Giao Lộ Mờ Sương

Chương 85: Sóng Ngắn 104.88

Đăng: 23/08/2026 15:25 3,384 từ 1 lượt đọc

Mùi dầu phản lực khét lẹt xộc thẳng vào cuống họng tôi qua cửa lùa chiếc trực thăng Mi-171 của Trung đoàn 917.

Gió biển quất rát mặt. Hơi nước mặn chát cuốn theo luồng gió từ cánh quạt khổng lồ đang chém rách màn đêm đen đặc phía trên vịnh Gành Rái. Dưới chân chúng tôi, thành phố Vũng Tàu chỉ còn là một vệt sáng mờ nhạt lùi dần về phía sau. Phía trước, ngoài đường cơ sở, là một khoảng tối đen ngòm không đáy của hải phận quốc tế.

Đồng hồ trên bảng điều khiển buồng lái nhấp nháy ánh sáng xanh lục: 23:12.

Còn đúng mười tám phút trước khi tàu Hải Đăng 09 vượt qua ranh giới mười hai hải lý.

Tôi ngồi tựa lưng vào khung sườn kim loại lạnh ngắt của khoang máy bay. Mỗi lần chiếc trực thăng chao nghiêng theo luồng gió xoáy, đầu xương sườn số sáu gãy lìa lại nghiến vào màng phổi trái. Cơn đau sắc lẹm, buốt tận chân răng. Liều Morphine Hạ Băng tiêm ở Chí Hòa bắt đầu nhạt dần, để lại một cảm giác tê dại ẩm ướt trong lồng ngực. Bình dẫn lưu ba ngăn đặt dưới sàn thép rung bần bật, từng bọt khí đỏ sẫm sủi tăm đều đặn qua lớp nước muối vô trùng.

Hạ Băng quỳ gối bên cạnh, một tay giữ chặt thân bình dẫn lưu, tay kia đặt lên cổ tay trái quấn băng trắng của tôi. Ngón tay cô lạnh ngắt, nhưng mạch đập ở đầu ngón tay thì dứt khoát.

Cô không nhìn tôi. Mắt cô dán vào ống nhựa silicon dẫn máu từ mạn sườn tôi ra ngoài.

"Mạch chín mươi hai," cô nói, giọng bị tiếng gầm của động cơ cánh quạt nuốt gần hết. "Huyết áp đang tụt. Nếu anh không ngồi yên để cơ ngực nghỉ, van dẫn lưu sẽ nghẹt bọt máu."

Tôi không trả lời. Tôi nhổ một bớp bọt tanh ra sàn sắt, dùng mu bàn tay quệt ngang khóe môi nứt nẻ.

Màn hình chiếc Nokia đời cũ trong lòng bàn tay tôi vẫn sáng trơ tráo dòng chữ nhận được trước khi rời cổng Chí Hòa:

TÀU HẢI ĐĂNG KHÔNG CHÍN KHÔNG CÓ THỦY THỦ ĐOÀN. NÓ LÀ MỘT KHỐI THUỐC NỔ.

Lê Hoàng ngồi đối diện, hai chân kẹp chặt chiếc máy thông tin vô tuyến sóng ngắn quân sự vừa được điều động khẩn cấp từ kho vũ khí Bộ Tư lệnh. Cậu ta đeo ống nghe một bên tai, tay thoăn thoắt kiểm tra các giắc cắm tín hiệu vào ăng-ten định hướng gắn ngoài thân máy bay. Khẩu K59 cài bên hông rung lên bần bật theo nhịp xóc của sàn trực thăng.

"Thượng tá Thế Anh," Hoàng ngẩng lên, nói qua micro nối với buồng lái. "Radar dẫn đường của Biên phòng Vũng Tàu đã bắt được mục tiêu chưa?"

