Chương 4: Bản Đồ Elybra Phần 3
-Trung tâm của bản đồ là một lục địa đồng bằng rộng lớn và màu mỡ với diện tích khoảng 2.200 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với đồng cỏ ôn đới và savanna ôn hòa chiếm 55 đến 60% diện tích toàn lục địa, rừng thưa lá rộng cùng đồng lúa hoang chiếm 25 đến 30% diện tích toàn lục địa, phần còn lại khoảng 10 đến 15% là đầm lầy và sông hồ
-Do địa hình bằng phẳng, khí hậu ôn hòa và đất đai màu mỡ nên nơi đây còn được gọi là Lục Địa Trung Tâm hay Miền Đất Hứa
-Tại nơi đây nhiệt độ trung bình năm dao động từ 14 đến 18 độ C, mùa hè từ 25 đến 29 độ C, mùa đông từ 4 đến 8 độ C, độ ẩm trung bình năm khoảng 60 đến 70% và khá dễ chịu quanh năm
-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng khoáng sản như nhôm, đồng, sắt, dầu mỏ từ trung bình đến cao và tập trung chủ yếu ở khu vực đồng bằng thấp cùng các lòng chảo trầm tích cổ, phần lớn các mỏ nằm ở độ sâu nông và địa hình bằng phẳng nên việc khai thác tương đối thuận lợi, ít bị cản trở bởi rừng già hay lớp băng
-Do Trường Ý thức ổn định cùng ánh sáng đầy đủ và đất đai màu mỡ đã tạo điều kiện hình thành lượng lớn tinh thể ma tố Quang và Thổ, đồng thời hệ thống sông hồ hỗ trợ Thủy khá phổ biến, Phong ở mức trung bình còn Hỏa, Ám và Băng khá hiếm, tất cả các tinh thể này phân bố khá đều và dễ khai thác trên toàn lục địa
-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc Hosius, tộc Lisius, tộc Đồng Nguyên, tộc Mộng Nguyệt, tộc Ovilus và một số bộ lạc Du Mục, đặc trưng sinh vật ở vùng đất này là ngựa hoang Eldoria, hươu đồng bằng, sói đồng cỏ, đại bàng vàng, thỏ khổng lồ và bò rừng sừng dài. Đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là tốc độ di chuyển cao, sức bền tốt và khả năng thích nghi linh hoạt với cả đồng cỏ lẫn rừng thưa. Một số loài ở khu vực đồng cỏ bao la lại có tập tính sống thành đàn lớn và di cư theo mùa, ở nơi đây chuỗi thức ăn phong phú nhờ nguồn thức ăn dồi dào cùng với đặc tính môi trường khiến cho sinh vật ở đây bị nhiễm ma tố Quang và Thổ. Còn ở các khu vực rừng thưa và ven sông hồ như hươu đồng bằng, sói đồng cỏ, đại bàng vàng… những sinh vật ở khu vực này có khả năng ẩn nấp và săn mồi linh hoạt
-Về thảm thực vật thì khu vực này chứa nhiều cỏ cao và cỏ trung bình tạo thành biển cỏ bao la, cây gỗ mọc thưa thành từng cụm hoặc hàng lang ven sông, nhiều loài cây ăn quả hoang dã và cây có củ, vào mùa mưa cỏ sinh trưởng rất nhanh còn mùa khô cỏ chuyển sang màu vàng nâu nhưng vẫn duy trì được sự sống, đất màu mỡ nên thực vật đa dạng và năng suất cao
-Phía Đông đến Đông Nam của rìa bản đồ là một khu vực quần đảo rộng lớn được hình thành bởi nhiều đảo lớn nhỏ với tổng diện tích khoảng 1.200 triệu km². Đây không phải là lục địa liền khối mà là vùng hải đảo đặc trưng với rừng mưa nhiệt đới chiếm 60 đến 65% diện tích toàn vùng, rừng ngập mặn cùng savanna nhiệt đới chiếm 20 đến 25% diện tích, phần còn lại khoảng 10 đến 15% là rạn san hô và đất trống ven biển
-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng khoáng sản như nhôm, đồng, sắt, dầu mỏ từ thấp đến trung bình và tập trung chủ yếu ở các đảo lớn cùng vùng núi thấp ven biển, phần lớn các mỏ bị bao phủ bởi rừng mưa dày đặc và địa hình phân cắt mạnh nên việc khai thác gặp nhiều khó khăn do địa hình phức tạp cùng khí hậu nóng ẩm quanh năm
-Do khí hậu nóng ẩm quanh năm cùng hệ sinh thái đa dạng bậc nhất thế giới và một khu vực với nhiều hải đảo kéo dài từ phía Đông đến phía Đông Nam nên nơi đây còn được gọi là Châu Lục Hải Đảo hay Quần Đảo Ngọc Lục
-Tại nơi đây nhiệt độ trung bình năm dao động từ 24 đến 28 độ C, mùa hè từ 28 đến 32 độ C, mùa đông từ 20 đến 24 độ C, độ ẩm trung bình năm lên tới 80 đến 90% và mưa nhiều quanh năm
