Độ Vong Nhân

Quyển 1: Tai Nạn Của Nghệ Sĩ Hạng B

Chương 3: Ngôi Sao Phương Nam

Đăng: 13/06/2026 20:04 2,805 từ 8 lượt đọc

Tầm một nén nhang sau, ngựa chiến bỗng thả chậm bước chân, dừng giữa cánh đồng cỏ lau bạt ngàn. Cách nơi đây vài cây số về phía Nam là bức tường thành vững chắc đã thủ vị hàng trăm năm. Thấp thoáng sau chiến lũy ấy là vài toà lầu các lợp ngói âm dương, treo cao những dải đèn lồng đỏ thắm rực rỡ. Nhưng xa hơn nữa là những toà nhà cao tầng chọc trời san sát với ánh đèn xa hoa và lung linh gấp bội phần.


“Con trai, dậy thôi. Chúng ta đến nơi rồi!” Hộ Quốc Sứ Thần lạnh lùng ngước nhìn về phía căn hộ cao tầng nhất đang sáng đèn, thấp thoáng một bóng dáng đang đứng nhìn về nơi đây.


Phải mất vài giây sau thì Thanh mới lờ mờ tỉnh giấc, cậu theo thói quen mà đưa tay dụi mắt vài cái. Thế nhưng, cậu lại mất thêm vài giây ngẩn người, sau khi nhìn thấy cả một thành phố lộng lẫy trong muôn vàn ánh đèn. Sau đó cậu vội vàng leo xuống ngựa, đôi mắt ánh lên vẻ sùng bái xen lẫn kinh ngạc, cậu khờ khạo thốt lên: “Đẹp quá! Đây chính là thành phố trong lời kể của cha sao?”


Bỗng, một chùm pháo lửa bay vút lên bầu trời rồi nở rộ thành những bông hoa rực rỡ, nhuộm cả mảnh trời đêm trong vô số sắc màu kèm theo tiếng “đùng”, “bùm” vang rền không dứt. Màn chào hỏi bằng thị giác này đã tạo cho Thanh một góc nhìn mỹ lệ hơn về thành phố nhộn nhịp trong lời cha.


“Cha già mắc dịch! Thế mà bấy lâu nay lại nỡ giấu con trai để đi dạo thế gian một mình.” Thanh hết nhảy sang bên này rồi lại nhảy sang bên kia, hai tay quơ cao lên trời mỗi khi một đoá pháo hoa nở rộ, phấn khích đến độ như muốn ôm trọn những tia sáng vừa lụi tàn.


“Đứa nhỏ này… quá đỗi ngây thơ.” Hộ Quốc Sứ Thần thầm cảm thán: “Mặc Diêu… Con bảo bọc con trai quá kỹ, đôi khi cũng chẳng phải chuyện tốt.”


Ngài thở dài, lặng lẽ ngắm nhìn Thanh đang háo hức đưa mắt dõi theo từng bóng người trên toà đài các cao vút. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, ngài thu lại ánh nhìn, đanh giọng nói: “Con trai, ta chỉ có thể đưa con tới đây thôi. Chặng đường còn lại, là ‘phúc’ hay ‘hoạ’ do con tự định đoạt.”


Nghe vậy, Thanh lập tức quay đầu, bỏ mặc những thứ đẹp đẽ hào nhoáng đằng sau mình đang nhanh chóng tàn đi, giọng cậu thoáng chút nuối tiếc: “Ngài... phải đi rồi sao?”


Thây ma chiến mã uốn mình theo dây cương, bắt đầu chuyển hướng, Hộ Quốc Sứ Thần không quay đầu lại mà chỉ nhẹ giọng dặn dò: “Hãy nhớ rằng ma quỷ không đáng sợ bằng nhân tâm. Trên thế gian này, con chỉ nên hoàn toàn tin tưởng những ai biết đến ‘Tứ Phương Kim Tiền’ thôi.”


“Nhớ kỹ lời ta!”


“Hồ Ngọc Thanh xin cảm tạ ngài đã tương trợ! Thanh xin ghi nhớ lời ngài dặn, nhất định không quên! Cung tiễn Hộ Quốc Sứ Thần!” Lần này Thanh không quỳ, cậu chắp tay, kính cẩn khom lưng.


Đáp lại lời từ biệt ấy, chiến mã tung vó, lao vút đi. Chẳng rõ con ngựa chết này có hiềm khích gì với cậu không? Mà trước khi mất hút, nó đã cố tình dùng chân sau để gảy một đống bụi đất lên người cậu trước khi đi. Có thể coi như một lời từ giã, thật sự rất có cá tính.


“Đã ai làm gì đâu?” Thanh lầm bầm, loay hoay phủ lớp bụi đất trên người xuống, rồi dứt khoát quay đầu, sải bước về phía thành phố nhộn nhịp.


