Di Sản Cuối Cùng

Chương 3: Bản Đồ Elybra Phần 2

Đăng: 21/08/2026 09:21 2,088 từ 6 lượt đọc

-Phía Tây Bắc của rìa bản đồ là một lục địa với số lượng động vật và thảm thực vật kỳ quái nhất thế giới với diện tích khoảng 800 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với rừng sương mù và rừng mây chiếm 55 đến 60% diện tích toàn lục địa, đầm lầy rêu cùng rừng ẩm ven biển chiếm 25 đến 30% diện tích toàn lục địa, phần còn lại khoảng 15% là đất trống và đá, nơi đây sở hữu lớp sương mù bao quanh lục địa quanh năm

-Vì thế mà nơi đây còn được gọi là Ẩn Địa hay Lục Địa Sương Mù

-Tại nơi đây nhiệt độ trung bình năm rơi vào khoảng 9 đến 13 độ C, mùa hè dao động từ 17 đến 21 độ C còn mùa đông từ 2 đến 6 độ C, độ ẩm trung bình năm lên tới 85 đến 95% và gần như ít thay đổi quanh năm

-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng khoáng sản như nhôm, đồng, sắt, dầu mỏ từ thấp đến trung bình và tập trung chủ yếu ở khu vực rìa lục địa cùng các vùng đầm lầy rêu ven biển, phần lớn các mỏ bị bao phủ bởi lớp sương mù dày đặc cùng địa hình đầm lầy mềm nên việc khai thác gặp nhiều khó khăn

-Do độ ẩm trung bình năm khá cao cùng với Trường Ý thức nằm ở mức trung bình đã biến các tinh thể ma tố Thổ ban đầu ở đây trở thành các tinh thể ma tố Thủy, đồng thời lớp sương mù cách ly hoàn toàn lục địa với ánh sáng đã tạo nên môi trường hoàn hảo để hình thành nên các tinh thể ma tố Ám. Một vài khu vực ở rìa của lục địa có Trường Ý thức rất yếu và có khi là không có dẫn tới sự chuyển hóa từ Tinh thể Thủy sang trạng thái khí hỗn loạn, hình thành nên các dòng Ma tố Phong khá phong phú nhưng bất ổn, chính sự kết hợp giữa Trường Ý thức suy yếu, độ ẩm cực cao và lớp sương mù dày đặc đã khiến những vùng rìa này trở thành nơi thường xuyên xuất hiện các cơn lốc sương, dòng khí Ma tố hỗn loạn và hiện tượng sương biết đi mang theo ý thức yếu ớt của các sinh vật bán ethereal. Do vậy nên nơi đây có trữ lượng tinh thể ma tố Thủy và Ám rất phong phú, Phong khá phổ biến, Quang ở mức trung bình còn Hỏa, Thổ và Điện khá hiếm, tất cả các tinh thể này tập trung chủ yếu ở vùng rừng sâu, đầm lầy rêu và ven biển

-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc Mù Ảnh, tộc Sương Linh, tộc Mộng Nguyệt, tộc Yvithian và một số bộ lạc Bán Ethereal, đặc trưng sinh vật ở vùng đất này là hươu sừng rêu, cáo mờ ảo có khả năng ngụy trang, rắn sương, cú sương mù, ếch phát quang, các sinh vật bán ethereal mang linh hồn rừng,... đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là có khả năng thích nghi với môi trường thiếu sáng và độ ẩm cực cao, nhiều loài sở hữu khả năng ngụy trang bằng sương hoặc phát quang nhẹ. Một số loài ở khu vực rừng sương mù dày đặc lại có tập tính hoạt động trong màn sương mù, ở nơi đây chuỗi thức ăn khá phức tạp nhờ mật độ sinh vật cao cùng với đặc tính môi trường khiến cho sinh vật ở đây có khả năng ẩn mình hoàn toàn trong sương hoặc có thể sử dụng tinh thể ma tố Ám ở mức cơ bản bằng trường ý thức như cáo mờ ảo, vì thế mà các loài này bên trong cơ thể và ngoài da có các hạt ma tố và hoạt động như các tinh thể ma tố Ám hay còn được gọi là nhiễm ma tố Ám. Còn ở các khu vực đầm lầy rêu và rừng ẩm ven biển như ếch phát quang, rắn sương, cú sương mù… những sinh vật ở khu vực này có khả năng phát sáng yếu để liên lạc hoặc săn mồi trong bóng tối

