Chương 115: Nhát Búa Lúc Rạng Đông
Mùi cống rãnh sình lầy của kênh Tàu Hủ vẫn bám chặt trên lớp vải quần bò ướt sũng. Nó quyện với mùi dầu máy diesel khen khét bốc lên từ gầm chiếc xe thư mật quân sự, tạo thành một thứ không khí đặc quánh, lợm giọng dưới tầng hầm B1 Tòa án Cấp cao.
Tôi tựa lưng vào cột bê tông chịu lực, há miệng đớp từng ngụm khí lạnh. Đầu xương sườn số sáu bên ngực trái lại nghiến vào màng phổi tạng theo từng nhịp thở ngắn, buốt nhói như có ai dí mũi khoan điện vào giữa các thớ thịt. Trong bình áp lực âm ba ngăn mà Hạ Băng đang kẹp chặt bên hông, máu đỏ sẫm lẫn bọt khí lại lục bục dâng thêm một vệt, vượt quá vạch hai trăm hai mươi mi-li-lít.
Năm giờ bốn mươi chín phút sáng.
Màn hình chiếc điện thoại Nokia cũ trong lòng bàn tay tôi vẫn sáng trơ tráo một dòng tin nhắn vừa gửi tới từ đầu số nội bộ Phòng Điều hành An ninh Tòa án: "PHIÊN HỌP KÍN THỦ TIÊU VẬT CHỨNG ĐÃ BẮT ĐẦU TẠI PHÒNG 101 LÚC 05:43. KẺ CẦM BÚA GỖ KHÔNG PHẢI LÀ N.K.T."
Lê Hoàng đứng cách tôi nửa bước, ngón tay cái bàn tay phải bóp chặt lấy báng khẩu K54 lận dưới vạt áo gió màu sẫm. Khớp hàm cậu ta bạnh ra, những đường gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên thái dương.
"N.K.T mang bốn chiếc xe bọc thép chốt dốc cầu Calmette chỉ để giăng màn khói." Tôi khẽ nhổ một ngụm đờm lẫn vệt máu đen xuống sàn xi măng. "Hắn là mồi nhử. Hắn đứng ngoài cổng để chúng ta tưởng rằng trận địa nằm ở bên ngoài, trong khi kẻ phán quyết thực sự đã ngồi trong phòng lạnh từ trước lúc trời sáng."
Bác Tư đứng bên cạnh nắp ca-pô chiếc xe UAZ biển đỏ, bàn tay gầy guộc chằng chịt vết sẹo mảnh siết chặt quai xách chiếc hòm thư mật bằng hợp kim nhôm. Khớp gối kim loại bên chân trái của người thương binh già khẽ phát ra tiếng rít cơ học khô khốc khi ông dồn trọng tâm. Đôi mắt đục ngầu nhìn xoáy vào khoảng tối của hành lang dẫn lên cầu thang thoát hiểm phía tây.
"Phòng một-không-một là phòng nghị án đặc biệt thời Pháp." Giọng Bác Tư khàn đặc, trầm như tiếng đá mài dưới đáy giếng. "Tường gạch đôi dày năm mươi phân, cửa gỗ lim bọc tôn thép chịu lực, không có cửa sổ nhìn ra ngoài. Hai mươi năm trước, bọn chúng cũng ngồi trong căn phòng đó để ký quyết định chuyển mười hai đứa trẻ lên Đơn Dương và xóa tên tôi khỏi danh sách trinh sát."
Hạ Băng luồn tay qua nách áo tôi, ngón tay lạnh ngắt nhưng chuẩn xác ép chặt mối băng thun quanh lồng ngực, ghìm lại sự dịch chuyển của chân ống dẫn lưu silicon hai mươi tám ép.
"Huyết áp của anh tụt xuống bảy mươi rồi." Giọng cô không có cảm xúc, chỉ rành rẽ như đọc một dòng chỉ số bệnh án. "Đầu ống silicon đang rách thêm một phân màng liên sườn. Anh còn đúng mười lăm phút trước khi tràn khí màng phổi ép phẳng hoàn toàn tâm thất trái."
Tôi nhìn cô. Dưới ánh đèn ống huỳnh quang màu vàng nhạt vướng đầy xác thiêu thân của tầng hầm B1, gương mặt Hạ Băng nhợt nhạt, lấm lem bụi than và bùn cống, nhưng ánh mắt sâu thẳm ấy phẳng lặng như mặt nước giếng không đáy. Có một câu nói trồi lên nghẹn ứ ở cuống họng, đắng ngắt vị máu tươi.