…o0o…


Lùi lại dòng thời gian vào năm 789 Trước Công Nguyên (TCN), vùng đất phương Nam thuở ấy có một bậc hùng tài tên Ngạn. Vốn chỉ là một nhà nông chân lấm tay bùn, nhưng khi vó ngựa xâm lược của quân binh nước Bạch Sa (nay là Kình Sa) tràn qua bờ cõi, Ngạn đã chẳng cam chịu kiếp lầm than. Dưới sự áp bức, chính người đàn ông chân lấm tay bùn, quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ấy, đã đứng lên giương cao lá cờ khởi nghĩa.


Chẳng cần binh hùng tướng mạnh, ông quy tụ hơn ba ngàn nông dân áo vải, cầm gươm, đao, giáo, mác lên chống giặc. Bằng mưu kế phản gián tài tình cùng việc tận dụng địa thế rừng thiên nước độc để đánh du kích. Nhờ đó, ông đã dẫn quân đẩy lùi một đợt tấn công và đập tan hai lần phản công từ quân thù, kiên cường giữ chân giặc cho đến khi đại quân triều đình kịp thời tiếp viện.


"Chẳng qua là: Cùi cút làm ăn; Toan lo nghèo khó. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ."
**Trích từ “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc” của cụ Nguyễn Đình Chiểu.**


Sự tinh anh của lão nông ấy đã khiến vị tướng lĩnh dẫn quân triều đình nghiêng mình nể phục và gửi thư bẩm tấu Vua Vũ Thái Tông, sau đó tự quyết định cho ông dẫn quân tiến đánh ba thành trấn đang bị địch đóng chiếm, hỗ trợ triều đình lấy lại quốc thổ đã mất.


Đến năm 801 TCN, trước sức ép mãnh liệt của đội quân triều đình thời bấy giờ, quân giặc buộc phải thoái lui trong bại trận, trao trả lại toàn bộ những vùng đất bị chiếm đóng về lại Cổ Loa. Dựa vào “hùng tài đại lược” của bản thân, ông Ngạn đã được Vua Thánh Minh ban hiệu “Nam Quân”, người đời tôn kính gọi ông là “Nam Quân Mãnh Hổ Tướng”, truyền tụng khắp nhân gian. Từ sau ngày hôm đó, ngay tại nơi ông khởi nghĩa đã được xây dựng một toà thành, tự “Nam Huy”.


Trớ trêu thay… bánh xe lịch sử lại một lần nữa xoay vần trong khói lửa. Năm 1834, giữa cơn biến loạn của cuộc Chiến tranh Ngũ Quốc, quân Kình Sa lại dẫn binh xâm lược phương Nam nước ta. Vì để lấy lại danh dự cho tiền nhân, bọn chúng đã tàn bạo đốt sạch điện thờ “Nam Quân”, thay tên “Nam Huy” thành “Thương Minh”. Không chỉ thế, chúng giết phu, cướp phụ, gieo rắc lầm than bằng những tội ác không thể dung thứ.


Thời điểm ấy, tên chỉ huy quân địch còn buông lời ngạo mạn, sỉ nhục quân ta: “Phương Nam mất Nam Quân như rắn mất đầu, chúng chỉ còn là lũ phàm phu chờ chết.”


Vào lúc bấy giờ, một nữ binh tiên phong tên Xuyến đang chịu cảnh bị giặc cầm tù, đã hiên ngang đứng lên giữa mảnh đất tổ đang bị xâm lược. Dẫu xiềng xích gông cùm kìm kẹp, bà vẫn đứng thẳng lưng, ưỡn ngực đối diện với quân thù, dõng dạc cất cao giọng nói: “Cổ Loa ta chưa bao giờ thiếu anh hùng, phu phụ lão ấu, ai ai cũng là anh hùng!”


Lời nói đanh thép ấy như nhát dao đâm thẳng vào sự kiêu ngạo của quân Kình Sa. Điên tiết vì bị sỉ nhục, tên tướng giặc gầm lên, ra lệnh hành hình bà bằng những phương thức tàn khốc nhất.


Thế nhưng, giữa bóng tối ngục hình và sự bạo tàn của kẻ thù, người ta không nghe thấy một tiếng rên rỉ đầu hàng nào phát ra từ miệng bà. Chỉ có sự im lặng cao cả của một ý chí sắt đá, khiến lũ giặc cũng phải run sợ trước sự kiên cường của một người phụ nữ phương Nam.


Khi hơi thở dần lịm đi dưới cơn đau xé tâm can, máu đào đã thấm đẫm mảnh đất quê hương. Vào giây phút lâm chung, bà Xuyến dùng chút tàn lực cuối cùng để trừng mắt nhìn thẳng vào tên tướng giặc. Đôi mắt ấy rực cháy một ngọn lửa uất hận xen lẫn niềm kiêu hãnh khôn cùng, bà thét lên một tiếng chấn động can trường.


