Chương 80: Phần Cơm Cháy Dưới Đáy Nồi
Mùi cồn đỏ quyện với mùi rỉ sắt của máu khô trong bình áp lực âm đặt dưới chân giường.
Tôi mở mắt. Trần nhà bê tông xám xịt của phòng hồi sức Bệnh viện Quân y 175 có một vệt ố nước loang lổ hình con thằn lằn cụt đuôi. Mỗi nhịp thở là một nhát búa nện thẳng vào mạn sườn trái. Bốn chiếc nẹp titan và tám con vít y tế vừa được khoan thẳng vào xương sườn số sáu của tôi ba tiếng trước. Ống dẫn lưu silicon cắm sâu vào ngách sườn hoành rít lên từng tiếng ục ục khô khốc mỗi khi tôi rướn người.
Cánh tay trái từ khuỷu trở xuống vẫn tê dại như một khúc gỗ ngâm nước. Nhánh nông thần kinh quay bị lưỡi dao gốm tiện đứt chưa thể hồi phục ngay.
Chiếc điện thoại Nokia đời cũ đặt trên tủ đầu giường rung bần bật. Màn hình đơn sắc chớp sáng, hiện lên tin nhắn từ số nội bộ Khoa Cấp cứu Hồi sức Tích cực Bệnh viện Chợ Rẫy.
Tôi với tay cầm lấy. Cơn đau co rút từ cơ hoành xé toạc lớp băng thun quấn chặt ngực.
"Bệnh nhân Đặng Thị Nhàn. Ngừng tim lúc 17:30. Ống nội khí quản bị rút cơ học. Vật chứng tại hiện trường: một bật lửa Zippo trắng khắc chữ 'Chị đã xong phần cơm cháy'."
Tôi nhìn chằm chằm vào tám chữ đó. Mắt cay xè vì hơi thuốc mê còn sót lại trong cuống họng.
Cửa phòng bật mở. Tiếng đế giày da quân đội nện dứt khoát trên sàn gạch tàu. Lê Hoàng bước vào, gương mặt sạm đen vì gió biển Cần Giờ và sương mù Lâm Đồng, khóe mắt trũng sâu những sợi gân máu đỏ quạch. Theo sau anh là Hạ Băng. Cô mặc áo blouse trắng khoác ngoài chiếc áo sơ mi đen nhàu nhĩ, tay xách chiếc túi cứu thương dã chiến bằng da thuộc đã sờn bốn góc.
Hoàng không nhìn tôi. Anh rút một điếu Thăng Long, kẹp vào kẽ ngón tay nhưng không châm lửa. Ở đây là phòng hồi sức dã chiến, khói thuốc sẽ kích hoạt hệ thống báo cháy tự động.
"Chợ Rẫy thế nào rồi?" Tôi hỏi, giọng đặc quánh như có bùn đáy cống dính trong cổ họng.
"Niêm phong phòng cấp cứu số 3 từ mười lăm phút trước," Hoàng nói, giọng lạnh tanh như thép nguội. "Kẻ ra tay đi từ lối thang thoát hiểm của khoa truyền nhiễm. Camera hành lang bị xịt sơn đen đúng hai phút trước khi máy thở báo động tụt áp suất. Hắn không chạm vào bất kỳ thứ gì khác trên giường bệnh. Chỉ tháo van cố định, rút ống thở, đặt chiếc quẹt máy lên ngực chị Nhàn rồi đi."
Hạ Băng bước lại mép giường, không nói một lời. Bàn tay cô lạnh ngắt luồn xuống dưới lớp chăn mỏng, kiểm tra van một chiều của bình áp lực âm. Đầu ngón tay cô chạm vào mép băng thun cố định vết mổ liên sườn của tôi, dứt khoát và chuẩn xác.
"Mạch chín mươi, huyết áp một trăm trên sáu mươi," Băng nói, mắt nhìn vào vạch đo dịch màng phổi màu hồng nhạt. "Anh vừa thoát chết trên bàn mổ mở ngực ba tiếng. Đừng nghĩ đến chuyện rời khỏi cái giường này."
