Chương 61: Luồng Nước Cát Lái
Mùi máu trong vòm họng tôi có vị như một đồng xu rỉ sét bị ngâm nước mưa lâu ngày.
Chiếc Ford Ranger chồm lên khi Lê Hoàng giật mạnh cần số, cua gắt từ đường Đinh Bộ Lĩnh tạt thẳng qua hướng cầu Sài Gòn. Cần gạt nước miết trên mặt kính chắn gió rít lên từng hồi ken két, gạt đi lớp sương mù dày đặc và khói xả khen khét từ mấy xe tải chở rau muộn.
Tôi tựa đầu vào cửa kính lạnh ngắt. Mỗi nhịp xóc của xe dộng thẳng vào mạn sườn trái, tạo ra một cơn đau buốt nhói, dứt khoát và sắc lẹm như bị ai dùng mảnh tôn cạo vào màng phổi. Tôi thở từng ngụm ngắn, nông và dồn dập. Khí quản bắt đầu có xu hướng bị đẩy lệch sang phải. Tim tôi đập loạn xạ trên một trăm ba mươi nhịp mỗi phút, trống ngực dộng thình thịch như muốn xé toạc lồng ngực mà nhảy ra ngoài.
Triệu chứng của tràn máu và tràn khí áp lực nội ngực. Tôi không cần bằng bác sĩ để biết khoang màng phổi trái của mình lúc này đang tích tụ không dưới bốn trăm mi-li-lít máu loãng cùng bọt khí. Quả tim đang bị chèn ép sang bên phải. Thêm ba mươi phút nữa không được chọc kim xả áp, tôi sẽ ngừng tuần hoàn ngay trên ghế phụ.
Lê Hoàng đạp lút ga. Tiếng máy dầu gầm rú trong màn sương mờ đục của thành phố lúc gần năm giờ sáng.
"Ngồi yên đấy," Hoàng gằn giọng, mắt dán chặt vào khoảng sáng vàng vọt của hai cụm đèn pha. "Hạ Băng chuẩn bị xong phòng mổ dã chiến ở Nhà Bè rồi. Mười lăm phút nữa."
Tôi không trả lời. Miệng tôi ngập dịch nhầy lẫn máu tươi. Tôi thò tay vào túi áo khoác, ngón tay chạm vào chiếc kẹp tóc bằng nhôm uốn hình con bướm bị cháy sém một góc. Mặt kim loại lạnh buốt cọ vào đầu ngón tay ráp ngắt.
Tiếng rè rè trên tap-lo xe lại vang lên. Máy thu sóng ngắn vệ tinh mà Tí Bo vừa câu dây từ bình ắc-quy chớp nháy đèn xanh liên tục.
"Anh Vũ! Anh nghe rõ không?" Giọng thằng Tí Bo đứt quãng vì can nhiễu từ các trạm biến áp dọc xa lộ. "Em vừa bẻ khóa hệ thống điều phối luồng hàng hải của Cảng vụ Hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh. Khung giờ từ bốn giờ mười lăm đến bốn giờ ba mươi sáng nay, tại luồng Soài Rạp và luồng Lòng Tàu có đúng ba tàu hàng làm thủ tục nhổ neo rời cảng Tân Cảng - Cát Lái."
Tôi nuốt ngụm máu tanh xuống cổ họng, với tay bấm nút đàm thoại trên máy vô tuyến:
"Đọc tên. Trọng tải. Hải trình."
"Con thứ nhất là tàu công-ten-nơ treo cờ Panama, tên Pacific Star, mười bốn nghìn tấn, đích đến là cảng Cao Hùng, rời cầu cảng B3 lúc bốn giờ mười lăm. Con thứ hai là tàu chở hàng rời Việt Nam, Nam Hải 18, ba nghìn tấn, chạy tuyến nội địa ra Hải Phòng, rời lúc bốn giờ hai mươi. Con thứ ba..." Thằng nhóc ngừng lại nửa giây, tiếng bàn phím cơ gõ lách cách giòn giã. "Tàu chở hóa chất chuyên dụng Aurelia, cờ Liberia, mười tám nghìn tấn, thuộc sở hữu của một công ty ủy thác vận tải biển có trụ sở đăng ký tại Geneva. Đích đến cuối cùng là cảng Singapore để tiếp nhiên liệu trước khi đi Rotterdam."