Nhưng tôi không nói.
Tôi thò tay vào túi áo ngực, đầu ngón tay chạm vào góc nhọn của chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm bị cháy xém một bên cánh và cạnh cứng của cuốn nhật ký bìa simili năm hai nghìn lẻ bốn. Tôi rút tay ra, bấm nút nguồn tắt màn hình chiếc Nokia, rồi nhếch mép buông một câu khô khốc:
"Mười lăm phút là quá đủ để nghe một tiếng gõ búa."
Lê Hoàng không nhìn tôi. Cậu ta tiến về phía cửa thang bộ thoát hiểm, đưa mũi dao găm dã chiến nạy nhẹ vào lẫy khóa chốt cơ. Tiếng cơ khí cạch một tiếng rất nhỏ trong bóng tối.
"Lối thang máy chuyên dụng từ hầm B1 lên sảnh sau đã bị ngắt điện từ phòng điều khiển." Hoàng nói mà không quay đầu lại. "Hệ thống báo cháy giả được cài đặt để khóa tự động toàn bộ cửa ngăn cháy hành lang tầng một. Chúng ta chỉ có một con đường duy nhất: trục thang chở thức ăn cũ thời thuộc địa nằm sau kho lưu trữ tài liệu giải mật."
Bác Tư gật đầu, ôm chặt chiếc hòm nhôm vào ngực như ôm một bọc súng kẹp nòng:
"Đi theo tôi. Lối đó thông thẳng vào phòng nghỉ của chánh văn phòng phía sau bục thẩm phán Phòng 101."
Chúng tôi di chuyển thành hàng một trong hành lang kỹ thuật ngập mùi ẩm mốc, vôi vữa mục rữa và hơi chuột chết. Những bước chân dẫm trên nền gạch tàu lạnh buốt. Chân trái của tôi bắt đầu mất dần cảm giác vận động, dây thần kinh quay ở cẳng tay trái giật liên hồi theo từng nhịp co thắt. Cứ mỗi lần bước lên một bậc thang hẹp, lồng ngực tôi lại thắt nghẹt như có một bàn tay hộ pháp bóp nghẹt khí quản. Tôi phải cắn chặt môi dưới, dùng vị tanh mặn của máu tươi ứa ra để kéo sự tỉnh táo quay về màng não.
Năm giờ năm mươi ba phút.
Cửa xả của trục tời chở thức ăn cũ bằng sắt tây tróc gỉ nằm nép mình sau tấm rèm nhung đỏ bám bụi dày hàng centimet ở phòng chờ tiếp giáp cánh tả Phòng 101. Qua khe hở rộng hai đốt ngón tay giữa khuôn gỗ và cánh cửa cách âm dày cộp, luồng ánh sáng vàng vọt từ những chùm đèn chùm cổ bên trong phòng họp rọi ra sàn gạch hoa văn chữ vạn.
Mùi khói xì gà nồng nặc quyện với mùi giấy cháy lọt qua khe cửa.
Bên trong phòng họp rộng khoảng sáu mươi mét vuông, một chiếc bàn bầu dục bằng gỗ gõ đỏ bóng loáng đặt ở chính giữa. Bốn người đàn ông mặc âu phục đen ngồi quay lưng về phía chúng tôi, hồ sơ tài liệu trải la liệt trước mặt.
Nhưng người ngồi ở vị trí chủ tọa – chiếc ghế bọc da bò cao nhất đặt dưới bức phù điêu cán cân công lý – không phải là N.K.T.
Đó là một người đàn ông trạc sáu mươi lăm tuổi, mái tóc hoa râm cắt ngắn sát chân tóc theo phong cách nhà binh, mang cặp kính gọng vàng không tròng và khoác trên mình chiếc áo choàng Thẩm phán Tối cao thụ lý các đại án đặc biệt. Bàn tay phải của ông ta thong dong kẹp một điếu xì gà Cohiba đang cháy dở, còn bàn tay trái – với ngón trỏ đeo chiếc nhẫn vàng cẩn mặt đá sa-phia xanh đen – đang cầm chiếc búa gỗ tư pháp bằng gỗ mun gõ nhẹ từng nhịp rất đều lên mặt đệm nỉ.