​“Cổ Loa vạn đại trường tồn! Hồn thiêng đất tổ sẽ không buông tha cho quân cướp nước như chúng mày!"


​Dứt lời, bà trút hơi thở cuối cùng trong tư thế hiên ngang, đôi mắt vẫn trừng trừng hướng về lũ xâm lăng, như một lời nguyền rủa vĩnh cửu đè nặng lên quân Kình Sa. Về sau, cái chết lẫm liệt ấy đã được các bậc sử học đã tôn kính đưa bà cùng câu nói của bà vào hai quyển “Anh Thư Sử Lược” và “Thư Hùng Sử Lược”.


Chúng đem thây xác bà công khai treo trên đường phố. Nước Kình Sa nghĩ hành động đó tưởng chừng sẽ giết chết sĩ khí dân chúng, tuy nhiên, chúng nào biết chính hành động ấy đã khiến ngọn lửa luôn nằm sâu trong huyết mạch Cổ Loa, lần nữa bùng lên.


Ngay sau đó, một thành, tám trấn, mười bảy thôn làng, nam nữ già trẻ đều đứng lên chống giặc. Có đao cầm đao; có giáo cầm giáo; có liềm cầm liềm; không khí (vũ khí) cầm gậy. Từ cô nàng đào hát; đến người gánh hàng rong; cho đến cả đứa trẻ bán báo;... Họ đều trở thành nỗi khiếp sợ tột cùng cho quân giặc.


“Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước…”
**Trích từ Trường ca “Mặt đường khát vọng” - Bài thơ “Đất Nước” của cụ Nguyễn Khoa Điềm.**


Một trăm ba mươi sáu năm! Ròng rã hơn một thế kỷ đằng đẵng đi qua, hàng triệu đồng bào đã ngã xuống vì để giữ lấy mảnh đất này. Dưới những cánh đồng xanh mướt sau hòa bình kia không chỉ có phù sa và đất, mà còn có mảnh vụn của bom đạn đem tới, là máu; là xương cốt; là vong hồn;…


“Đó là lý do vì sao nơi đây còn được biết đến với những danh xưng đầy ám ảnh như như ‘Vùng đất máu’; ‘Nơi sinh của truyện ma’ hay ‘Cội nguồn của những truyền thuyết liêu trai’,…”


“Thật giả ra sao, chúng ta không biết. Nhưng nếu là thật thì không có gì các em phải sợ, bởi những vong hồn ấy chẳng phải là ác quỷ, mà là tổ tiên ta. Các cụ đã lựa chọn cư ngụ lại quê hương đất tổ để tiếp tục bảo vệ chúng ta.”


“Với con cháu đời sau, cái giá này quá đắt. Nhưng với các bậc tiền nhân, cái giá đó rất rẻ. Họ đã dùng chính máu xương mình để đổi lấy những ngày tháng tụi em được ăn no, mặc ấm; được học chữ, được tự do lựa chọn tương lai; thậm chí là được quyền ham ăn, lười làm;… Vì thế, đừng để những người nằm xuống phải tủi lòng.”


Hồ Ngọc Thanh đứng sát bên cạnh đám học sinh cấp ba, lẳng lặng lắng nghe anh hướng dẫn viên du lịch đang bùi ngùi giảng giải trước tượng đài “Ngôi Sao Phương Nam”.


“Như các em đã biết, vào năm 1970 khi ‘Chiến Tranh Ngũ Quốc’ kết thúc, vùng đất phương Nam chính thức quy hồi quốc thổ. Vua Cao Minh đã đổi tên ‘Thành phố Thương Minh’ thành ‘Thành phố Ngôi Sao’.”


“Giờ anh đố các em một lần nữa, ngụ ý của việc đó là gì?”


Đám học sinh nhìn nhau ngơ ngác, đứa thì gãi đầu, đứa chống cằm suy tư. Giữa sự im lặng ấy, Thanh đột ngột giơ tay xin phát biểu. Anh hướng dẫn viên nhìn thấy, chỉ khẽ mỉm cười rồi lại chờ thêm đôi chút. Đợi đến khi chắc chắn không có học sinh nào có ý định giơ tay xin phát biểu, anh mới thở dài, quơ tay ra hiệu cho Thanh nói.


“Xin thưa, người xưa vẫn quan niệm rằng mỗi ngôi sao là hiện thân cho những người đã hy sinh, đã rời nhân thế. Vì thế thành phố Ngôi Sao chính là để nhắc nhở, ghi khắc công lao của hàng vạn người anh hùng đã hy sinh.” Thanh giảng giải với giọng to rõ, đôi mắt cậu vẫn luôn nhìn thẳng vào bức tượng đài uy nghi.