Từ ghế phụ phía trước, Thượng tá Đặng Thế Anh quay người lại. Chiếc áo gió cảnh sát của ông ướt đẫm nước mưa từ lúc rời trại giam. Gương mặt ông đanh lại như một khối đá hoa cương dưới ánh đèn đỏ buồng lái. Khẩu CZ-75 mang số hiệu KTS-01 của cha ông - khẩu súng từng bắn xuyên tim Tuấn ba năm trước - nằm im lìm trong bao da mở chốt bên hông.

"Tọa độ 10 độ 18 phút Bắc, 107 độ 08 phút Đông," Thế Anh nói dằn từng tiếng qua hệ thống đàm thoại nội bộ. "Cách chúng ta sáu hải lý. Nó đang chạy trôi dạt với tốc độ mười bốn hải lý một giờ, hoàn toàn tắt đèn hành hải và ngắt hệ thống nhận dạng tự động AIS. Trực thăng không thể hạ cánh tiếp cận."

"Tin nhắn nặc danh nói đúng," tôi mở miệng, giọng khàn đặc như có cát cọ trong thanh quản. "Không có thủy thủ đoàn nào lái con tàu đó cả. Hệ thống bánh lái tự động đã bị khóa cứng theo hải trình lập trình sẵn sang vùng biển quốc tế. Chúng biến con tàu thành một cái bẫy cảm tử. Bất kỳ ai tìm cách đổ bộ dây đu từ trực thăng xuống boong tàu để chiếm máy chủ đều sẽ kích hoạt ngòi nổ áp suất."

Lê Hoàng siết chặt quai máy vô tuyến. Ánh mắt cậu ta tối sầm lại.

"Chúng không định giữ lại máy chủ," Hoàng lẩm bẩm. "Chúng chỉ cần máy chủ phát sóng đủ thời gian để đẩy gói dữ liệu mỏ đất hiếm và danh sách mười chín tài khoản ủy thác sang vệ tinh quốc tế trước hai mươi ba giờ ba mươi. Sau khi gói tin cuối cùng được truyền đi, khối thuốc nổ sẽ tự kích hoạt để xóa sạch mọi dấu vết phần cứng dưới đáy biển sâu bốn mươi mét."

"Một mũi tên trúng hai đích," tôi nói, ngón tay lần vào túi áo ngực, chạm vào cuốn sổ tay dù mục nát của Tuấn lấy ra từ hộp tang vật 408. "Vừa tẩu tán dữ liệu ra nước ngoài hợp thức hóa quyền khai thác cho Quỹ Viễn Đông, vừa biến bất kỳ lực lượng hành pháp nào bám đuổi thành tro bụi."

Gió lùa qua khe cửa rít lên từng hồi buốt lạnh. Tôi mở ba trang cuối cuốn sổ công tác của Tuấn dưới ánh đèn pin mini.

Những dòng chữ viết tay bằng bút bi xanh đã nhòe nước nhưng nét gạch chân kép dưới dãy ký tự vẫn hằn sâu vào mặt giấy pơ-luya cũ kỹ:

FREQ: 104.88-MHZ // OVERRIDE CODE: KTS-V01-1211.

Ngay cạnh dòng mã, có một dấu chấm tròn nhỏ được Tuấn khoanh tròn ba vòng bằng bút đỏ. Đó là thói quen từ thời trinh sát của cậu ấy - mỗi khi tìm ra một điểm nghẽn logic hoặc một tọa độ quyết định, Tuấn luôn chấm một chấm tròn đậm vào góc sổ rồi mới ngẩng lên cười trừ với tôi.

Ngón tay cái của tôi vô thức miết nhẹ lên vết mực lồi lõm trên mặt giấy mục. Lớp da ngón tay tôi cảm nhận được độ ráp của vết giấy bị cày rách bởi ngòi bút ba năm trước. Trong ba giây, lồng ngực tôi nghẹn lại, một khoảng rỗng hoác không có dưỡng khí ập vào buồng phổi trái.

Tôi dừng tay.

Rồi gập phắt cuốn sổ lại, nhét sâu vào túi trong áo khoác, kéo khóa sắt lên tận cằm.