Cộc. Cộc. Cộc.
Ba nhịp gõ cơ học. Chu kỳ ba nhịp. Dừng một giây. Lại ba nhịp.
Âm thanh đó giống hệt tiếng hạt cát rơi trong chiếc đồng hồ ba mươi phút ở phòng ngủ Thảo Điền, giống hệt nhịp gõ ngón tay trên trần lửng Continental Saigon, và giống hệt tiếng gõ vào không trung của tay súng bắn tỉa trên mái vòm Hangar số Ba.
"Ông Trương Vĩnh Tuyến đã bị Viện Kiểm sát bắt giữ tại khách sạn Rex lúc năm giờ." Giọng người đàn ông ngồi ghế chủ tọa vang lên, trầm tĩnh, phẳng lặng và lạnh lẽo đến mức không mang theo một chút gợn sóng của cảm xúc con người. "Tàu Aurelia đã chìm ở phao số không. Kho ngoại quan Bến Vân Đồn cũng đã sạch sẽ. Hội đồng Giám sát Tư pháp Tối cao họp phiên bất thường hôm nay để công bố Quyết định số không-chín: Toàn bộ mười hai bộ hồ sơ bệnh án và mẫu sinh phẩm tủy sống trích xuất năm 1985 tại Đơn Dương là tài liệu nghiên cứu y học dự phòng thuộc danh mục bí mật nhà nước đã hết thời hạn lưu trữ. Do không có tranh chấp khiếu nại hợp pháp và các nhân chứng ban đầu đều đã từ trần, Hội đồng tuyên bố tiêu hủy toàn bộ bản gốc lưu trữ bằng lò đốt nhiệt dung môi tại chỗ trước sáu giờ sáng."
"Báo cáo Thẩm phán..." Một viên thư ký ngồi ở góc bàn run rẩy cất tiếng. "Còn hồ sơ Chuyên án Cầu Muối năm 2021 và hòm thư mật của Tòa án Quân khu..."
"Không có hồ sơ nào mang tên Cầu Muối ở đây cả." Người đàn ông ngắt lời, giọng dứt khoát như một nhát chém. "Đại úy Nguyễn Tuấn đã hy sinh trong một vụ thanh trừng của tội phạm ma túy cục bộ, hồ sơ đã khép lại theo Quyết định số bốn-không-tám. Tất cả những kẻ bới móc tàn dư quá khứ đều là những kẻ mang tư tưởng thù địch phá hoại sự ổn định của nền kinh tế. Chuẩn bị lò thiêu nhiệt dung môi."
Hai tên cảnh vệ trang bị tiểu liên đứng gác bên cạnh một chiếc lò đốt hình trụ bằng thép không gỉ đặt ở góc phòng. Nắp lò đã bật mở, bên trong ánh lửa màu xanh lơ của ngọn lửa gas công nghiệp đang rít lên từng hồi ngột ngạt.
Trên mặt bàn bầu dục, tập hồ sơ dày cộp mang tiêu đề "DỰ ÁN ĐỊA TẦNG ĐƠN DƯƠNG - NGUYÊN BẢN 1985" cùng mười hai tập hồ sơ mang mã KTS đang được đẩy dần về phía miệng lò.
"Thẩm phán Đặng Trần Nghiêm." Lê Hoàng ghé sát tai tôi, thì thầm qua kẽ răng, từng chữ lạnh buốt. "Anh ruột của Đặng Trần Quang. Nguyên Thường trực Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao phụ trách các vụ án an ninh quốc gia. Kẻ trực tiếp ký bản án tử hình vắng mặt đối với những người lính phát hiện xe bồn kho K-86 năm xưa."
Thì ra là vậy. Một mạng lưới huyết thống và quyền lực khép kín suốt bốn mươi năm. Kẻ ký phê duyệt đất ở Ban An ninh Nội chính, kẻ điều động công an ở Cục Cảnh sát, và kẻ ngồi trên đỉnh cán cân công lý để ra phán quyết tiêu hủy mọi dấu vết khi mạng lưới bị đe dọa.
N.K.T và phân đội SUV bọc thép ngoài cầu Calmette chỉ là con tốt thí đứng ngoài đường gió bụi để che mắt trinh sát, còn Đặng Trần Nghiêm mới chính là lưỡi búa cuối cùng chém đứt mọi hy vọng đòi lại danh dự cho những linh hồn đã khuất.
