Giao Lộ Mờ Sương

Chương 60: Bản Hợp Đồng Dưới Mưa

Đăng: 18/08/2026 05:03 3,346 từ 1 lượt đọc

Mũi súng K54 ấn vào đốt sống lưng tôi qua lớp áo khoác sũng nước.

Kim loại lạnh buốt. Lạnh hơn cả nước mưa đang nhỏ tong tòng từ mái tôn mục của Khu B Bến xe Miền Đông.

Mùi dung môi hydrocacbon nồng nặc ngoài sân vẫn lùa qua khe cửa chớp, xộc thẳng vào mũi cùng mùi rỉ sắt của hàng trăm cánh tủ gửi đồ bỏ hoang. Lồng ngực tôi nhói buốt. Cú thúc đầu gối của gã sát thủ lúc nãy khiến đầu xương sườn số sáu cọ mạnh vào màng phổi. Vị tanh ngọt trào lên cuống họng. Tôi nuốt khan, cắn chặt đầu lưỡi để cơn choáng không kéo sập hai mi mắt.

Lê Hoàng đứng sau lưng tôi. Hơi thở của cậu ta nặng, đứt quãng, nhưng bàn tay cầm súng không hề run.

Trên mặt bàn sắt gỉ sét trước mặt tôi, tờ giấy pơ-luya khổ A4 của Bản thỏa thuận ủy thác số 104-MBE/2004 vẫn mở toang dưới ánh đèn pin mini. Trang cuối cùng có ba con dấu sáp đỏ. Bên cạnh chữ ký mũi tên đỏ cam của Võ Khang là một dòng bút máy mực xanh Cửu Long sắc nhọn, móc ngược ở đuôi chữ B.

"Đại diện thẩm định và giám sát thực địa: Thiếu tá Lê Văn Bản - Phó Trưởng phòng Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng."

Chữ ký tươi rói. Đậm nét. Ký ngày 10 tháng 11 năm 2004. Đúng bốn mươi tám tiếng trước khi chiếc xe bồn chở năm ngàn lít dầu diezen và dung môi chạy vào Mái ấm Hướng Dương.

Không gian trong phòng lưu trữ đặc quánh lại. Chỉ còn tiếng mưa gõ ràn rạt trên nóc tôn và tiếng kim đồng hồ điện tử đếm ngược của hộp kích nổ đã bị tôi giật rời pin, nằm trơ trọi dưới chân tủ sắt.

Tôi không quay đầu lại. Giọng tôi khàn đặc, lẫn trong tiếng rít của màng phổi rách:

"Cậu định bóp cò à?"

Hoàng không trả lời ngay. Họng súng vẫn ghì chặt vào lưng tôi, sâu thêm nửa phân.

"Anh biết nó từ khi nào?" Hoàng hỏi. Giọng cậu ta đanh lại, khô khốc như tiếng hai thanh kim loại mài vào nhau.

"Mười giây trước. Khi tôi lật đến trang cuối."

"Anh nói dối. Tuấn đã chết ba năm. Hộp tôn kẽm của anh ấy giấu sau bàn thờ ở Quận 4. Anh giữ bản đồ địa chất mỏ đất hiếm từ lúc đó. Anh biết cha tôi là ai trong cái bàn cờ này."

Tôi ho bật ra một ngụm máu tươi xuống góc bàn sắt. Vệt máu đỏ thẫm loang ra, cách mép chữ ký của Lê Văn Bản chừng hai lóng tay.

"Nếu tôi biết từ ba năm trước," tôi nhổ bớt vị tanh trong miệng, "tôi đã không để cậu lái chiếc xe cấp cứu đâm nát trạm biến áp ở Chí Hòa đêm qua. Và tôi đã không để cậu đứng sau lưng tôi lúc này."

Hoàng im lặng. Tiếng thở của cậu ta phả ra mùi thuốc lá vụn và mồ hôi chua loét của một kẻ đã ba mươi sáu tiếng không chợp mắt.