“Đúng, nhưng chưa đủ. Cảm ơn vị khách qua đường!” Anh hướng dẫn viên vỗ tay một tiếng “bốp”, rồi gật đầu cảm ơn Thanh. Giọng nói hòa nhã, dễ gần của anh lại tiếp tục vang lên qua chiếc loa nhỏ: “Được rồi, chúng ta sẽ di chuyển đến khu chợ đêm. Các em xếp hàng đi theo anh, chú ý đừng để lạc đoàn.”


Dù không nhận được câu trả lời đầy đủ, nhưng Thanh chẳng đuổi theo mà chỉ đứng yên một chỗ, đưa mắt nhìn đoàn người rời đi, vì cậu dường như đã hiểu được ẩn ý trong lời nói của anh hướng dẫn viên. Thanh quay đầu, tiến lại gần tượng đài, đưa tay chạm lên những hàng chữ được chạm khắc tinh xảo. Nhớ lại cảm giác khi vừa đặt chân qua cánh cổng thành, những dãy đèn lồng đỏ hút mắt trải dài khắp các con phố bao phủ tầm nhìn cậu.


Các hàng quán nhộn nhịp hai bên không gian ấm áp và sầm uất là thế, nhưng trong mắt cậu, nơi này luôn phảng phất một bầu không khí bi hùng khó tả. Như thể người dân nơi đây chưa bao giờ quên những bi kịch từng diễn ra, đồng thời họ cũng vô cùng tự hào về cội nguồn - nơi họ sinh ra.


Đối với người bình thường, đây có lẽ chỉ là một khối đồng vô tri được tạc dựng thành bức tượng để tưởng niệm, để ghi khắc công ơn. Nhưng trong mắt của cậu, bức tượng đài điêu khắc hình hài những “ngôi sao” đang kiêu hãnh phất cao lá cờ Cổ Loa (lấm tấm lỗ đạn bắn thủng) đang vươn cao lên bầu trời không lấp lánh, không hào nhoáng, nhưng lại vô cùng rực rỡ, bởi bức tượng vẫn luôn anh ánh màu vàng óng nguyện lực.


Thứ ánh sáng ấy là kết tinh từ lòng thành kính của cư dân thành phố và lan tỏa thành các hạt sáng nhỏ bé phiêu du ra khắp khu vực này. Các hạt nguyện lực nhẹ nhàng bám vào quần áo; mái tóc; tay chân người đi đường, chúng mang tới nguồn năng lượng tích cực, tuy nhỏ nhoi, nhưng đủ để họ đắm chìm trong cảm xúc hạnh phúc khi đi qua nơi đây.


Ngay bên cạnh Thanh, một người cha đang ẵm trên tay cô con gái nhỏ. Thấy đứa trẻ cứ đưa mắt nhìn tượng đài với đôi mắt vẫn đang ầng ậng nước. Ông khẽ chỉ tay về dòng người vui vẻ xung quanh rồi ôn tồn dỗ dành.


“Đừng khóc sướt mướt như thế... Các cụ không hề muốn con cháu mình chìm trong bi quan của quá khứ. Vì thế con hãy luôn tự hào và biết ơn trong hạnh phúc, trong thời bình mà các cụ đem đến. Hãy sống thật lạc quan để thay các cụ nhìn ngắm thời đại bình yên mà họ đã dùng chính sinh mạng mình dựng nên.”


Đúng lúc này, một hồi trống dồn dập bất chợt vang lên khiến lòng ngực Thanh rung động, nhịp tim bất giác đập theo từng nhịp trống. Hoà cùng tiếng trống là âm thanh réo rắt của đàn bầu, đàn tranh, kèm theo những thi từ bi tráng vang vọng bên tai:


“Hồn thiêng vạn dặm ký sơn hà,

Huyết thấm nghìn thu hoà ngọc hoa.

Lẫm liệt tinh anh phò quốc thổ,

Thịnh bình đời thắp ánh sao xa.”


Thanh quay đầu, nhìn phía bên tay trái không xa là một đám đông, bài thi từ có vẻ xuất phát từ nơi ấy. Dưới ánh mắt bất ngờ của vài khách du lịch xung quanh, cậu dùng bộ pháp chạy vút tới, chen chúc chui vào vùng trung tâm. Trong lúc đấy, cậu thấp thoáng thấy được có vài người đang diễn võ nghệ, phía sau họ còn có vài người mặc trang phục cầu kỳ đang ca múa.


Đó là một tuồng kịch đang diễn ra giữa phố đi bộ.


(Hết chương)

(2825)





0
Ủng hộ tác giả HoHieuLang Nếu bạn yêu thích tác phẩm, hãy ủng hộ tác giả một ly cà phê nhằm tiếp động lực cho mình nhaaaa.