-Về thảm thực vật thì khu vực này chứa nhiều cây gỗ trung bình đến cao phủ đầy rêu dày và mềm, rêu cùng dương xỉ phát triển cực mạnh tạo thành thảm xanh mướt, nhiều loài hoa phát quang nhẹ và cây có lá lớn để tận dụng ánh sáng yếu trong sương, cây ăn côn trùng dạng nắp ấm khá phổ biến ở vùng đất nghèo dinh dưỡng, không khí luôn bão hòa hơi nước nên thực vật ít bị thiếu nước

-Phía Tây Bắc đến Trung Tây của rìa bản đồ là một lục địa rừng nguyên sinh bao la với diện tích khoảng 2.500 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với rừng ôn đới ẩm và rừng mưa ôn đới chiếm 65 đến 70% diện tích toàn lục địa, đồng cỏ rừng cùng đầm lầy rừng chiếm 20 đến 25% diện tích toàn lục địa, phần còn lại khoảng 10% là núi thấp và đất trống

-Do rừng già dày đặc và môi trường ẩm ướt quanh năm nên nơi đây còn được gọi là Châu Lục Đại Lâm hay Lục Địa Rừng Già

-Tại nơi đây nhiệt độ trung bình năm dao động từ 12 đến 16 độ C, mùa hè từ 22 đến 26 độ C, mùa đông từ 3 đến 7 độ C, độ ẩm trung bình năm lên tới 75 đến 85% và mưa nhiều vào mùa hè

-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng khoáng sản như nhôm, đồng, sắt, dầu mỏ từ trung bình đến cao và tập trung chủ yếu ở khu vực núi thấp cùng các bồn trũng cổ dưới lớp rừng già, phần lớn các mỏ bị bao phủ bởi thảm thực vật dày đặc và lớp đất ẩm nên việc khai thác đòi hỏi phải phát quang rừng cùng xử lý địa hình mềm lún

-Do độ ẩm cao cùng Trường Ý thức mạnh và ổn định đã tạo điều kiện hình thành lượng lớn tinh thể ma tố Quang và Thủy, đồng thời môi trường rừng sâu hỗ trợ cho tinh thế ma tố Phong hình thành và khá phổ biến, Thổ ở mức trung bình còn Hỏa, Ám và Điện khá hiếm, tất cả các tinh thể này tập trung chủ yếu ở vùng rừng nguyên sinh sâu và ven sông hồ

-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc Mộng Nguyệt, tộc Mộc Linh, tộc Ovilus, tộc Yvithian và tộc Tinh Linh, đặc trưng sinh vật ở vùng đất này là nai sừng tấm Sylvan, sói rừng xám lớn, gấu mật lông nâu, cú khổng lồ mắt vàng, các sinh vật bán thực vật, bọ cánh cứng gỗ khổng lồ,.. đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là kích thước lớn, sức mạnh cơ bắp cao để thích nghi với môi trường rừng rậm, nhiều loài có khả năng ngụy trang hoặc liên kết với thực vật. Một số loài ở khu vực rừng nguyên sinh dày đặc lại có tập tính sống trên tán cây cao hoặc dưới tầng thảm mục, ở nơi đây chuỗi thức ăn phức tạp và phong phú nhờ mật độ thực vật rất cao cùng với đặc tính môi trường khiến cho sinh vật ở đây bị nhiễm ma tố Quang hoặc Thủy ở mức cơ bản như các sinh vật bán thực vật hay tộc Tinh Linh. Còn ở các khu vực đồng cỏ rừng và đầm lầy rừng như sói rừng xám lớn, gấu mật lông nâu, nai sừng ám … những sinh vật ở khu vực này có khả năng di chuyển linh hoạt giữa rừng và khoảng trống