Tôi đưa tay trái lên rất chậm. Ngón tay tôi chạm vào chiếc kẹp tóc bằng nhôm hình con bướm cài ở mép túi áo ngực. Cạnh nhôm mỏng cấn vào da thịt lạnh ngắt.

"Hoàng này," tôi nói, mắt vẫn nhìn chằm chằm vào dòng mực xanh Cửu Long. "Cậu có biết tại sao loại mực này chỉ xuất hiện ở Lâm Đồng vào giai đoạn 2000 - 2005 không?"

"Đừng đánh trống lảng, Vũ."

"Nó là loại mực sản xuất riêng cho Văn phòng Tỉnh ủy và Ban Chỉ đạo Tây Nguyên. Một lọ mực có số seri quản lý nội bộ. Nguyễn Khắc Thắng giữ một lọ. Đỗ Khắc Khiêm giữ một lọ. Và người thứ ba được cấp là Trưởng đoàn Thanh tra Liên ngành. Cha cậu lúc đó chỉ là Phó phòng Điều tra cấp tỉnh, không có tiêu chuẩn dùng loại mực này."

Họng súng sau lưng tôi khẽ khựng lại một nhịp cực nhỏ.

"Ý anh là gì?"

"Nhìn kỹ thớ giấy đi," tôi dùng đầu ngón tay dính muội than chỉ vào mép chữ ký. "Vết mực ngấm sâu hơn bình thường. Nét bút run ở gạch nối giữa chữ V và chữ B. Chữ ký này không được ký trên bàn làm việc trong phòng máy lạnh. Nó được ký trên nắp ca-pô xe U-oát, dưới trời mưa dầm, bằng cây bút Parker của Nguyễn Khắc Thắng dí vào tay ông Bản."

Tôi dừng lại nửa giây, hít một hơi thật sâu dù lồng ngực như bị ai lấy búa nện vào.

"Đêm 10 tháng 11 năm 2004, Quỹ Viễn Đông chuyển năm mươi triệu đô-la vào tài khoản Zurich của Phan Hải Nam. Điều kiện tiên quyết để giải ngân là phải có chữ ký của người trực tiếp phụ trách lực lượng điều tra tại địa bàn. Thắng và Khiêm cần một kẻ đứng mũi chịu sào trên giấy tờ nếu sau này vụ giải tỏa bị vỡ lở. Cha cậu từ chối. Và chúng mang bệnh án ung thư tủy của mẹ cậu ra đặt lên bàn."

"Anh bịa chuyện," giọng Hoàng gằn xuống, nhưng nòng súng K54 đã giảm bớt lực ép vào lưng tôi. "Khiêm nói cha tôi cầm hai trăm triệu..."

"Hai trăm triệu đó là tiền viện phí của mẹ cậu ở bệnh viện Changi bên Singapore," tôi cắt ngang, giọng lạnh băng. "Và bà ấy chết ngay trên bàn mổ trước khi số tiền đó kịp thanh toán đợt thuốc thứ hai. Nhưng bản hợp đồng này thì còn nguyên. Chúng dùng nó để trói cha cậu suốt mười lăm năm. Chúng tước quyền điều tra của ông ấy, đày ông ấy sang làm Phó Giám đốc phụ trách hậu cần, mục rỗng dần trong căn nhà tập thể dột nát."

Tôi từ từ xoay người lại.

Họng súng K54 chĩa thẳng vào giữa trán tôi ở khoảng cách ba mươi phân.

Gương mặt Lê Hoàng tái mét dưới ánh đèn pin. Quầng mắt thâm quầng, râu lởm chởm, và khóe môi cậu ta giật liên hồi. Đó là gương mặt của một sĩ quan cảnh sát vừa nhìn thấy bức tượng thần tượng của cuộc đời mình sụp đổ thành một đống bùn đất dơ bẩn.