"Tàu Aurelia rời bến lúc mấy giờ?"
"Bốn giờ mười bảy phút sáng. Nhật ký hoa tiêu điện tử ghi nhận thuyền trưởng xin cấp phép xuất bến khẩn cấp, bỏ qua một bước kiểm tra kỹ thuật an toàn đáy tàu do có công hàm bảo lãnh lãnh sự."
"Người phụ nữ," tôi nói, lồng ngực co rút lại làm giọng tôi nghẹn đặc như bị bóp nghẹt. "Có tên trong danh sách thuyền viên không?"
"Không có tên hành khách nào trên tàu hàng quốc tế cả, anh Vũ. Quy định hàng hải cấm chở khách dân sự trên tàu hóa chất lỏng. Nhưng trên bản khai hải quan điện tử bổ sung lúc ba giờ năm mươi, có một chữ ký ủy quyền đặc biệt cho chuyên viên kiểm định mẫu khoáng sản đi cùng hàng. Mã số cấp phép: FE-7704. Người ký duyệt phía dưới là đại diện chi nhánh Quỹ Viễn Đông tại Hồng Kông."
Lê Hoàng liếc nhìn sang tôi. Hai bàn tay gã siết chặt vô-lăng đến mức khớp ngón tay trắng bệch.
"Geneva," Hoàng nghiến răng. "Quỹ Viễn Đông. Bọn chúng đã tính sẵn đường rút từ trước khi xe bồn ở bến xe Miền Đông bị vô hiệu hóa."
"Không chỉ tính đường rút," tôi thở dốc, từng chữ thốt ra kéo theo tiếng rít khè khè nơi đáy phổi. "Ả giữ... năm mươi phần trăm cổ phần thực tế... và cuốn nhật ký gốc năm 2004 của chị Mai Lan. Bản hợp đồng một không bốn chỉ là giấy tờ... Cuốn nhật ký mới là thứ ghi lại toàn bộ danh sách chuyển tiền... tọa độ chính xác của các giếng khoan thăm dò đất hiếm... và chữ ký nhận tiền mặt của toàn bộ mạng lưới bảo kê quốc tế."
"Chiếc tàu Aurelia đang chạy với tốc độ bao nhiêu?" Hoàng hỏi vào máy bộ đàm.
"Mười hai hải lý một giờ," Tí Bo đáp ngay. "Hiện tại nó đang đi qua đoạn phao tiêu số 18 trên luồng Lòng Tàu, hướng về phía vịnh Gành Rái. Với tốc độ này, khoảng sáu giờ mười lăm nó sẽ đến trạm hoa tiêu Vũng Tàu để trả hoa tiêu dẫn luồng, sau đó vượt ra khỏi hải phận mười hai hải lý của Việt Nam. Một khi nó vào vùng nước quốc tế, trừ phi có lệnh bắt giữ khẩn cấp của Tòa án Hàng hải Quốc tế hoặc can thiệp quân sự cấp cao, không một lực lượng nào của ta được phép chặn tàu lại."
"Một tiếng mười lăm phút nữa," Hoàng lẩm bẩm. Chiếc bán tải lao vút qua trạm thu phí cầu Phú Mỹ, hướng thẳng xuống vùng đầm lầy ngập mặn Nhà Bè. "Từ đây xuống trạm hoa tiêu Vũng Tàu bằng đường bộ mất ít nhất hai tiếng rưỡi. Chúng ta không thể đuổi kịp bằng xe."