-Về thảm thực vật thì khu vực này chứa nhiều cây gỗ cứng thân cao 40 đến 70 m với vỏ dày và tán lá rộng tạo thành mái rừng kín, tầng giữa có nhiều cây gỗ vừa và cây bụi chịu bóng, dây leo to, dương xỉ khổng lồ, nấm bản lớn mọc trên thân cây và mặt đất, thực vật biểu sinh như lan và rêu phủ kín cành cây, đất luôn ẩm với lớp thảm mục dày và nhiều loài nấm phát sáng yếu vào ban đêm

-Phía Trung Bắc đến Đông Bắc của rìa bản đồ là một lục địa núi đá hùng vĩ với những dãy núi cao chót vót và thung lũng sâu hun hút có diện tích khoảng 2.800 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với núi đá và thảo nguyên núi cao chiếm 55 đến 60% diện tích toàn lục địa, rừng thông thưa cùng lãnh nguyên núi chiếm 25 đến 30% diện tích toàn lục địa, phần còn lại khoảng 15% là các thung lũng thấp và đất trống

-Do địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt nên nơi đây còn được gọi là Lục Địa Sơn Thạch hay Vùng Đất Sắt Đá

-Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 4 đến 9 độ C với độ ẩm khoảng 50 đến 65%, vào mùa hè nhiệt độ có thể lên tới 14 đến 19 độ C còn vào mùa đông nhiệt độ dao động từ –6 đến –1 độ C

-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng sắt, chì, kẽm, niken, crom và đá xây dựng cao nhất thế giới, uranium cùng đá quý cũng ở mức cao, vàng bạc trung bình đến cao trong khi than đá và dầu mỏ chỉ ở mức trung bình còn muối khoáng rất thấp

-Các dãy núi cổ cùng hoạt động xâm nhập magma mạnh mẽ đã mang vật chất từ sâu lòng đất lên và tạo môi trường địa chất ổn định, kết hợp với Trường Ý thức mạnh trên các đỉnh núi cao giúp các Hạt Ma tố liên kết chặt chẽ hình thành lượng lớn tinh thể ma tố Thổ, đồng thời hoạt động địa chất mạnh còn sinh ra tinh thể Lôi khá phong phú, gió mạnh và độ cao tạo điều kiện cho Phong khá phổ biến, Hỏa xuất hiện ở mức trung bình nhờ một số mạch nhiệt dịch, Ám trung bình ở các hang động sâu còn Thủy và Quang khá hiếm, tất cả các tinh thể này tập trung chủ yếu dọc theo các mạch núi và thung lũng khoáng

-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc Thiết Nhân, tộc Mộng Nguyệt, tộc Hosius, tộc Sơn Nhân và một số bộ lạc Phong Nhai, đặc trưng sinh vật ở vùng đất này là dê núi sừng xoắn, sói đá xám, đại bàng đá, rồng đất nhỏ sống trong hang, chuột đá chịu lạnh và thằn lằn đá gai. Đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là có cơ bắp cực kỳ chắc khỏe cùng móng vuốt bám đá mạnh mẽ để thích nghi với địa hình dốc, nhiều loài có lớp da hoặc lông dày chịu lạnh gió. Một số loài ở khu vực núi cao lại có tập tính sống trong hang đá hoặc trên vách núi dựng đứng, ở nơi đây chuỗi thức ăn tương đối ngắn và khắc nghiệt cùng với đặc tính môi trường khiến cho sinh vật ở đây có khả năng tạo lớp giáp đá tạm thời hoặc phun ra bụi khoáng gây khó thở cho đối thủ như ở rồng đất nhỏ và một số sinh vật nhiễm ma tố Phong. Còn ở các khu vực thung lũng thấp như đại bàng đá, sói đá xám, chuột đá chịu lạnh, sinh vật nhiễm ma tố Thổ,… những sinh vật ở khu vực này có khả năng chịu gió lạnh và hoạt động linh hoạt trên địa hình hiểm trở

-Về thảm thực vật thì khu vực này chứa nhiều thông lùn, cây bụi gai, rêu đá và địa y màu xám vàng bám dày trên bề mặt đá, ở các thung lũng thấp xuất hiện rừng thông thưa và một số loài cây gỗ thấp chịu gió lạnh, gần các mỏ tinh thể Thổ thường mọc loài cây thạch căn với hệ rễ bám cực chắc vào đá, sinh trưởng chậm nhưng tuổi thọ rất cao


0