Tôi nhìn thẳng vào mắt Hoàng, không chớp:

"Nếu cha cậu thực sự là một con quỷ trong nhóm mười sáu kẻ cướp đất, tại sao đêm 12 tháng 11 năm 2004, khi bắt gặp Nguyễn Văn Hùng bế thằng Đen trèo ra từ chái bếp đang cháy, ông ấy đã không bóp cò? Tại sao ông ấy tự tay đốt chiếc xe tuần tra dưới chân đèo để báo cáo giả rằng nghi phạm đã tẩu thoát?"

Hoàng cắn chặt môi dưới đến bật máu. Ngón tay trỏ của cậu ta vẫn đặt trên vành cò súng.

"Và tại sao," tôi tiến thêm một bước, trán chạm hẳn vào đầu nòng súng bằng thép nguội ngắt, "trước khi chết năm năm trước, ông ấy lại tự tay mang chiếc thẻ bài quân nhân có khắc mã số tài khoản Thụy Sĩ của Phan Hải Nam lên chôn dưới gốc dã quỳ sau chái bếp Mái ấm Hướng Dương? Ông ấy để lại một hũ tro rỗng trong nghĩa trang Liệt sĩ để đánh lừa Khiêm và Thắng. Ông ấy sống như một kẻ tội đồ suốt mười lăm năm chỉ để chờ ngày có người đào cái hộp kẽm đó lên."

Hoàng đứng bất động. Bàn tay cậu ta bắt đầu run rẩy.

Một tiếng cạch khô khốc vang lên.

Hoàng hạ khẩu K54 xuống, khóa chốt an toàn rồi nhét ngược vào bao da bên hông. Cậu ta lùi lại hai bước, tựa lưng vào dãy tủ sắt số 80, trượt dần xuống sàn nhà đầy bụi bặm và nước mưa.

Cậu ta không khóc. Những kẻ làm lính hình sự quá lâu không còn nước mắt để rơi. Cậu ta chỉ ngồi đó, hai tay ôm lấy đầu, mái tóc ướt sũng rũ rượi chấm gối.

Tôi không an ủi. Trong cái nghề này, an ủi là thứ xa xỉ và vô dụng nhất.

Tôi quay lại bàn, cẩn thận dùng nhíp gắp bản hợp đồng 104-MBE/2004 cho vào chiếc túi ni-lông chống ẩm chuyên dụng, kéo khóa zip ba lớp rồi nhét sâu vào túi trong áo khoác, ngay cạnh chiếc kẹp tóc nhôm của bảo mẫu Mai Lan.

Tiếng còi hú đặc trưng của đoàn xe công vụ từ hướng đường Đinh Bộ Lĩnh bắt đầu dội lại qua màn mưa.

Ánh đèn chớp xanh đỏ quét qua những ô cửa kính vỡ của nhà xe Khu B. Ba chiếc xe SUV màu đen của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và hai xe đặc chủng của Cảnh sát Quân sự bẻ lái lao thẳng vào cổng bến xe, bánh xe nghiến rào rạo trên lớp sỏi ướt.

Thượng tá Đặng Thế Anh bước xuống đầu tiên từ chiếc SUV dẫn đầu. Ông mặc áo mưa sĩ quan màu cỏ úa, tay cầm đèn pin công suất lớn, theo sau là bốn kiểm sát viên cao cấp mang cặp tài liệu niêm phong nghiệp vụ và sáu chiến sĩ quân cảnh bồng tiểu liên báng gấp.

Ánh đèn pin cực mạnh rọi thẳng vào sảnh lưu trữ tủ sắt, soi rõ gã sát thủ đang bị trói gô trên nóc xe bồn ngoài sân và vệt dung môi đen ngòm bị chặn đứng trước khe cửa chớp.

Đặng Thế Anh bước nhanh vào phòng, nhìn lướt qua bãi máu dưới chân tôi, khẩu súng bên hông Lê Hoàng, rồi dừng lại ở ngăn tủ sắt số 104 đang mở toang.