"Cảng kiểm soát biên phòng Nhà Bè," tôi nói, cảm giác đầu óc bắt đầu quay cuồng vì thiếu dưỡng khí, môi tê dại. "Có... ca-nô cao tốc tuần tra của Cảnh sát Biển hoặc Biên phòng... Đặng Thế Anh có thể điều động..."
"Mày lo giữ cái mạng mày trước đi," Hoàng cắt ngang, giọng đanh lại. "Mặt mày tím tái hết rồi kìa."
Tôi nhắm mắt lại. Trong bóng tối sau mí mắt, tôi thấy lại ngọn lửa ngút trời ở Mái ấm Hướng Dương hai mươi năm trước, thấy cái gạt tàn pha lê trong phòng 308 nơi Nguyễn Khắc Thắng lạnh lùng châm lửa thiêu rụi tờ giấy khai sinh của Đăng, và tiếng máy theo dõi nhịp tim kéo một vệt dài vô tận trong phòng cách ly lúc nửa đêm.
Đăng đã chết. Thằng bé hai mươi năm mang một vết bỏng trên cánh tay và một vết rách sâu hoắm trong tâm hồn đã dừng lại ở tuổi hai mươi sáu. Nhưng trò chơi mà những kẻ mặc vest sang trọng ở Geneva và Sài Gòn bày ra vẫn chưa kết thúc. Chúng nghĩ rằng cái chết của Đăng và bản hợp đồng bị thu giữ sẽ khép lại mọi chuyện. Chúng nghĩ một người phụ nữ giấu mặt có thể ôm cuốn nhật ký của người bảo mẫu xấu số bước lên boong tàu sắt, ung dung trốn ra biển lớn với hàng tỷ đô la quặng đất hiếm.
Bánh xe Ford Ranger rít lên chói tai trên nền bê tông ẩm ướt của Phân viện Pháp y Quân đội phía Nam.
Cổng sắt quân sự mở sẵn. Hai người lính cảnh vệ mặc quân phục dã chiến đứng nghiêm chào khi chiếc xe bán tải lao thẳng vào khoảng sân trước dãy nhà cấp bốn phủ đầy rêu phong. Mùi ngai ngái của bùn sình sông Soài Rạp quyện với mùi cồn y tế và mùi đất ẩm sau cơn mưa dầm tạo nên một thứ không khí ngột ngạt, tanh nồng.
Cửa kính phòng tiểu phẫu dã chiến bật mở.
Hạ Băng bước ra. Cô mặc áo choàng phẫu thuật màu xanh thẫm, tóc búi gọn sau mũ vải tiệt trùng, đôi găng tay cao su màu trắng đã đeo sẵn. Khuôn mặt cô không lộ một chút cảm xúc thừa thãi nào, chỉ có đôi mắt sâu thẳm sau cặp kính bảo hộ là ánh lên sự căng thẳng tột bực.
"Khiêng anh ấy vào," Hạ Băng ra lệnh cho hai nhân viên quân y đi sau.
"Tôi tự đi được," tôi lẩm bẩm, gạt tay người chiến sĩ trẻ định đỡ lấy mình. Nhưng vừa đặt chân xuống nền gạch tàu, đầu gối tôi khuỵu xuống như một bao tải mục.
Lê Hoàng đỡ lấy nách tôi, thô bạo nhưng chắc chắn, nửa kéo nửa vác tôi đặt lên bàn mổ bằng inox lạnh ngắt giữa phòng.
Ánh đèn mổ công suất lớn rọi thẳng vào mắt tôi, trắng lóa và chói gắt. Mùi cồn i-ốt vàng khè bốc lên nồng nặc. Trên khay dụng cụ bằng thép không gỉ bên cạnh, một cây kim chọc dò số 16 to bằng ruột bút bi, một ống dẫn lưu silicon cỡ 28F và một bình hút áp lực âm chứa sẵn nước muối sinh lý đã được sắp xếp thẳng tắp.
