẫn khí ăn dòng tới đâu, đường giữ mép ngân lên ở mức nào, đường tản chấn rùng ra sao khi lưỡi gõ vào gỗ. Rồi tới tấm thẻ: bung thử liền năm lần ở ba mức mồi, đo vách đứng được mấy nhịp, chịu được cú đập cỡ nào trước khi rã. Sổ ghi: vách một hướng, hai tới ba hơi thở, mỗi lần bung ăn một hớp mồi Thổ. Còn mồi là còn vách. Với một cái bể mà riêng ngăn Thổ đã sâu bằng cả bể người khác, dòng cuối ấy đọc lên gần như một lời hứa. Đồ tốt không cần sửa, nhưng đồ tốt chưa đo vẫn là đồ lạ. Mà trong xưởng này, chưa từng có món đồ lạ nào được giao mạng cho.
Chỉ một chỗ hắn động tay vào: cái chuôi. Chuôi đao quấn dây cũ đã theo tay người chủ trước, hằn những vết tì không phải của hắn. Hắn tháo ra, quấn lại bằng gân thú se kỹ, và ở lớp lót trong cùng, trộn vào keo xương một nhúm mạt giũa lấy từ gói giẻ nhỏ dưới đáy hòm, mạt của cái máy cũ, hứng lại từ đêm xử rác, thói quen thợ mà đầu không ra lệnh. Không vì đường dẫn nào cần nó. Chỉ vì bàn tay tì vào chuôi đao này, từ nay, tì lên một phần của người làm công cũ.
Đêm thứ hai và thứ ba là hợp đao, người với thép học nhau. Hắn dẫn 《Phong Nhận Quyết》 qua chuôi, qua sống, ra lưỡi, từng lượt chậm rồi nhanh dần. Con đao ăn quyết ngọt hơn mọi thứ hắn từng cầm: vệt gió trắng ôm lấy đường cong của thép, kéo dài qua khỏi mũi đao gần một gang, hơn hẳn cái mức nửa gang của tay đao trần, và đứng im được ba nhịp thở trước khi hắn thu về. Chém thử sợi gân treo: đứt, không tiếng. Chém thanh tre già từng cần hai nhát: một nhát, mặt cắt bóng.
Đêm thứ ba, xong lượt thử cuối, hắn vào sổ.
Hắn đã nghĩ qua vài cái tên, kiểu tên mà sách vở thế giới này thích, Phong gì đó, Nhận gì đó. Rồi thôi. Trong sổ than, dòng chữ mới viết gọn: đao, tốt, dẫn thông sẵn. Giá: một mùa khảo. Đồ trong xưởng này đặt tên theo lý lịch, không theo tham vọng, và lý lịch của con đao này là cả một con thú đã suýt giết hắn, quy ra thép.
Người làm công cũ không về hưu hẳn. Một phần nó giờ nằm trong chuôi đao, ngay dưới lòng bàn tay.
Đêm trước ngày lấy hàng, Lâm Cơ ngồi kiểm kê, thói quen của mọi đêm-trước trong đời hắn, nhưng lần này danh mục đọc lên nghe khác hẳn.
Phải đi hai chuyến là chuyện hắn đã cân từ đầu. Thép của Hồ Thiết cần bốn hôm gia công, không ai đẩy nhanh được lò rèn. Còn con đao thì ngược lại, phải nằm trong tay hắn càng sớm càng tốt: đồ phòng thân mà chưa thuộc tay thì mới chỉ là đồ đeo cho nặng, và cái hạn chót không ngày không giờ của đời hắn thì chưa từng hứa sẽ báo trước. Hai cái hẹn lệch nhau bắt hắn đi thêm một chuyến đường. Đổi lại, món đồ đắt nhất trên người hắn giờ là món hắn thuộc số nhất.
Người: tầng năm, bể đầy, thân thể lành: vết sẹo sườn dưới ba ngày dòng Mộc đã hết cộm. Máy: bản bền chạy êm, số đo ổn định qua từng phiên, không một tiếng lạ. Tay: năm kênh cũ, cộng hai quyết mới, cả hai còn ở bậc thấp, thô so với người luyện lâu năm, nhưng đã là gió-có-mép và dây-biết-nghe thay cho đồ tự chế. Trong bể, ngâm cạnh cỗ máy: một con đao đáng giá cả gia tài, dẫn thông sẵn, món đầu tiên ở đời này hắn mua mà không cò kè xuống, chỉ cò kè cho đúng giá, và một tấm Thổ Tường Bài bảy phần, gánh hộ khoản chi phòng thủ. Và ở trang cuối sổ, một dòng cho những chuyến sau: tìm thêm: một món hệ Thủy, một món hệ Hỏa. Đủ năm hệ trên người thì mọi hóa đơn đều rẻ. Đầu: bảy trận sống sót, một con thú lớn và một mạng người, xếp thành thứ mà không giáo trình nào bán.
Hắn gói hành trang cho chuyến mai: tiền lấy hàng, túi đựng, ít lương khô. Con đao và tấm thẻ không nằm trong gói nào. Chúng đã ra khỏi túi da từ sau đêm đo đầu tiên, kiểm đủ, số vào sổ, không một đường trận văn lạ, không một chỗ nào giấu điều gì, và chỉ tới lúc ấy mới được cho vào đan điền, ngâm xuống bể linh lực theo đúng bài Dưỡng Khí Thuật: nằm ở rìa, không chạm vào xoáy, cho khí người với khí vật quen hơi nhau. Sách nói đồ ngâm bể càng lâu, dùng càng mượt tay, về sau còn như mọc từ tay mình ra. Hắn tin sách, nhưng thích hai cái lợi trước mắt hơn: không ai thấy, và không ai hỏi. Mọi món có tên, như mọi chuyến.
Rồi hắn ngồi vào thế, xếp bằng, buông vai, và trước khi vào giấc định, đầu hắn lướt qua con đường ngày mai như lướt qua một bản vẽ đã thuộc: xuống dốc, qua trảng, dọc quãng rừng vắng không người, tới trấn khi chợ còn đông, và về lại đúng quãng rừng ấy khi bóng đã ngả.
Đường đi mua đồ. Đường về mang đồ. Với một con đao đáng cả một mùa khảo nằm im dưới rốn, ngâm trong bể, cạnh cỗ máy.
Ở thế giới cũ, trước mỗi buổi nghiệm thu, hắn hay tự dặn một câu nghề: đồ đã lắp xong thì sớm muộn cũng phải chạy thật một lần.
Hắn chìm vào định trước khi kịp nghĩ xem câu ấy, đêm nay, tự dưng trồi lên làm gì.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.