"Nhàn là người sống sót duy nhất nhìn thấy toàn bộ danh sách bọn trẻ trước khi ngọn lửa bùng lên," tôi cắn chặt môi dưới, vị mặn tanh của máu tươi rỉ ra giúp đầu óc tỉnh táo lại. "Đăng chết rồi. Yến bị còng tay. Bây giờ Nhàn bị rút ống thở. Đây không phải là trả thù. Đây là dọn rác."
"Hồ sơ ở kho K-4 Tòa án Tối cao bị lấy mất lúc mười hai giờ hai mươi trưa," Hoàng đút hai tay vào túi áo khoác gió, tựa lưng vào mép cửa sổ chớp gỗ. "Quyết định số 11/QĐ-UB về việc cho nhận con nuôi đặc biệt. Đứa trẻ thứ mười ba rời Mái ấm Hướng Dương vào đêm mười tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn. Bốn mươi tám tiếng trước khi xe bồn năm nghìn lít dầu diezen đổ vào chái bếp. Kẻ ký bảo lãnh tư pháp mang mã hiệu KTS-01."
Tôi nhắm mắt lại. Trong bóng tối sau mí mắt, từng mảnh ghép của vụ án xoay tròn như những chiếc răng cưa han rỉ.
Phạm Kiến Quốc bị siết cổ ở penthouse. Ngô Bách Hưng chết bẹp dưới xe bồn ở Hàng Xanh. Đinh Trọng Phúc cháy rụi trên ghế sắt Rạch Lăng. Huỳnh Trí Cao trúng xyanua trong biệt thự Thảo Điền. Đỗ Khắc Khiêm, Trịnh Văn Phát, Tướng Cửu, Mai Viết Toàn, Bùi Khắc Viễn... tất cả đều là những con tốt và những kẻ đao phủ của một guồng máy khổng lồ nhằm thâu tóm mỏ đất hiếm hai phẩy năm tỷ đô la.
Nhưng Đăng - trước khi trút hơi thở cuối cùng trong căn phòng áp lực âm ở Nhà Bè - đã dùng mẩu than củi viết lên góc sổ tay một dòng cảnh báo: "Đừng tin bức ảnh số một".
Bức ảnh chụp ngày mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn chỉ có mười hai đứa trẻ. Chị Nhàn mười chín tuổi bế đứa trẻ sơ sinh chia cơm cháy cho thằng bé Đen năm tuổi. Người chụp ảnh bị gạch mặt bằng mực bút máy xanh công vụ.
Nếu đêm mười tháng mười một đã có một đứa trẻ được đưa đi bí mật bằng một quyết định tư pháp giả mạo, thì đứa trẻ sơ sinh mà chị Nhàn bế trên tay vào ngày hôm sau... là ai?
"Tôi cần gặp ông Bản," tôi chống tay phải xuống nệm, nghiến răng đẩy cả thân người ngồi dậy.
Một cơn đau nhói như xé toạc lồng ngực làm hơi thở tôi tắc nghẽn ở thanh quản. Đầu xương sườn số sáu nẹp vít nghiến vào màng phổi tạng. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán, chảy dọc sống mũi rơi xuống mép ga trải giường màu cháo lòng.
Hạ Băng đưa tay giữ chặt vai tôi. Ánh mắt cô không giận dữ, chỉ phẳng lặng như mặt hồ đá sau cơn mưa đêm.
"Ống dẫn lưu sẽ bị tuột nếu anh cử động mạnh," giọng cô trầm xuống nửa tông. "Tràn khí màng phổi tái phát ở cự ly này, xe cấp cứu chạy không kịp qua cầu Sài Gòn đâu."
"Băng," tôi nhìn thẳng vào mắt cô, giọng khàn đặc. "Hai mươi năm trước, có một đứa trẻ bị mang ra khỏi ngọn lửa. Ba năm trước, Tuấn chết vì chạm vào cái bóng của nó. Nếu hôm nay tôi nằm đây chờ rút ống dẫn lưu, ngày mai sẽ có thêm một cái xác nữa trôi dạt vào bãi bùn sông Soài Rạp."
Hạ Băng không đáp. Cô nhìn tôi trong đúng ba giây. Rồi cô cúi xuống, rút trong túi cứu thương ra một ống tiêm thủy tinh chứa dung dịch giảm đau Morphine và một cuộn băng thun y tế loại dày.