Hạ Băng dùng kéo cắt phăng chiếc áo sơ mi rách bươm dính đầy bùn cống, dầu mỡ và muội than của tôi. Không khí lạnh trong phòng táp vào da thịt trần trụi khiến tôi rùng mình.
Bàn tay cô lạnh ngắt nhưng chuẩn xác, lướt dọc theo khung xương sườn bên trái của tôi. Khi đầu ngón tay cô ấn nhẹ vào khoang liên sườn số năm đường nách giữa, một luồng đau buốt thấu tận tủy sống khiến tôi cắn chặt môi đến bật máu.
"Xương sườn số sáu gãy chéo, đầu xương di lệch cọ rách màng phổi tạng," Hạ Băng nói, giọng đều đều như đang đọc một bản báo cáo tử thi, nhưng nhịp thở của cô dồn dập hơn bình thường. "Khí quản lệch phải hai mươi độ. Rì rào phế nang bên trái mất hoàn toàn. Đã có dấu hiệu chèn ép tim cấp."
Cô cầm ống tiêm chứa thuốc tê Lidocaine lên.
"Tôi sẽ gây tê tại chỗ lớp cơ và màng phổi thành. Nhưng màng phổi tạng đang bị rách, thuốc tê sẽ không ngấm hết. Anh sẽ thấy như có ai cầm một thanh sắt nung đỏ chọc thẳng vào ngực. Chịu được không?"
"Đừng hỏi thừa," tôi thều thào qua kẽ răng. "Làm đi. Tôi còn phải đi đón một chuyến tàu."
Hạ Băng không đáp. Mũi kim gây tê cắm ngập vào da thịt. Cảm giác căng tức buốt nhói lan nhanh dưới lớp cơ ngực. Nhưng cơn đau đó chẳng là gì so với giây tiếp theo, khi lưỡi dao mổ số 11 của cô rạch một đường dài một phẩy năm xăng-ti-mét dọc theo bờ trên xương sườn số sáu.
Một tiếng rạch sắc gọn của kim loại cắt qua da thịt. Hạ Băng dùng kẹp phẫu thuật tách từng thớ cơ liên sườn, sau đó cầm cây kim chọc dò màng phổi to bản đâm dứt khoát qua lớp màng phổi thành.
Phụt!
Một luồng khí áp lực cao xì mạnh ra ngoài kèm theo tiếng rít sắc lạnh. Ngay sau đó, dòng máu đen sẫm, đặc quánh và không đông phun trào qua nòng kim, bắn cả vào tấm săng mổ màu xanh.
"Hút áp lực âm ngay!" Hạ Băng quát nhỏ.
Người phụ tá nhanh chóng nối đầu ống dẫn lưu silicon vào bình hút. Tiếng máy hút cơ học kêu ù ù đều đặn. Từng đợt máu đen lẫn bọt khí sủi bọt cuồn cuộn chảy qua đường ống trong suốt, dâng lên nhanh chóng trong bình chia vạch: một trăm... hai trăm... ba trăm tám mươi mi-li-lít.
Khoảnh khắc màng phổi được giải áp, một cơn đau co thắt khủng khiếp dội ngược lại từ đáy lồng ngực. Phổi trái của tôi sau nhiều tiếng bị xẹp lép bắt đầu tái nở, cọ sát vào đầu xương gãy. Tôi nghẹt thở, hai tay siết chặt lấy mép bàn mổ bằng inox đến mức móng tay bật máu. Tôi muốn hét lên, nhưng thanh quản chỉ phát ra được một tiếng gầm gừ nghẹn ngào sâu trong cuống họng.
Mồ hôi lạnh vã ra như tắm, ướt đẫm trán và sống lưng tôi.
Hạ Băng nhanh tay khâu hai mũi chữ U bằng chỉ nilon số 2 để cố định ống dẫn lưu vào thành ngực, sau đó dùng băng gạc tiệt trùng quấn chặt quanh lồng ngực tôi thành nhiều lớp dày cộp.