-Do độ ẩm cực cao cùng ánh sáng mạnh và Trường Ý thức ổn định đã tạo điều kiện hình thành lượng lớn tinh thể ma tố Thủy và Quang, đồng thời gió biển và hoạt động địa chất nhẹ hỗ trợ Phong và Lôi khá phổ biến, Thổ ở mức trung bình còn Băng và Ám khá hiếm, tất cả các tinh thể này tập trung chủ yếu ở vùng rừng sâu, ven sông và các đảo lớn
-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc Hosius, tộc Lisius, tộc Ngọc Lam, tộc Mộng Nguyệt, tộc Caris và tộc Hải Nhân Ngư, đặc trưng sinh vật ở vùng đất này là khỉ đuôi dài Jade, vẹt nhiều màu, báo đốm rừng, rắn độc cây, cá sấu sông, rồng xanh nhỏ và bướm khổng lồ. Đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là màu sắc sặc sỡ, khả năng leo trèo và bơi lội tốt, nhiều loài có độc tố hoặc khả năng ngụy trang cao. Một số loài ở khu vực rừng mưa nhiệt đới dày đặc lại có tập tính sống trên tán cây cao hoặc ven sông suối, ở nơi đây chuỗi thức ăn cực kỳ phức tạp và đa dạng nhờ mật độ sinh vật rất cao cùng với đặc tính môi trường khiến cho sinh vật ở đây bị nhiễm ma tố Quang và Thủy. Còn ở các khu vực rừng ngập mặn và savanna nhiệt đới thì lại có cá sấu sông, báo đốm rừng, khỉ đuôi dài… những sinh vật ở khu vực này có khả năng thích nghi linh hoạt với cả môi trường nước lẫn đất liền
-Về thảm thực vật thì khu vực này chứa nhiều cây gỗ lớn cao 50 đến 80 m tạo thành tầng tán trên dày đặc, tầng giữa và tầng dưới rất phong phú với dây leo, lan rừng, dương xỉ và thực vật biểu sinh phủ kín hầu hết thân và cành cây, nhiều loài cây có rễ bạnh hoặc rễ phụ, cây ăn quả quanh năm và hoa lớn sặc sỡ để thu hút động vật thụ phấn, đất luôn ẩm ướt với tốc độ phân hủy hữu cơ nhanh hỗ trợ mật độ thực vật cao nhất hành tinh
-Phía Đông Bắc của rìa bản đồ là một lục địa lãnh nguyên lạnh giá với diện tích khoảng 1.400 triệu km². Đây là lục địa đặc trưng với lãnh nguyên rêu, địa y chiếm 60 đến 65% diện tích toàn lục địa, rừng taiga thưa cùng đầm lầy băng chiếm 20 đến 25% diện tích toàn lục địa, phần còn lại khoảng 15% là băng và đá trụi
-Do khí hậu lạnh khắc nghiệt và băng tuyết bao phủ phần lớn thời gian trong năm nên nơi đây còn được gọi là Bắc Lục Địa Băng Giá hay Vùng Đất Sương Giá
-Tại nơi đây nhiệt độ trung bình năm dao động từ –4 đến 2 độ C, mùa hè từ 6 đến 11 độ C, mùa đông từ –18 đến –12 độ C, độ ẩm trung bình năm khoảng 65 đến 75%
-Nơi đây được xem là nơi có trữ lượng sắt, đồng và nhôm từ thấp đến trung bình, trong khi dầu mỏ rất thấp. Các mỏ chủ yếu tập trung ở khu vực phía Nam lục địa và các vùng núi thấp, phần lớn bị bao phủ bởi lớp băng và lãnh nguyên nên việc khai thác gặp nhiều khó khăn do khí hậu lạnh giá quanh năm
-Do môi trường cực lạnh cùng lớp băng và tuyết dày đặc đã tạo điều kiện hình thành lượng lớn tinh thể ma tố Băng, đồng thời gió mạnh trên lãnh nguyên hỗ trợ Phong khá phổ biến, Thủy ở mức trung bình còn Hỏa, Quang và Ám khá hiếm, tất cả các tinh thể này tập trung chủ yếu ở vùng trung tâm lạnh giá và các đầm lầy băng
-Nơi đây là nơi sinh sống của tộc Calam, đặc trưng sinh vật ở vùng đất này là gấu trắng Frostveil, sói băng, hải mã gai, chim cánh cụt khổng lồ, cáo tuyết và rồng băng nhỏ. Đặc điểm chung của các sinh vật ở nơi đây là có lớp mỡ dày, bộ lông dày đặc và khả năng chịu lạnh cực hạn. Một số loài ở khu vực lãnh nguyên rộng lớn lại có tập tính sống thành đàn và di cư theo mùa, ở nơi đây chuỗi thức ăn tương đối ngắn và khắc nghiệt cùng với đặc tính môi trường khiến cho sinh vật ở đây nhiễm ma tố Băng. Còn ở các khu vực rừng taiga thưa và đầm lầy băng như sói băng, cáo tuyết, gấu trắng… những sinh vật ở khu vực này có khả năng săn mồi trong điều kiện tuyết dày và gió lạnh
-Về thảm thực vật thì khu vực này chứa nhiều rêu và địa y chiếm ưu thế tuyệt đối tạo thành thảm dày màu xanh lục nâu, cỏ tuyết thấp lá hẹp mọc thành từng đám, cây bụi lùn cao dưới 30 đến 50 cm có khả năng chịu lạnh và gió mạnh, hầu như không có cây thân gỗ cao, vào mùa hè ngắn một số loài hoa nhỏ nở nhanh rồi tàn, rừng thông bạc chỉ xuất hiện ở cực nam châu lục
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.