"Tình hình thế nào, Vũ?" Thế Anh hỏi, giọng trầm và dứt khoát.

"Xe bồn mười khối chở ete và hydrocacbon đã bị vô hiệu hóa kíp nổ nhiệt," tôi nói, giọng khàn đặc. "Hai đối tượng thuộc mạng lưới ngầm của Quỹ Viễn Đông đã bị khống chế tại chỗ. Tài liệu gốc Thỏa thuận 104-MBE/2004 nằm ở đây."

Tôi rút chiếc túi ni-lông niêm phong từ trong ngực áo ra, đặt lên bàn sắt trước mặt Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Quân khu đi cùng đoàn.

Vị kiểm sát viên trung niên đeo găng tay cao su y tế, cẩn thận mở túi, soi kính lúp kiểm tra con dấu sáp đỏ mỏ neo kiếm gãy và ba chữ ký ở trang cuối. Ông ngẩng lên, gật đầu với Thượng tá Thế Anh:

"Chứng cứ hoàn toàn nguyên vẹn. Bản thỏa thuận này khớp tuyệt đối với dòng tiền năm mươi triệu đô-la chuyển qua Zurich mà Ban Chỉ đạo Trung ương vừa phong tỏa lúc ba giờ sáng. Lệnh khởi tố pháp nhân ủy thác và phong tỏa toàn bộ quyền khai thác mỏ đất hiếm tại Đồi Thông Xanh đã được Viện trưởng ký phê chuẩn."

Thế Anh quay sang nhìn Lê Hoàng đang ngồi bất động dưới sàn:

"Đội trưởng Lê Hoàng."

Hoàng ngẩng đầu lên. Ánh mắt trống rỗng.

"Báo cáo của đồng chí về sai phạm năm 2004 của cố Thượng tá Lê Văn Bản đã được Cục Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng tiếp nhận," Thế Anh nói chậm rãi. "Hồ sơ xác định rõ Thượng tá Bản ký biên bản dưới áp lực khống chế hồ sơ bệnh án gia đình và đã chủ động bảo vệ nhân chứng sống sót, đồng thời cất giấu dữ liệu mã hóa tài khoản Zurich để phục vụ điều tra sau này. Hội đồng Thẩm định Tư pháp Trung ương đã quyết định: giữ nguyên quân tịch và chế độ liệt sĩ ngành công an đối với cố Thượng tá Lê Văn Bản."

Hoàng không đáp. Cậu ta chỉ nhìn chăm chú vào mũi giày dính đầy bùn cống của mình, bờ vai hơi so lại.

Tôi bước vòng qua bàn, vỗ nhẹ vào vai Hoàng một cái. Một cái chạm dứt khoát của những kẻ vừa cùng nhau đi qua đáy vực.

"Đi thôi," tôi nói cộc lốc. "Ở đây không còn việc của chúng ta nữa."

Tôi quay lưng, bước tập tễnh ra khỏi cửa phòng lưu trữ.

Mưa ngoài sân bến xe đã ngớt hạt, chuyển thành lớp sương mù nhờ nhợ bao phủ lấy những dãy xe khách xếp hàng dài trong bóng tối. Gió từ sông Sài Gòn thổi thốc qua ngã tư Đinh Bộ Lĩnh, mang theo mùi ngai ngái của bùn sình, mùi khói xăng dầu và mùi rác ẩm đặc trưng của thành phố lúc bốn giờ ba mươi sáng.

Tôi rút bao thuốc lá Thăng Long trong túi quần. Vỏ bao bẹp dúm, ướt sũng nước mưa. Rút điếu thuốc gãy đôi ở đầu lọc, tôi dùng chiếc bật lửa ga cũ đánh lửa.

Lách cách.

Ngọn lửa bùng lên rồi tắt ngấm vì gió.

Lách cách. Lần thứ hai.