"Hoàng," tôi nói cộc lốc, quay sang nhìn thẳng vào mặt người đội trưởng trẻ. "Vặn tần số máy phát về một không bốn chấm tám mươi tám. Chúng ta chỉ có một cơ hội duy nhất khi trực thăng bay vào góc quét ăng-ten của tàu."

Lê Hoàng không hỏi thêm một lời. Ngón tay cậu ta lập tức xoay núm điều chỉnh cơ học trên mặt máy vô tuyến. Tiếng rào rào của sóng nhiễu điện từ vang lên chói tai qua tai nghe.

"Đã vào dải tần 104.88 MHz," Hoàng báo cáo. "Nhưng tín hiệu nền từ con tàu quá mạnh. Cột phát sóng vệ tinh trên nóc đài chỉ huy của nó đang phát công suất cực đại để đẩy dữ liệu lên quỹ đạo. Nếu trực thăng ở khoảng cách trên năm trăm mét, máy phát cầm tay này không đủ công suất đè sóng của nó."

Thượng tá Đặng Thế Anh bước lùi lại hai bước trong khoang máy bay, nắm chặt tay vịn trần. Ông nhìn tôi, rồi nhìn xuống cuốn sổ trong túi áo tôi.

"Trực thăng 917 mang mã hiệu 7842," Thế Anh nói với phi công trưởng qua micro. "Hạ độ cao xuống ba mươi mét. Áp sát mạn phải tàu Hải Đăng 09 từ hướng đón gió. Duy trì cự ly ba trăm mét, bay song song cùng tốc độ với tàu."

"Báo cáo Chỉ huy," tiếng viên phi công vang lên đầy căng thẳng. "Tầm nhìn trên mặt biển dưới ba trăm mét do sương mù và sóng cồn. Nếu tàu phát nổ ở cự ly ba trăm mét, sóng xung kích và mảnh văng vỏ thép sẽ xé toạc thùng dầu phụ trực thăng."

"Thực hiện mệnh lệnh," Thế Anh cắt ngang, giọng lạnh tanh như thép nguội. "Nếu dữ liệu vệ tinh thoát ra hải phận quốc tế, cái giá phải trả không chỉ là một chiếc máy bay."

Chiếc Mi-171 đột ngột chúc mũi xuống.

Trọng lực hụt đi trong tích tắc khiến ruột gan tôi cuộn thắt lại. Khí trong màng phổi trái bị ép ngược lên cuống họng, mang theo một ngụm máu tươi trào ra khóe miệng. Tôi nghiến chặt răng, nuốt vị tanh nồng xuống đáy họng. Bàn tay phải tôi nắm chặt lấy chiếc micro của máy vô tuyến quân sự, ngón tay cái đặt sẵn lên nút phát.

Phía dưới lớp sương mù xám đục, bóng đen của tàu Hải Đăng 09 bắt đầu hiện ra như một con quái vật kim loại đang trườn trên mặt sóng.

Đó là một con tàu nghiên cứu hải dương học dài hơn sáu mươi mét, sơn màu xanh thẫm đã tróc từng mảng lớn vì nước mặn. Boong tàu hoàn toàn trống trơn, không một bóng người, không một ánh đèn chiếu sáng. Trên đỉnh cột buồm cao nhất ở đuôi tàu, một chảo ăng-ten parabol đường kính hai mét đang quay chậm rãi, đèn tín hiệu phát sóng màu đỏ chớp liên hồi theo chu kỳ hai giây một lần.

Đồng hồ trên bảng điều khiển nhảy sang: 23:22.

Còn đúng tám phút.

"Tí Bo," tôi bấm phím đàm thoại trên máy vệ tinh nối về đất liền. "Quét băng thông vệ tinh của con tàu ngay."