Cô bẻ ống thuốc cái tách, cắm kim tiêm qua nắp cao su. Mũi kim lạnh buốt đâm vào bắp tay phải của tôi. Một luồng hơi ấm mơ hồ lan dần qua các thớ cơ đang co quắp, đẩy lùi cơn đau buốt xuống dưới đáy nhận thức.
"Nửa tiếng," Băng cất ống tiêm rỗng vào hộp kim loại, giọng sắc như dao mổ. "Thuốc chỉ cầm cự được nửa tiếng. Sau đó, nếu bình hút áp lực âm đầy máu, tôi sẽ tự tay khóa van lại."
Hoàng không nói gì, chỉ bước tới, nhấc chiếc bình áp lực âm ba ngăn bằng nhựa mica trong suốt lên, kẹp vào móc sắt bên hông dây thắt lưng quân dụng của anh.
Chúng tôi rời khỏi Bệnh viện Quân y 175 trên chiếc xe bán tải của Đội Trọng án.
Mưa tháng Bảy quất xối xả vào kính chắn gió. Thành phố về chiều nghẹt thở trong khói xe và mùi cống rãnh ngập triều cường ở ngã tư Phú Nhuận. Những tòa cao ốc bọc kính phản chiếu ánh đèn neon nhấp nháy như những khối vàng khổng lồ đặt giữa một bãi sình lầy nhớp nháp.
Xe rẽ vào cổng Nhà khách Bộ Tư lệnh Quân khu 7 trên đường Lê Văn Sỹ. Hai chiến sĩ Vệ binh mang súng tiểu liên báng gấp đứng gác dưới mái hiên xi măng, kiểm tra giấy công vụ đặc biệt của Viện Kiểm sát Tối cao rồi kéo rào chắn sắt.
Căn phòng 204 nằm ở cuối dãy hành lang tầng hai. Không khí nồng nặc mùi thuốc lá lá và mùi cao su xông ẩm mốc của những dãy nhà xây từ thập niên tám mươi.
Thượng tá Lê Văn Bản ngồi bên chiếc bàn gỗ lim cũ kỹ, dưới ánh sáng vàng đục của bóng đèn sợi đốt sáu mươi oát. Ông mặc bộ quân phục bạc màu không gắn quân hàm, mái tóc hoa râm cắt ngắn để lộ vết sẹo lõm sâu bên thái dương trái - vết tích của vụ tai nạn lao xe giả chết ở đèo Chuối năm năm trước.
Trên bàn là một tập giấy pơ-luya viết tay dày cộp bản giải trình cho Viện Kiểm sát Tối cao, một chiếc gạt tàn bằng vỏ đạn pháo chứa đầy tàn thuốc và một cốc trà xanh nguội ngắt đóng váng đen.
Khi cánh cửa mở ra, ông Bản không ngẩng lên ngay. Ngón tay trỏ của ông gõ nhẹ ba nhịp xuống mặt bàn gỗ.
Cộc. Cộc. Cộc.
Âm thanh kim khí khô khốc ấy làm lồng ngực tôi thắt lại một nhịp.
Hoàng đặt chiếc bình dẫn lưu màng phổi của tôi xuống sàn gạch cạnh chân bàn, rồi đứng tựa vào khung cửa, tay phải đặt hờ lên bao súng ngắn bên hông.
Tôi kéo chiếc ghế gỗ đối diện ông Bản ngồi xuống. Mũi ống silicon cọ vào khoang màng phổi làm tôi phải nuốt một ngụm khí lạnh vào cuống họng.
Tôi rút chiếc quẹt Zippo màu trắng bọc trong túi nilon vật chứng đặt lên mặt bàn, đẩy về phía trước. Kế bên đó là bông hoa dã quỳ bằng vải dù dù thêu số La Mã XIII thu hồi từ kho lưu trữ K-4.
"Đặng Thị Nhàn vừa chết lúc mười bảy giờ ba mươi tại Chợ Rẫy," tôi nói, giọng phẳng lặng.