Đến lần thứ ba, đầu thuốc mới bén lửa, đỏ rực lên trong màn sương mờ. Tôi rít một hơi thật sâu. Khói thuốc khét lẹt xộc vào phổi, kích thích màng phổi tổn thương làm tôi ho rũ rượi, máu tươi lại ứa ra khóe môi.

Tôi quẹt mu bàn tay lau máu, tựa lưng vào cột bê tông loang lổ vết sơn quảng cáo khoan cắt bê tông dưới hiên bến xe.

Chiếc điện thoại Nokia trong túi áo rung lên từng chặp dồn dập.

Màn hình hiển thị số nội bộ của Phân viện Pháp y Quân đội phía Nam.

Tôi bấm nghe, áp máy vào tai. Tiếng rè rè của sóng ngắn hòa lẫn tiếng quạt thông gió công nghiệp chạy ù ù ở đầu dây bên kia.

"Vũ à?"

Giọng Hạ Băng vang lên. Khàn, nhỏ, và lạnh như tảng băng trôi dưới đáy giếng.

"Tôi nghe," tôi nói.

"Xe bồn ở bến xe sao rồi?"

"Xong rồi. Hợp đồng 104-MBE đã bàn giao cho Viện Kiểm sát Tối cao. Xe bồn không nổ."

Đầu dây bên kia im lặng. Một khoảng lặng kéo dài năm giây. Không có tiếng thở phào, không có lời khen ngợi. Chỉ có tiếng kim tiêm kim loại chạm vào khay inox lách cách.

"Đăng... thế nào rồi?" Tôi hỏi, giọng chùng xuống.

"Đã chuyển xuống hầm lạnh B2 lúc không giờ ba mươi," Băng nói, từng từ rành rọt theo đúng quy chuẩn báo cáo tử thi. "Nhiệt độ bảo quản âm bốn độ C. Biên bản giải phẫu tử thi kết luận nguyên nhân tử vong do suy hô hấp tuần hoàn cấp tính trên nền viêm phổi hoại tử do tụ cầu vàng kháng thuốc, biến chứng tràn khí màng phổi áp lực tái phát."

"Còn... vết cứa hình bán nguyệt ở cổ tay phải?"

"Tôi đã dùng chỉ tự tiêu khâu phục hồi biểu bì," giọng Băng phẳng lặng như mặt nước không gợn sóng. "Trong phần ghi chú ngoại thương, tôi ghi: Vết xước nông do tiếp xúc vật sắc nhọn trong quá trình khiêng cáng cứu hộ tại hiện trường Grand Palace Đà Lạt. Mảnh kim loại thu giữ ở hiện trường penthouse The Grand Panorama được phân loại là dị vật môi trường không xác định nguồn gốc."

Tôi nhắm mắt lại. Điếu thuốc trên môi cháy đỏ thêm một đoạn.

"Cảm ơn cô."

"Không cần cảm ơn," Băng nói, giọng dường như xa xăm hơn. "Đăng được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố theo nghi thức công an nhân dân. Hồ sơ lưu trữ mang mã số mật. Thằng bé... không phải chịu bất kỳ bản án tư pháp nào nữa."

"Ừ."

"Còn anh?" Băng đột ngột hỏi.

"Tôi vẫn đứng được."

"Anh nói dối. Với lực va chạm làm gãy rời xương sườn số sáu lúc nãy, khoang màng phổi của anh đang tích tụ ít nhất ba trăm mi-li-lít dịch máu. Nếu trong vòng bốn mươi lăm phút nữa anh không có mặt tại phòng tiểu phẫu của tôi để chọc hút giải áp, quả tim của anh sẽ bị đẩy lệch sang lồng ngực bên phải. Lúc đó thì không có cái xe bồn nào cứu được anh đâu."

"Tôi biết rồi."

"Vũ này."

"Gì?"

"Đừng chết ở cái bến xe rách nát đó. Cà phê ở quán vợt đầu hẻm Đoàn Văn Bơ... tôi mua sẵn rồi. Đang để trên bàn làm việc của anh."