Áp lực trong lồng ngực giảm xuống rõ rệt. Dòng dưỡng khí ùa vào phổi trái mang theo cảm giác rát buốt, nhưng đầu óc tôi lập tức tỉnh táo trở lại. Nhịp tim trên màn hình theo dõi từ một trăm ba mươi tụt dần về mức tám mươi lăm.
Hạ Băng tháo găng tay cao su đẫm máu vứt vào thùng rác y tế. Cô quay lưng về phía tôi, với lấy chiếc khăn ấm lau mồ hôi trên trán, bả vai cô hơi run lên một nhịp rất nhẹ.
"Anh còn sống," cô nói, giọng khàn đặc. "Nhưng trong vòng bảy mươi hai giờ tới, nếu anh vận động mạnh làm tuột ống dẫn lưu hoặc gãy thêm đầu xương sườn, không ai cứu được anh lần thứ hai đâu."
Tôi chống tay ngồi dậy trên bàn mổ. Cơn đau vẫn còn đó, âm ỉ và nhức nhối như một khối chì nóng chảy ghim vào mạng sườn, nhưng tôi đã có thể thở trọn vẹn một hơi dài.
Lê Hoàng từ ngoài cửa bước vào, tay cầm chiếc điện thoại vệ tinh đang bật loa ngoài.
"Đặng Thế Anh vừa liên lạc với Bộ Tư lệnh Vùng 2 Cảnh sát Biển," Hoàng nói nhanh. "Họ đã điều một tàu tuần tra cao tốc lớp năm mươi tấn xuất phát từ căn cứ Vũng Tàu để đón lõng tàu Aurelia tại khu vực phao số không. Nhưng có một rắc rối lớn."
"Rắc rối gì?" Tôi vừa xỏ tay vào chiếc áo khoác đen do người phụ tá đưa, vừa hỏi.
"Đại sứ quán Thụy Sĩ và một tổ chức tài chính quốc tế vừa gửi một công hàm khẩn cấp tới Bộ Ngoại giao lúc bốn giờ bốn mươi lăm," giọng Thượng tá Đặng Thế Anh vang lên rè rè từ loa điện thoại. "Họ tuyên bố tàu Aurelia đang vận chuyển các mẫu địa chất chiến lược theo thỏa thuận hợp tác nghiên cứu ký kết từ năm 2004 với Tập đoàn Phương Nam, có đầy đủ quyền miễn trừ kiểm tra tư pháp theo quy chế vận tải ngoại giao thương mại. Nếu Cảnh sát Biển lên tàu kiểm tra mà không có bằng chứng phạm pháp quả tang cụ thể về mặt hình sự, chúng ta sẽ đối mặt với một vụ kiện quốc tế trị giá hàng trăm triệu đô la và rủi ro ngoại giao nghiêm trọng."
Tôi với lấy bao thuốc Thăng Long bẹp dúm trong túi quần, rút ra một điếu gãy đầu lọc, châm lửa. Khói thuốc cay xè tràn vào cuống họng làm tôi ho khan một tiếng, ngực nhói buốt.
"Bằng chứng phạm pháp quả tang," tôi nhả một ngụm khói đục vào ánh đèn mổ. "Năm mươi triệu đô la bị phong tỏa ở Zurich không đủ. Bản hợp đồng một không bốn bị ép ký dưới mưa cũng không đủ. Bọn chúng cần cuốn nhật ký của Mai Lan biến mất để biến toàn bộ mỏ đất hiếm thành tài sản tranh chấp quốc tế vô chủ."