Bàn tay đang cầm bút máy Trường Sơn của ông Bản khựng lại giữa không trung. Một giọt mực xanh thẫm rơi xuống mặt giấy pơ-luya, loang ra như một vết máu đông.
Ông không ngẩng đầu lên, nhưng thớ thịt bên quai hàm gầy guộc giật nhẹ một cái.
"Con bé Nhàn..." ông thì thào, giọng khàn đục như tiếng đá cọ vào đáy giếng cạn. "Hai mươi năm nằm liệt giường, ăn qua ống xông... vậy mà chúng nó vẫn không tha."
"Ai là người đã rút hồ sơ Cho Nhận Con Nuôi số 11 ở kho K-4 trưa nay?" Tôi hỏi, mắt khóa chặt vào những nếp nhăn sâu hoắm trên trán người đàn ông đối diện. "KTS-01 là ai?"
Ông Bản đặt cây bút máy xuống. Ông ngước mắt lên nhìn tôi, rồi nhìn sang Lê Hoàng đang đứng im như một pho tượng đá bên bậu cửa. Ánh mắt của một người lính già từng chôn xác đồng đội ở biên giới Tây Nam chỉ còn lại sự trống rỗng đến cùng cực.
"Anh Vũ," ông Bản cất giọng, chậm rãi từng từ. "Anh nghĩ vụ cháy Mái ấm Hướng Dương đêm mười hai tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn bắt đầu từ lúc nào?"
"Hai can xăng mười lít của Đinh Trọng Phúc và năm nghìn lít dung môi công nghiệp do xe bồn của công binh chở vào lúc một giờ ba mươi sáng," tôi đáp.
"Sai rồi."
Ông Bản lắc đầu. Ông với tay lấy bao thuốc lá Thăng Long dẹt dúm trên bàn, rút một điếu nhưng không châm, chỉ đưa lên mũi ngửi mùi thuốc lào khét lẹt.
"Ngọn lửa thực sự đã được châm ngòi từ mười tháng trước đó," ông Bản nói, mắt nhìn vào khoảng không vô định trên bức tường quét vôi vàng. "Khi kết quả khoan thăm dò địa chất đầu tiên ở chân đồi Robin khẳng định bên dưới nền đất của trại trẻ là vỉa quặng đất hiếm có trữ lượng lớn nhất Đông Dương. Lúc đó, Mái ấm Hướng Dương không còn là nơi cưu mang những đứa trẻ mồ côi nữa. Nó trở thành một cái gai cắm thẳng vào yết hầu của ba nhóm lợi ích."
"Nhóm thứ nhất là bọn tư bản đỏ do Võ Khang và Phạm Kiến Quốc cầm đầu muốn hợp thức hóa mặt bằng đô thị," tôi tiếp lời. "Nhóm thứ hai là nhóm quan chức tham nhũng như Đỗ Khắc Khiêm, Phan Hải Nam và Nguyễn Khắc Thắng. Còn nhóm thứ ba?"
"Nhóm thứ ba là những kẻ nắm giữ bí mật quốc phòng," ông Bản thở dài một hơi dài, lồng ngực lép kẹp phập phồng sau lớp áo lính cũ. "Năm hai nghìn lẻ bốn, việc cấp phép khai thác khoáng sản chiến lược không thể thông qua cấp tỉnh. Nó đòi hỏi một chữ ký bảo chứng tuyệt mật từ Ủy ban Thẩm định Kỹ thuật Sĩ quan Trung ương. KTS... không phải tên người. Đó là ký hiệu viết tắt của 'Khối Trinh Sát Kỹ Thuật Đặc Biệt - Cục 01'."
Căn phòng rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở. Tiếng quạt trần cũ kỹ quay kẽo kẹt trên đầu nghe như tiếng xích sắt miết vào bản lề rỉ sét.
"Người mang mã KTS-01 là ai?" Hoàng lên tiếng từ phía sau lưng tôi, giọng anh khàn đặc nhưng đanh thép.
Ông Bản quay sang nhìn con trai mình. Khóe mắt ông giật giật.