Tiếng gõ phím lạch cạch dồn dập của thằng nhóc vang lên qua tai nghe, lẫn trong tiếng rè của sóng vô tuyến:

"Anh Vũ! Tàu Hải Đăng 09 đang phát gói tin số mười tám! Tiến độ truyền dữ liệu đã đạt tám mươi chín phần trăm! Đúng hai mươi ba giờ ba mươi phút, máy chủ sẽ hoàn tất việc đẩy tệp tin cuối cùng chứa mười chín tài khoản ủy thác về ngân hàng mẹ ở Zurich! Sau đó toàn bộ hệ thống điều khiển đáy tàu sẽ nhận lệnh kích nổ khoang dằn!"

"Khối thuốc nổ đặt ở đâu?" tôi hỏi dồn.

"Khoang máy đáy C-2," Tí Bo hét lên trong máy. "Khoảng bốn trăm ki-lô-gam thuốc nổ công nghiệp dẻo nối với kíp nổ điện tử nhận lệnh từ cổng rơ-le máy chủ! Nếu anh ngắt sóng phát thanh toán trước khi gói tin đẩy xong, rơ-le sẽ đếm ngược sáu mươi giây rồi nổ tức thì!"

Lê Hoàng nhìn tôi, bàn tay cầm súng K59 của cậu ta siết chặt đến trắng bệch các khớp ngón.

"Nghĩa là chúng ta chỉ có sáu mươi giây để trực thăng bốc cao thoát khỏi bán kính nổ sau khi khóa máy chủ," Hoàng nói, từng chữ rít qua kẽ răng.

"Sáu mươi giây là quá đủ cho một chuyến bay đêm," tôi cười nhạt, nhưng nụ cười méo mó vì vết rách trên môi lại toạc ra rỉ máu.

Chiếc trực thăng lượn một vòng cung gắt trên mặt biển, nghiêng cánh hạ sát mặt nước. Bụi nước biển mặn chát bắn tung tóe qua cửa lùa, táp thẳng vào mặt chúng tôi. Tiếng rít của động cơ tàu Hải Đăng 09 dưới mặt nước dội lên ầm ầm như sấm rền. Con tàu rẽ sóng lao điên cuồng về phía phao tiêu số không - cột mốc đánh dấu đường biên hải phận quốc tế đang nhấp nháy ánh đèn vàng ngoài khơi xa chưa đầy một hải lý.

"Vào cự ly ba trăm mét!" tiếng phi công gầm lên qua bộ đàm. "Ăng-ten máy phát đã khóa thẳng góc quét chảo parabol!"

"Nhập mã!" Thượng tá Đặng Thế Anh quát lớn.

Lê Hoàng giữ chặt bàn phím điều khiển số trên máy phát vô tuyến. Tôi cầm cuốn sổ tay của Tuấn, đọc từng ký tự rành rọt vào máy đàm thoại:

"K - T - S - gạch nối - V - 0 - 1 - gạch nối - 1 - 2 - 1 - 1."

Lê Hoàng gõ phím cuối cùng. Ngón tay cậu ta ấn mạnh nút truyền sóng công suất cao.

Xoẹt!

Một âm thanh chói tai như kim loại cào vào kính rít lên qua toàn bộ hệ thống tai nghe của trực thăng.

Trên đỉnh cột buồm tàu Hải Đăng 09, chiếc chảo parabol khổng lồ đột ngột khựng lại. Đèn tín hiệu đỏ trên đỉnh chảo chuyển sang màu cam nhấp nháy liên tục, rồi lịm dần thành một chấm đen vô hồn.

"Đã chèn sóng thành công!" Tí Bo gào lên qua kênh vệ tinh từ Quận 4. "Đường truyền vệ tinh Vinasat đã bị cắt đứt ở tiến độ chín mươi mốt phần trăm! Gói tin số mười chín bị khóa cứng trên máy chủ cục bộ! Nhưng anh Vũ ơi... rơ-le kích nổ đã nhảy số!"

Đồng hồ trên bảng điều khiển trực thăng: 23:26:15.

Dưới boong tàu Hải Đăng 09, một tiếng còi báo động xé rách màn đêm biển cả. Dãy đèn cảnh báo màu vàng dọc hành lang boong chính bắt đầu chớp nháy điên cuồng. Hệ thống van xả đáy tự động mở ra, tiếng nước biển ùa vào khoang dằn rít lên qua các ống xả khí mạn tàu.