"Chiếc tàu Aurelia đang giảm tốc độ để chuẩn bị đón ca-nô hoa tiêu trả về trạm Vũng Tàu," Đặng Thế Anh nói tiếp. "Trần Vũ, anh chỉ có một cơ hội duy nhất. Ca-nô của Ban Chỉ huy Biên phòng Cửa khẩu Cảng Hiệp Phước đang đợi anh ở cầu cảng số 2, cách chỗ anh năm trăm mét. Tôi đã ký giấy điều động anh và Lê Hoàng với tư cách 'Chuyên viên giám định hiện trường độc lập của Viện Kiểm sát Tối cao'. Anh có đúng bốn mươi phút để tiếp cận chiếc tàu trước khi nó thả hoa tiêu và tăng tốc ra hải phận quốc tế."
Tôi tắt điếu thuốc vào khay inox, đứng dậy. Đôi chân tôi vẫn còn hơi run, nhưng khớp xương đã khóa cứng lại theo bản năng sinh tồn.
"Hạ Băng," tôi nói mà không nhìn cô. "Giữ xác Đăng cẩn thận dưới hầm lạnh. Khi tôi quay lại, tôi muốn thấy cậu ấy mặc quân phục phẳng phiu."
Hạ Băng đứng yên bên bàn mổ. Cô với tay lấy ly cà phê vợt đã nguội ngắt mua từ đầu hẻm lúc nửa đêm, đặt cộp xuống mặt bàn cạnh tôi.
"Uống hết đi," cô nói cộc lốc, mắt nhìn vào bức tường gạch phía sau lưng tôi. "Đừng để máu của Đăng chảy vô ích."
Tôi cầm ly cà phê nguội, uống cạn trong một ngụm. Vị đắng chát và ngọt gắt của sữa đặc đọng lại nơi đầu lưỡi, xua đi phần nào vị tanh của máu.
Năm phút sau, chiếc ca-nô cao tốc trang bị hai động cơ ba trăm mã lực của Biên phòng xé toạc mặt nước đục ngầu của sông Soài Rạp, lao vút về phía hạ lưu.
Gió biển mang theo vị mặn chát và hơi nước ẩm ướt quất thẳng vào mặt tôi. Bầu trời phía đông bắt đầu hửng lên một vệt sáng màu xám chì lạnh lẽo. Dọc hai bên bờ sông, rừng đước ngập mặn Cần Giờ trải dài như một bức tường đen thẫm, im lìm và bí ẩn.
Tôi ngồi ở đuôi thuyền, mở chiếc máy tính bảng quân sự kết nối dữ liệu vệ tinh của Tí Bo.
Trên màn hình radar hàng hải, một chấm đỏ mang mã hiệu AURELIA-IMO92841 đang di chuyển chầm chậm qua khúc quanh mũi Gành Rái, cách chúng tôi khoảng tám hải lý.
"Tí Bo," tôi nói qua tai nghe chống ồn. "Truy xuất toàn bộ dữ liệu về người phụ nữ ký mã FE-7704 trên bản khai hải quan."
"Em đang rà đây anh Vũ," tiếng Tí Bo vang lên giữa tiếng gió rít. "Địa chỉ IP gửi bản khai hải quan bổ sung xuất phát từ một máy tính vệ tinh đặt ngay trên boong chỉ huy của tàu Aurelia lúc bốn giờ sáng. Nhưng chữ ký số điện tử... không phải của người nước ngoài."
"Chữ ký của ai?" Lê Hoàng ngồi bên cạnh, tay cầm khẩu súng ngắn K59 đã lên đạn sẵn, hỏi dồn.
"Chữ ký số được đăng ký dưới tên Nguyễn Mai Phương, sinh ngày 12 tháng 11 năm 1999 tại Đà Lạt."
Ngón tay tôi khựng lại trên màn hình cảm ứng.
12 tháng 11. Trùng khớp tuyệt đối với ngày sinh của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan và ngày Mái ấm Hướng Dương bị thiêu rụi vào năm 2004.
"Cô ta là ai?" Tôi gặng hỏi, giọng lạnh tanh giữa tiếng sóng dập dồn dập vào mạn thuyền.