"Đêm mười tháng mười một năm đó," ông Bản chậm rãi nói, "chính tôi là người lái chiếc xe U-oát biển số 49A-0088 lên đồi Hướng Dương lúc hai mươi ba giờ đêm. Đi cùng tôi không phải là trinh sát của tỉnh, mà là một cán bộ thẩm tra mang lệnh điều động khẩn cấp có chữ ký tươi của lãnh đạo Bộ. Lệnh bàn giao một đứa trẻ sơ sinh ba tháng tuổi ra khỏi mái ấm để đưa về cơ sở bảo bọc đặc biệt tại Hà Nội."
"Đứa trẻ đó là ai?" Tôi hỏi dồn, ngón tay bấu chặt vào mép bàn gỗ để chống lại cơn đau đang dội ngược lên từ vết khâu màng phổi.
"Nó không có tên trong sổ khai sinh địa phương," ông Bản nói, giọng chùng xuống như một lời tự thú trước tòa án binh. "Mai Lan sinh nó ra trong trạm xá của huyện Đơn Dương. Cha của đứa trẻ... không phải là Nguyễn Khắc Thắng như cuốn giấy khai sinh giả số 114 ghi lại. Thắng chỉ là kẻ đứng tên hợp thức hóa để che đậy cho cấp trên của hắn."
Tôi sững người.
Một mắt xích sai lầm khủng khiếp vừa nứt toác trong đầu tôi.
Bản gốc Giấy khai sinh số 114 mà Thắng đốt trong gạt tàn pha lê tại phòng 308 Thành ủy... chỉ là một tấm bình phong. Thắng nhận đứa trẻ làm con để đổi lấy chiếc ghế Trưởng ban Nội chính và sự thăng tiến suốt hai mươi năm.
"Cha đẻ thực sự của đứa bé thứ mười ba là ai?" Tôi gặng hỏi.
"Người đàn ông trong bức ảnh số một," ông Bản nhìn thẳng vào mắt tôi. "Kẻ cầm máy ảnh Zenit đứng ngược sáng trước van cấp nước sinh hoạt, người bị gạch mặt bằng mực bút máy xanh lam. Ông ta chính là Thiếu tướng Phạm Gia Bảo - cựu Cục trưởng Cục Tình báo Kỹ thuật, người trực tiếp chỉ huy dự án thăm dò mỏ đất hiếm thời điểm đó. Và KTS-01... chính là chữ ký nghiệp vụ duy nhất của ông ta."
Lớp sương mù bao phủ toàn bộ đại án hai mươi năm bỗng chốc bị xé toạc ra một lỗ hổng đen ngòm.
"Phạm Gia Bảo đã chết trong một vụ nổ kho vũ khí ở Cam Ranh năm hai nghìn lẻ sáu," Hoàng nói, bước tới một bước, bàn tay anh siết chặt lấy báng súng ngắn. "Hồ sơ lưu trữ của Bộ ghi nhận ông ta hy sinh khi làm nhiệm vụ."
"Bảo không chết vì nổ kho," ông Bản cười nhạt, một nụ cười chua chát đến gai người. "Bảo bị diệt khẩu sau khi từ chối ký lệnh chuyển nhượng ba mươi phần trăm quyền khai thác ngầm cho Quỹ Viễn Đông tại Zurich. Nhưng trước khi chết, Bảo đã kịp gửi đứa con ruột duy nhất của mình đi. Đêm mười tháng mười một, tôi bế đứa bé đó từ tay con bé Nhàn đặt vào thùng xe U-oát. Nhàn khóc, nhét vào bọc tã của nó một nắm cơm cháy gói trong lá chuối tiêu... dặn tôi đưa thằng nhỏ đi trốn thật xa."
Khoảnh khắc đó, một mũi kim vô hình đâm xuyên qua lồng ngực tôi. Không phải là cơn đau của xương sườn gãy hay màng phổi rách.
Đó là hình ảnh một cô gái mười chín tuổi, đứng giữa sân trại trẻ mịt mù sương lạnh Đà Lạt hai mươi năm trước, gom từng mảng cơm cháy dưới đáy nồi gang gói vào manh lá chuối cho một đứa trẻ sơ sinh không có tên trên cõi đời này.