Băng cúp máy cái rụp. Tiếng tút dài khô khốc vang lên trong tai nghe.

Tôi nhìn màn hình điện thoại tối dần. Nhét máy vào túi, tôi ngước nhìn về phía chân trời phía đông. Mảng trời phía sau cầu Bình Triệu bắt đầu ửng lên một vệt sáng màu xám chì bẩn thỉu của một ngày mưa dầm mới.

Thành phố này là thế. Dù đêm qua có bao nhiêu kẻ chết cháy, bao nhiêu bản hợp đồng máu bị phanh phui, bao nhiêu chiếc xe bọc thép bị nổ tung dưới chân đèo, thì đúng năm giờ sáng, những chuyến xe đò chở đầy rau củ, cá ươn và những phận người lam lũ vẫn sẽ nổ máy xình xịch lăn bánh vào bến.

Người giàu tiếp tục đếm những cọc tiền ủy thác trong những tòa cao ốc triệu đô bọc kính chống đạn ở Quận 1. Người nghèo tiếp tục lội qua những dòng nước cống đen ngòm ngập tới đầu gối ở Quận 4 để mua một ổ bánh mì kẹp thịt vụn.

Mái ấm Hướng Dương đã cháy rụi hai mươi năm. Tro tàn đã nguội. Những kẻ châm lửa đã lần lượt vào tù hoặc nằm dưới đất sâu.

Tôi vứt mẩu tàn thuốc xuống vũng nước mưa dưới chân. Tàn lửa xèo một tiếng rồi tắt ngấm.

Tôi bước ra khỏi hiên bến xe, đi về phía chiếc xe bán tải Ford Ranger của mình đang đỗ bên kia đường Đinh Bộ Lĩnh. Mỗi bước đi, lồng ngực trái lại giật thắt lên từng cơn buốt nhói, nhưng bước chân tôi không dừng lại.

Khi tôi vừa mở cửa bước vào buồng lái, chiếc máy radio công vụ gắn trên tap-lo xe bỗng rè lên một chuỗi âm thanh lạ.

Không phải sóng ngắn của Đội Trọng án.

Đó là một dải tần số dân sự được mã hóa đặc biệt, phát ra từ một trạm tiếp sóng đặt tại cảng Tân Cảng - Cát Lái.

Sau ba giây rè đặc, một giai điệu quen thuộc vang lên từ chiếc loa nhỏ bằng lòng bàn tay.

Tiếng hộp nhạc thiếu nhi thập niên 2000. Bài hát của Mái ấm Hướng Dương.

Rồi giai điệu tắt phụt.

Thay vào đó là ba tiếng gõ cơ học khô khốc, chậm rãi, đều đặn vang lên qua màng loa:

Cộc. Cộc. Cộc.

Một giọng nói phụ nữ trẻ tuổi, lạnh lùng, được truyền qua thiết bị lọc âm kỹ thuật số vang lên trong khoang xe kín:

"Đội phó Trần Vũ... Anh nghĩ bản thỏa thuận năm mươi triệu đô-la đó là dấu chấm hết cho trò chơi này sao?"

Tôi siết chặt vô-lăng, bàn tay ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Giọng nói tiếp tục, mang theo một tiếng cười khẽ đầy mỉa mai:

"Người giữ năm mươi phần trăm cổ phần thực tế của Quỹ Viễn Đông... vừa làm thủ tục hải quan bước lên chuyến tàu hàng rời cảng Cát Lái lúc bốn giờ mười lăm sáng nay. Và trên tay người đó... đang cầm cuốn nhật ký gốc năm 2004 của bảo mẫu Nguyễn Mai Lan."

Chiếc radio ngắt sóng cái 'bụp', trả lại không gian yên tĩnh đến rợn người cùng tiếng mưa bắt đầu rơi nặng hạt trên kính chắn gió.

0