"Phi công! Kéo cao ngay lập tức!" Thế Anh thét vào micro.

Cần lái trực thăng giật mạnh về phía sau. Động cơ Mi-171 gầm lên man dại, hai tuốc-bin phản lực dốc toàn lực kéo thân sắt mười hai tấn bốc ngược lên bầu trời đêm. Lực gia tốc cực mạnh ép chặt tôi xuống sàn khoang máy bay.

Ống dẫn lưu silicon ở mạn sườn tôi bị giật căng. Một cơn đau xé thịt bùng lên từ khoang liên sườn số năm, làm tôi tối sầm mặt mày. Tôi đưa tay bám chặt lấy khung cửa sắt, ngón tay tê dại vì vết rách thần kinh quay ở cẳng tay trái.

Hạ Băng nhoài người tới, hai tay cô ôm chặt lấy bình dẫn lưu áp lực âm, dùng chính thân mình che chắn cho vết mổ bên sườn tôi trước những cú xóc nảy dữ dội của trực thăng.

"Thở đi, Vũ!" cô hét lên bên tai tôi. "Đừng nín thở! Rách màng phổi bây giờ!"

Tôi mở trừng mắt nhìn xuống mặt biển qua ô cửa lùa đang mở toang.

Chiếc trực thăng vừa leo lên độ cao một trăm năm mươi mét thì dưới đáy biển, một quầng sáng màu cam rực rỡ bùng lên từ lòng tàu Hải Đăng 09.

OÀNG!

Tiếng nổ thứ nhất xé toạc vỏ thép khoang đáy C-2. Một cột lửa khổng lồ cao hơn ba mươi mét dựng đứng giữa màn đêm vịnh Gành Rái, nuốt chửng toàn bộ đài chỉ huy và cột ăng-ten parabol. Sóng xung kích đội ngược lên không trung như một bàn tay vô hình khổng lồ giáng thẳng vào bụng chiếc trực thăng, hất văng thân máy bay nghiêng đi gần bốn mươi lăm độ.

Mảnh kim loại và kính vỡ từ con tàu bay ràn rạt dưới bụng máy bay như mưa rào.

Tiếng nổ thứ hai bồi tiếp, trầm đục và khủng khiếp hơn, bẻ gãy đôi thân tàu hàng mười tám ngàn tấn thành hai nửa. Nước biển đen ngòm cuộn trào, dìm khối sắt rực lửa chìm dần xuống đáy biển sâu chỉ trong chưa đầy ba phút, để lại trên mặt vịnh một xoáy nước khổng lồ sủi bọt trắng xóa và ngọn lửa dầu loang bập bùng trên sóng.

Trong khoang trực thăng, tiếng gió rít dần lùi lại phía sau. Tiếng động cơ phản lực ổn định trở lại khi máy bay lấy lại thăng bằng ở độ cao năm trăm mét, lượn một vòng cung lớn hướng mũi về đất liền.

Lê Hoàng buông tay khỏi máy vô tuyến, ngửa đầu tựa vào vách thép, thở dốc từng cơn. Mồ hôi trên trán cậu ta chảy thành dòng, cuốn theo vệt dầu mỡ đen sì trên gò má.

Thượng tá Đặng Thế Anh đứng ở cửa buồng lái, hai tay buông thõng. Ông nhìn xuống đám cháy dầu đang tàn dần trên mặt biển ngoài khơi xa, ngón tay khẽ chạm vào báng khẩu CZ-75 của cha mình. Không ai nói một lời nào. Tiếng im lặng trong khoang máy bay nặng nề hơn cả tiếng sấm rền vừa dứt.

Hạ Băng quỳ bên cạnh tôi, cẩn thận kiểm tra lại mối chỉ khâu trên mạn sườn. Máu tươi đã thấm đỏ một góc băng gạc trắng, nhưng van Heimlich một chiều vẫn giữ được độ kín, không có tiếng rít rò khí ngược.