Tôi nhìn chiếc Zippo trắng nằm trên mặt bàn. Dòng chữ khắc thô ráp bằng mũi dao nhọn: "Chị đã xong phần cơm cháy".
Kẻ giết chị Nhàn ở Chợ Rẫy chiều nay... không phải là tay sai của Quỹ Viễn Đông. Hắn không đến để bịt miệng nhân chứng. Hắn đến để giải thoát cho người duy nhất từng cho hắn hơi ấm trước khi địa ngục trần gian bùng lên.
Hắn chính là đứa trẻ thứ mười ba.
"Thằng bé đó hiện giờ ở đâu?" Tôi hỏi, giọng tôi run lên một nhịp rất khẽ mà chính tôi cũng không nhận ra.
Ông Bản nhìn tôi, rồi nhìn sang Hạ Băng đang đứng lặng lẽ bên cạnh bình dẫn lưu dịch màng phổi.
"Hai mươi năm qua, nó không sống bằng cái tên Phạm Gia hay Nguyễn Mai," ông Bản thì thầm. "Nó được một gia đình sĩ quan an ninh ở Gia Lai nhận nuôi. Nó thi đỗ thủ khoa Đại học Cảnh sát Nhân dân với số điểm tuyệt đối về kỹ thuật hình sự và trinh sát thực địa. Ba năm trước, chính nó là người đã cung cấp bản đồ luồng hàng hải vịnh Gành Rái cho Đại úy Nguyễn Tuấn trước khi Tuấn bước vào hẻm Cầu Muối."
Một tiếng sấm rền vang ngoài trời. Cơn mưa dầm tháng Bảy trút xuống mái tôn nhà khách nghe như tiếng hàng ngàn viên đạn chì gõ dồn dập.
"Nó là ai?" Hoàng quát lên, hơi thở anh dồn dập.
Ông Bản cúi đầu, bàn tay run rẩy mở ngăn kéo bàn gỗ, rút ra một tấm ảnh thẻ bốn nhân sáu đã ố vàng một góc. Tấm ảnh chụp một thiếu niên mang quân hàm Trung úy trẻ măng, có đôi mắt sáng lạnh như dao và một vết bớt đỏ mờ mờ sau gáy.
"Trần Khắc Định," ông Bản nói từng tiếng một, rõ ràng và dứt khoát như một bản án tử hình. "Tên hiện tại trong hồ sơ của Cục Tổ chức Cán bộ là Thượng tá Đặng Thế Anh - người vừa tiếp quản chức Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh."
Tôi chết lặng.
Chiếc bình áp lực âm dưới chân tôi rung lên một tiếng ục. Một dòng máu đỏ tươi từ khoang màng phổi trào ngược qua ống silicon, nhuộm đỏ ngăn chứa thứ nhất.
Thế Anh. Người chỉ huy tiếp quản hiện trường Continental Saigon. Người điều động lực lượng phong tỏa tàu nước ngoài ở vịnh Gành Rái. Người trực tiếp tống đạt lệnh bắt giữ Trịnh Văn Phát, Mai Viết Toàn, Bùi Khắc Viễn và Tướng Cửu.
Kẻ đứng sau toàn bộ các cuộc thảm sát dọn sạch bàn cờ... chưa từng trốn trong bóng tối.
Hắn đang mang quân hàm Thượng tá, ngồi ngay tại chiếc ghế quyền lực cao nhất của Phòng Cảnh sát Hình sự số 45 Phan Đăng Lưu.
Và ngay lúc này, toàn bộ hồ sơ gốc, tang vật va-ly titan của Quỹ Viễn Đông và thi thể của các nạn nhân... đều đang nằm trọn vẹn trong tay hắn.
Chiếc điện thoại Nokia trên bàn lại rung lên. Một tin nhắn SMS mới từ số máy trực ban của Phòng Cảnh sát Hình sự:
"Hồ sơ Chuyên án 1104 đã được bàn giao đầy đủ cho Viện Kiểm sát Tối cao. Chuyến xe áp giải can phạm cuối cùng sẽ rời trụ sở số 45 Phan Đăng Lưu lúc hai mươi giờ đêm nay. Đến uống với tôi một ly trà trước khi xe lăn bánh, Đội phó Trần Vũ."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.