Năm giờ năm mươi sáu phút.
Đặng Trần Nghiêm nhấc chiếc búa gỗ mun lên cao khỏi mặt bàn ba mươi phân. Ngón tay đeo nhẫn sa-phia siết chặt cán gỗ.
"Nhân danh Hội đồng Giám sát Tư pháp Đặc biệt. Tôi tuyên bố khép lại toàn bộ hồ sơ Chuyên án Đơn Dương..."
Tôi không đợi ông ta dứt câu.
Bàn chân phải của tôi đạp thẳng vào điểm tì cơ học của cánh cửa ngăn cách, đồng thời mũi xà beng mini trên tay tôi chọc thẳng vào khe hở chốt lưỡi gà, giật mạnh một lực dứt khoát sang góc bốn mươi lăm độ.
RẦM!
Cánh cửa gỗ lim bọc thép bung bật ra ngoài, đập mạnh vào vách tường gạch tạo nên một âm vang đanh gọn như tiếng đại bác nổ trong phòng kín.
Khói thuốc xì gà và luồng khí nóng từ lò đốt phả thốc vào mặt tôi.
"ĐỨNG YÊN!"
Lê Hoàng lao ra như một mũi tên xé gió, hai tay giương khẩu K54 khóa chặt vị trí của hai tên cảnh vệ bọc lót bên cạnh lò thiêu. Ánh mắt Hoàng rực lửa, giọng thét của cậu ta làm rung chuyển cả chùm đèn pha lê trên trần nhà: "VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO ĐÃ ĐÌNH CHỈ PHIÊN HỌP! TẤT CẢ BUÔNG VŨ KHÍ XUỐNG SÀN!"
Hai tên cảnh vệ giật mình theo phản xạ định nâng nòng tiểu liên lên, nhưng tiếng rít cơ học khô khốc của chiếc khớp gối kim loại vang lên ngay sau lưng tôi. Bác Tư bước ra, chiếc hòm thư mật bằng hợp kim nhôm mang số hiệu đỏ 80-114-QS được ông đặt dằn mạnh xuống mặt bàn bầu dục bằng gỗ gõ đỏ, chắn ngang giữa tập hồ sơ 1985 và miệng lò thiêu.
Người lính già không rút súng. Ông chỉ từ từ mở vạt áo quân phục bạc màu, để lộ chiếc thẻ thương binh chiến trường hạng một và tấm ảnh chụp chung mười hai người lính trinh sát năm 1985 bị gạch mực đỏ kín mặt.
"Đặng Trần Nghiêm." Bác Tư nhìn thẳng vào mắt vị Thẩm phán Tối cao, giọng trầm và đặc như tiếng sấm gầm dưới đất sâu. "Bốn mươi năm trước, ông ký quyết định đưa tôi vào trại tâm thần vì tôi nhìn thấy chiếc xe bồn chở dầu của em trai ông. Hôm nay, tôi mang toàn bộ tro cốt của những đứa trẻ chết oan về đây để ông tự tay tuyên án trước mặt chúng nó."
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở, chỉ còn lại tiếng rít ma quái của ngọn lửa lò đốt và tiếng thở dốc nặng nhọc của tôi.
Đặng Trần Nghiêm không hề hoảng loạn.
Chiếc búa gỗ mun vẫn nằm yên trên tay ông ta, lơ lửng cách mặt bàn mười phân. Đôi mắt sau cặp kính gọng vàng nhìn lướt qua Lê Hoàng, nhìn qua Bác Tư, rồi dừng lại trên người tôi – một gã thám tử tư tàn tạ, áo sơ mi rách bươm dính đầy bùn cống, lồng ngực cắm một chiếc ống silicon đang rỉ máu và cánh tay trái quấn băng trắng buông thõng tê dại.
Một nụ cười mỏng như lưỡi dao cạo xuất hiện trên khóe môi nhăn nheo của ông ta.
"Trần Vũ." Đặng Trần Nghiêm nhả một ngụm khói xì gà xanh xám vào không khí. "Con trai của Trung tá Trần Viết Hùng. Cậu tưởng rằng mang một chiếc hòm sắt của Tòa án Quân sự bước vào đây là có thể lật ngược được phán quyết của nền tư pháp này sao? Cậu nghĩ công lý là thứ có thể đổi bằng máu của thằng trinh sát Nguyễn Tuấn hay mạng sống của thằng bé Nguyễn Minh Đăng?"