"Hồ sơ hộ tịch gốc của Lâm Đồng ghi nhận: Nguyễn Mai Phương là đứa trẻ lớn nhất trong số hai đứa trẻ sống sót sau đám cháy năm 2004, lúc đó vừa tròn năm tuổi. Sau vụ cháy, cô ta được một gia đình thương gia người Thụy Sĩ nhận nuôi thông qua sự môi giới của Quỹ Từ thiện Hướng Dương do Huỳnh Trí Cao và Mai Thị Ngọc Lan bảo trợ. Mười lăm năm qua, cô ta theo học ngành tài chính khoáng sản tại Đại học Geneva, và hiện là người đại diện pháp lý nắm giữ năm mươi phần trăm cổ phần của Quỹ Viễn Đông."
Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng tôi, sắc buốt hơn cả nhát dao mổ vừa rạch qua thành ngực.
Đứa trẻ năm tuổi sống sót năm đó.
Kẻ mà Mai Thị Ngọc Lan và Huỳnh Trí Cao ngỡ rằng đã tống khứ ra nước ngoài để bịt đầu mối, thực chất đã được nuôi dạy bằng chính dòng tiền bẩn từ mỏ quặng, để rồi hai mươi năm sau quay lại, nắm giữ toàn bộ huyết mạch tài chính của chính những kẻ đã giết chết mẹ nuôi của mình.
Đăng chọn cách trả thù bằng dây dù, bằng thuốc độc và bằng cái chết của chính mình trong phòng cách ly để lật tung bộ máy tư pháp trong nước.
Còn người phụ nữ này — Nguyễn Mai Phương — chọn cách tước đoạt toàn bộ khối tài sản hai phẩy năm tỷ đô la của chúng, mang theo cuốn nhật ký tội ác rời khỏi đất nước, biến công lý thành một canh bạc tài chính quốc tế mà không một ai có thể chạm tới.
"Cô ta không phải là đồng phạm của nhóm lợi ích," tôi lẩm bẩm, mắt dán chặt vào chấm đỏ trên hải đồ đang tiến gần đến phao số không. "Cô ta là người thi hành bản án cuối cùng theo cách của riêng cô ta."
"Nhưng nếu cô ta mang cuốn nhật ký đó đi," Lê Hoàng siết chặt báng súng, "toàn bộ những kẻ bảo kê còn sót lại trong bóng tối, những đường dây rửa tiền quốc tế của Phan Hải Nam và Nguyễn Khắc Thắng sẽ vĩnh viễn không bao giờ bị đưa ra xét xử công khai trước tòa án Việt Nam."
Chiếc ca-nô biên phòng rẽ sóng, vọt qua doi cát Cần Giờ.
Trước mắt chúng tôi, giữa vùng biển xám ngắt của vịnh Gành Rái đang chìm trong sương sớm, thân hình đồ sộ của con tàu chở hóa chất Aurelia hiện ra lừng lững như một pháo đài thép màu đen xám.
Chiếc tàu hoa tiêu dẫn luồng vừa tách khỏi mạn phải của con tàu lớn. Chân vịt khổng lồ của tàu Aurelia bắt đầu khuấy đảo mặt nước, tạo thành những quầng bọt trắng xóa cuồn cuộn phía đuôi tàu. Nó đang chuẩn bị tăng tốc ra biển khơi.
Trên đài chỉ huy tầng cao nhất của con tàu sắt, một bóng người mặc áo khoác dài màu đen đang đứng tựa vào lan can kim loại, tay cầm một chiếc máy bộ đàm hàng hải, im lặng nhìn xuống chiếc ca-nô của chúng tôi đang lao tới cắt ngang luồng nước.
Tiếng bộ đàm trên ca-nô bỗng vang lên ba tiếng gõ cơ học khô khốc:
Cộc. Cộc. Cộc.
Và sau đó là một giọng nữ trẻ tuổi, lạnh lùng, sắc bén như một mảnh băng trôi:
"Đội phó Trần Vũ. Anh đã chậm năm phút rồi."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.