Cô rút từ trong túi áo blouse dã chiến ra một miếng gạc tẩm cồn i-ốt, ấn mạnh vào vết rách trên khóe môi tôi.

Cồn xót buốt làm tôi giật bắn người. Tôi cau mày, nhìn cô.

Hạ Băng không ngẩng lên. Tay cô giữ miếng gạc trên môi tôi thêm đúng ba giây, rồi buông ra, xếp gọn vỏ bao vào túi rác y tế.

"Đau không?" cô hỏi, giọng nhỏ đến mức gần như lọt thỏm giữa tiếng cánh quạt.

"Bằng nửa phát đạn ở Cầu Muối," tôi đáp, giọng cợt nhả một cách mệt mỏi.

Hạ Băng ngước lên nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt sắc sảo thường ngày của người bác sĩ pháp y lúc này chỉ còn lại sự trũng sâu của một người đã thức trắng ba đêm liên tiếp bên những xác chết. Cô nhìn vào bình máu dưới sàn, rồi nhìn lên khuôn mặt hốc hác của tôi.

"Anh không nợ anh Tuấn cái chết này nữa, Vũ," cô nói, từng chữ chậm rãi, dứt khoát. "Nhưng nếu anh không chịu vào phòng mổ trong vòng sáu mươi phút tới, anh sẽ tự nộp mạng cho một cái chết vô nghĩa."

Tôi không trả lời. Tôi quay mặt nhìn ra ô cửa kính, nơi ánh đèn của đất liền Sài Gòn đang hiện dần ra phía chân trời phía Tây.

Một thành phố hoa lệ, ngập ngụa ánh đèn triệu đô của những tòa cao ốc kính soi bóng xuống những con kênh đen ngòm hôi thối. Nơi người ta mặc vest sang trọng ký những bản hợp đồng bạc tỷ bằng máu của những đứa trẻ mồ côi trên cao nguyên hai mươi năm trước.

Mọi thứ tưởng như đã kết thúc. Tàu Hải Đăng 09 đã chìm. Gói dữ liệu mỏ đất hiếm đã bị khóa vĩnh viễn trên máy chủ nát vụn dưới đáy biển. Thắng, Khiêm, Phát, Cửu, Tuyến... toàn bộ những kẻ cầm đầu đã lần lượt tra tay vào còng số tám hoặc nằm dưới tro tàn.

Đúng lúc đó, chiếc điện thoại Nokia cũ kỹ trong túi áo tôi rung lên một nhịp ngắn.

Tiếng bíp đơn điệu của tin nhắn SMS vang lên khô khốc.

Lê Hoàng giật mình quay lại. Thượng tá Đặng Thế Anh cũng sững người, ánh mắt sắc như dao găm dán chặt vào bàn tay tôi.

Tôi rút chiếc điện thoại ra khỏi túi.

Màn hình đen trắng hiển thị tin nhắn vừa được gửi đến từ một đầu số cố định nội bộ của Sở Quy hoạch và Kiến trúc tỉnh Lâm Đồng - một đầu số lẽ ra đã bị niêm phong từ năm 2004:

BẢN ÁN TRÊN BIỂN ĐÃ XONG, ĐỘI PHÓ TRẦN VŨ.
NHƯNG MỎ ĐẤT HIẾM DƯỚI NỀN MÁI ẤM HƯỚNG DƯƠNG CHƯA TỪNG LÀ MỤC TIÊU DUY NHẤT.
HÃY MỞ NGĂN KÉO DƯỚI CÙNG BÀN THỜ NGUYỄN TUẤN TRƯỚC NĂM GIỜ SÁNG.
NGƯỜI CHÂM QUE DIÊM ĐẦU TIÊN... ĐANG NGỒI Ở ĐÓ ĐỢI ANH.

Chiếc trực thăng chao nghiêng một góc ba mươi độ, cắt qua luồng mây xám dầm dề tháng Bảy, lao thẳng về phía trung tâm Sài Gòn rực rỡ ánh đèn.

0