Ông ta khẽ lắc đầu, ánh mắt lạnh tanh không một chút sợ hãi:
"Tất cả những thứ trong chiếc hòm đó – bản thỏa thuận viết tay, cuộn băng Betacam, hay vài mẩu xương cháy vụn – chỉ là đống rác rưởi vô giá trị trước mặt pháp luật nếu không có chữ ký phê chuẩn của người thụ lý cao nhất. Và người đó... chính là tôi. Đúng sáu giờ sáng nay, lệnh giải tán Ban Chuyên án Đặc biệt sẽ được ký điện tử. Các người bước vào đây mà không có lệnh của Viện trưởng, nghĩa là các người đang thực hiện hành vi bạo loạn có vũ trang tại trụ sở cơ quan tư pháp tối cao. Cảnh vệ bên ngoài đã nhận lệnh nổ súng tiêu diệt."
"Ông nhầm rồi, Thẩm phán."
Hạ Băng bước ra từ phía sau cánh cửa gỗ, hai tay cẩn thận đặt một chiếc hộp bảo ôn kim loại bọc ba lớp băng keo vải niêm phong sáp đỏ lên bàn. Cô không nhìn Đặng Trần Nghiêm, chỉ lạnh lùng rút từ túi áo blouse một tờ giấy biên bản giám định pháp y vừa được đóng dấu nổi của Phân viện Pháp y Quân đội phía Nam.
"Đây không phải là hồ sơ bạo loạn." Giọng Hạ Băng đều đều, sắc như dao mổ. "Đây là Biên bản khám nghiệm mẫu ADN trích xuất từ mười hai mẫu tủy sống lưu giữ dưới hầm B4 và mẫu biểu bì móng tay của Phạm Kiến Quốc. Toàn bộ mười hai đứa trẻ năm 1985 và năm 2004 đều mang chung một chuỗi đột biến NST số chín – sản phẩm của việc thử nghiệm hóa chất trái phép do chính tay ông và Đặng Trần Quang ký bảo trợ tài chính từ tài khoản Geneva."
Cô nhìn thẳng vào chiếc búa gỗ mun trên tay ông ta:
"Và mẫu đối chứng sinh học thứ mười ba... không nằm trong lò thiêu của ông. Nó đã được gửi thành công đến Hội đồng Y khoa Quốc tế và Văn phòng Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc từ mười phút trước thông qua trạm vệ tinh của Bộ Quốc phòng."
Nụ cười trên môi Đặng Trần Nghiêm chợt tắt ngấm.
Lần đầu tiên, tôi nhìn thấy những ngón tay gầy guộc đeo nhẫn sa-phia của ông ta khẽ run lên một nhịp cực nhỏ. Điếu xì gà Cohiba kẹp giữa hai kẽ tay rơi xuống mặt bàn gỗ, lăn lông lốc vào gạt tàn pha lê.
"Vô lý..." Đặng Trần Nghiêm lẩm bẩm, quai hàm bạnh ra. "Máy chủ B4 đã bị khóa... Không ai có thể giải mã..."
"Đại úy Nguyễn Tuấn đã giải mã nó từ ba năm trước." Tôi gằn từng tiếng, bước lên một bước, chống mũi xà beng xuống mặt sàn xi măng để giữ cho cơ thể không sụp đổ. Máu trong họng lại ứ lên, tôi nuốt ngược nó xuống ngực. "Tuấn không chết vì ma túy. Tuấn chết vì anh ấy từ chối nhận năm trăm nghìn đô để ký vào biên bản đóng nắp hầm Đơn Dương. Và người ký lệnh rút tổ bọc lót bức tử Tuấn... không chỉ có Bùi Khắc Viễn."
Tôi thò tay vào túi áo, lôi ra chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm bị cháy xém của bảo mẫu Mai Lan, đặt nó nằm ngay ngắn bên cạnh chiếc búa gỗ mun của Đặng Trần Nghiêm.
"Vết sẹo chữ V trên ngón tay Mai Lan không phải do tai nạn." Tôi nhìn xoáy vào mắt ông ta. "Nó là vết cứa khi cô ấy cố giằng lại ống nghiệm mẫu tủy của đứa con ba tháng tuổi từ tay ông tại trạm y tế Đơn Dương đêm mười một tháng mười một năm 1985. Ông đã giữ chiếc kẹp tóc thứ hai này suốt hai mươi năm như một chiến lợi phẩm, đúng không?"
Đặng Trần Nghiêm sững sờ. Ánh mắt ông ta dán chặt vào chiếc kẹp tóc nhôm nhỏ bé, cũ kỹ, nhuốm màu tro tàn nằm cô độc giữa đống văn bản bạc tỷ và con dấu quyền lực.
Đúng lúc đó, chiếc đồng hồ quả lắc kiểu Pháp treo trên vách tường gỗ lim gõ boong một tiếng trầm đục.
Sáu giờ đúng.
RẦM!
Cánh cửa chính của Phòng 101 bị đạp tung ra từ phía hành lang ngoài. Không phải cảnh vệ của Đặng Trần Nghiêm.
Sáu sĩ quan Cảnh sát Quân sự bọc giáp đen, tay lăm lăm súng tiểu liên chuyên dụng ập vào, phong tỏa toàn bộ các góc chết trong phòng. Đi sau họ là Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và Thượng tá Đặng Thế Anh, trên tay cầm Lệnh bắt khẩn cấp đặc biệt số 02 có chữ ký trực tiếp của Thường trực Ban Bí thư.
"Đặng Trần Nghiêm." Tiếng vị Kiểm sát viên cao cấp vang lên đanh thép giữa phòng họp. "Ông bị đình chỉ mọi chức vụ tư pháp và bị bắt tạm giam về các tội danh Phản bội Tổ quốc, Giết người và Thao túng hồ sơ tư pháp đặc biệt nghiêm trọng. Yêu cầu ông buông chiếc búa gỗ và chấp hành mệnh lệnh."
Hai sĩ quan quân cảnh lập tức tiến lên, một người giữ chặt bả vai, người kia vặn trẹo cổ tay Đặng Trần Nghiêm ra sau lưng, tra chiếc còng số tám bằng thép không gỉ sáng loáng vào hai cổ tay ông ta.
Chiếc búa gỗ mun rơi cộp xuống mặt bàn nỉ, lăn lật nghiêng bên cạnh chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm.
Đặng Trần Nghiêm không giãy giụa. Ông ta chỉ ngẩng đầu lên, nhìn trân trân vào Thượng tá Đặng Thế Anh – đứa trẻ mang số hiệu KTS-13 năm xưa – rồi quay sang nhìn tôi, buông một nụ cười cay độc, méo mó:
"Các người bắt được tôi... nhưng bản án này chưa kết thúc đâu, Trần Vũ. Các người nghĩ chiếc búa gỗ này là thứ duy nhất định đoạt số phận của mười hai đứa trẻ sao?"
Tôi không trả lời. Tôi không còn sức để mỉa mai hay phán xét bất kỳ điều gì nữa.
Lê Hoàng bước tới, cẩn thận nhấc chiếc kẹp tóc nhôm của Mai Lan và cuốn sổ công tác của Tuấn thu hồi từ hòm thư mật cho vào túi ni-lông niêm phong vật chứng. Khi đi ngang qua tôi, Hoàng khẽ đặt bàn tay dính máu lên vai tôi, siết nhẹ một cái rồi quay mặt đi chỗ khác. Cậu ta không nói một lời cảm ơn, cũng không có một câu an ủi. Những người lính hình sự chúng tôi hiểu rằng, có những món nợ chỉ có thể trả bằng sự im lặng dài vô tận.
Hạ Băng lập tức kéo tay tôi ngồi xuống chiếc ghế bành bọc nỉ gần cửa xả. Cô rút một ống tiêm giảm đau liều cao đâm thẳng qua lớp vải quần bò vào bắp đùi tôi, rồi nhanh chóng chỉnh lại van áp lực âm của bình hút khí đang tràn đầy bọt máu.
"Đừng cử động." Giọng cô nghẹn lại trong nửa giây, rồi lạnh lùng trở lại ngay lập tức. "Bác sĩ của Bệnh viện Quân y đang mang cáng cứu thương lên. Anh phải vào phòng mổ khâu nối màng phổi trong vòng hai mươi phút nữa."
Tôi dựa đầu vào lưng ghế da, nhắm nghiền mắt lại. Mùi thuốc sát trùng iodine từ bàn tay Hạ Băng phảng phất qua cánh mũi, xua bớt đi phần nào mùi khét lẹt của tro tàn và sình lầy cống rãnh. Cơn đau buốt từ lồng ngực bắt đầu dịu dần dưới tác dụng của mũi tiêm, biến thành một cảm giác tê dại, trôi bồng bềnh như đang chìm xuống đáy sông Soài Rạp.
Tôi đã thắng. Bản thỏa thuận đất hiếm 1985 đã được bảo toàn. Kẻ thủ ác cuối cùng cầm búa gỗ đã bị còng tay. Danh dự của Tuấn, của bảo mẫu Mai Lan, của chị Nhàn và những đứa trẻ Mái ấm Hướng Dương cuối cùng đã được trả lại nguyên vẹn dưới ánh sáng công lý.
Nhưng trong lồng ngực tôi, một khoảng trống rỗng to hoác, lạnh ngắt đang lan ra.
Tôi thò tay vào túi quần, mò mẫm tìm bao thuốc lá Thăng Long quen thuộc.
Bao thuốc đã ướt sũng nước cống, nát bấy thành một cục bùi nhùi nhầy nhụa dưới đáy túi. Bên trong chỉ còn lại đúng một điếu thuốc duy nhất bị gãy đôi từ lúc nào, đầu lọc bẹp dúm dính đầy cặn bùn đen.
Tôi rút nửa điếu thuốc gãy đó ra, ngậm vào môi. Vị thuốc lá khét đắng quyện với vị bùn kênh mặn chát tràn ngập khoang miệng. Tôi lục tìm chiếc bật lửa trong túi áo khoác, nhưng cái bật lửa kim loại đã rơi mất dưới lòng cống ngầm Pasteur từ nửa đêm.
Một bóng người khập khiễng bước tới trước mặt tôi.
Bác Tư đứng đó, lặng lẽ nhìn nửa điếu thuốc gãy trên môi tôi. Ông thò tay vào túi áo ngực quân phục bạc màu, rút ra một chiếc bật lửa Zippo bằng đồng xước mòn góc – kỷ vật chiến trường Tây Nam – rồi bật nắp.
Tách.
Ngọn lửa vàng cam bùng lên, soi rõ những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh đất cày trên gương mặt người cựu binh già.
Tôi ghé đầu lọc điếu thuốc vào ngọn lửa, rít một hơi thật sâu. Khói thuốc nóng rực tràn vào cuống họng, làm rách toạc vết thương màng phổi, nhưng tôi không ho. Tôi giữ luồng khói đắng ngắt ấy trong phổi nửa nhịp, rồi từ từ nhả ra một làn khói mỏng bay lơ lửng về phía bức phù điêu cán cân công lý trên tường.
"Cảm ơn Bác Tư." Tôi thì thầm.
Người thương binh già không nói gì. Ông gập nắp bật lửa cái cách, nhìn tôi lần cuối rồi quay người tập tễnh bước theo đoàn xe áp giải của Viện Kiểm sát đang rời khỏi sảnh tòa án.
Đúng lúc đó, trong túi áo ngực của tôi, chiếc điện thoại Nokia cũ lại rung lên bần bật một nhịp dài.
Tôi nhíu mày, từ từ rút máy ra khỏi túi. Màn hình đơn sắc nhấp nháy một tin nhắn văn bản vừa được gửi tới lúc sáu giờ mười lăm phút sáng.
Người gửi không phải là Tí Bo. Cũng không phải đầu số của Viện Kiểm sát hay Bộ Công an.
Đó là một số máy lạ có mã vùng quốc tế từ Thụy Sĩ: +41-22-819-xxxx.
Tôi bấm phím mở tin nhắn.
Dòng chữ vỏn vẹn hai câu hiện lên trên nền màn hình xanh lơ:
"BẢN ÁN CỦA ĐẶNG TRẦN NGHIÊM CHỈ LÀ PHẦN NỔI CỦA TẢNG BĂNG, TRẦN VŨ. HÃY ĐẾN NGĂN KÉO SỐ MƯỜI BA TẠI NHÀ XÁC ĐA PHƯỚC TRƯỚC BẢY GIỜ SÁNG... NGƯỜI NẰM TRONG ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ PHẠM KIẾN QUỐC."
Tôi sững sờ. Điếu thuốc lá gãy trên môi rơi tuột xuống vạt áo sơ mi rách, tàn lửa đỏ lụi tắt trên nền gạch hoa lạnh buốt.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.