Giao Lộ Mờ Sương

Chương 84: Vòng Xoay Bát Quái

Đăng: 23/08/2026 15:25 4,122 từ 1 lượt đọc

Sáu mươi giây cho một quãng đường hai tầng hầm bằng cầu thang xoắn ốc xây từ thời Pháp.

Tiếng loa sắt nén dội vào những bức tường đá dày nửa mét của khu Bát Quái, nghe đục ngầu như tiếng búa nện xuống một khối thịt ươn. Mỗi nhịp đếm của Thượng tá Đặng Thế Anh trôi qua kẽ răng sắt rỉ, rải đều theo từng bước chân bết máu của chúng tôi trên bậc thềm trơn trượt rêu mốc.

Hạ Băng một tay xách chiếc bình áp lực âm ba ngăn, một tay luồn qua nách giữ chặt lấy sườn phải của tôi. Ống dẫn lưu silicon cắm giữa khoang liên sườn số năm rung lên bần bật theo từng bước giẫm. Mỗi lần gót giày tôi thúc xuống nền đá hoa cương vỡ vụn, một luồng khí lạnh buốt lại thúc ngược từ đáy phổi lên cuống họng, mang theo vị tanh nồng của chất sắt và dịch nhầy sủi bọt.

Tôi cắn chặt môi dưới. Vị máu tươi tứa ra làm tê đầu lưỡi, nhưng nó đủ mặn để kéo cái đầu tôi ra khỏi cơn choáng váng do thuốc tê cạn sạch.

Lê Hoàng đi trước hai bước. Nòng súng K59 trong tay anh ta chúc xuống bốn mươi lăm độ, ngón trỏ tì sát vành cò. Phía sau lưng tôi, Nguyễn Minh Đăng bước đi không một tiếng động. Thằng nhóc vừa trườn ra khỏi tủ đông nhà xác, ngực chỉ bọc một lớp băng gạc dính bết dịch vàng, nhưng đôi mắt một mí sâu hoắm của nó phẳng lặng như mặt nước giếng thối. Nó ôm chặt chiếc hộp sắt màu xanh quân sự 408/TL-PC02 vào bụng, ngón tay cái miết đi miết lại trên mép gờ kim loại vừa bị cạy bung lớp sơn chống rỉ.

Bốn mươi giây.

Thượng tá Bùi Văn Thiện tra chiếc chìa khóa đồng dài bằng bàn tay vào ổ khóa cửa sắt ngăn cách tầng hầm B1 với sảnh trung tâm. Tiếng ngàm thép nhảy cách một phát khô khốc. Cánh cửa nặng hàng trăm ký rít lên từng hồi ê răng, hé ra một luồng gió ẩm xốc thẳng vào mặt chúng tôi.

Gió tháng Bảy của Sài Gòn lọt qua các ô thông gió hình bát giác trên nóc vòm Chí Hòa. Mùi cống rãnh đường Tô Hiến Thành quyện lẫn mùi khói khét lẹt từ trạm biến áp vừa bị đâm nổ ngoài cổng số hai, tạo thành một thứ không khí đặc quánh như cháo thiu.

Hai mươi giây.

Chúng tôi bước ra khoảng sàn tròn chính giữa tâm khu Bát Quái.

Ánh đèn pin chuyên dụng từ các dãy hành lang hình nan quạt phía trên đồng loạt rọi xuống, cắt không gian tầng trệt thành những vệt sáng trắng sắc lẹm. Bụi vôi và mạt cưa trôi lơ lửng trong chùm sáng như những đàn thiêu thân chết đói. Ở tầng ba, sáu bóng lính Cảnh sát Cơ động bồng súng tiểu liên báng gấp đứng bất động sau lan can thép, họng súng đen ngòm đều hướng thẳng về tâm sàn đá.

Đặng Thế Anh đứng đó. Một mình.

Anh ta không mặc áo giáp chống đạn, cũng không rút súng. Chiếc áo sơ mi trắng mang quân hàm Thượng tá thẳng nếp đến mức tàn nhẫn, chỉ có hai ống tay áo xắn cao đến khuỷu để lộ những đường gân xanh chằng chịt. Trên tay phải của anh ta kẹp một điếu thuốc lá Vinataba cháy dở, tàn thuốc dài gần hai đốt ngón tay vẫn chưa buồn gạt.

Mười giây.

"Đúng giờ đấy, Trần Vũ," Thế Anh nói. Giọng anh ta không cần micro vẫn dội đều vào từng hốc tường của khối nhà giam hình bát giác. "Tôi cứ nghĩ với cái xương sườn gãy rời đó, anh phải mất thêm ba mươi giây nữa."

Hoàng không hạ súng. Khẩu K59 vẫn giữ nguyên góc ngắm chếch sang vai trái của Thế Anh.

"Hủy lệnh phong tỏa của Bộ Quốc phòng từ khi nào thế, Thượng tá?" Hoàng hỏi, từng chữ rít qua kẽ răng. "Biên bản bàn giao quyền chỉ huy Chí Hòa của Phân khu 7 đâu?"

Thế Anh không nhìn Hoàng. Anh ta đưa điếu thuốc lên môi, rít một hơi sâu đến mức đầu thuốc đỏ rực lên, soi rõ vết sẹo nhỏ hình lưỡi cày sát chân tóc bên thái dương trái. Khói thuốc nhả ra thành một dải mỏng, tan biến vào khoảng tối phía trên nóc vòm.

"Văn bản số không một của Thường trực Ban Bí thư vừa ký lúc hai mươi mốt giờ mười lăm," Thế Anh rút từ túi quần tây ra một tờ giấy gấp tư, ném hờ hững xuống mặt sàn đá cách mũi giày tôi nửa mét. "Toàn bộ tài liệu, vật chứng và nhân sự liên quan đến Chuyên án 1104 chuyển giao trực tiếp cho Cục Cảnh sát Hình sự thụ lý độc quyền. Phân khu 7 đã rút quân khỏi cổng số một cách đây mười phút."

Tôi không cúi xuống nhặt tờ giấy. Mắt tôi dán chặt vào đôi mắt lạnh tanh của người đàn ông mang mã nghiệp vụ đứa trẻ thứ mười ba.

"Anh đến đây để đón thằng Đăng," tôi nói, giọng khàn đặc như có cát chà vào thanh quản. "Hay đến để lấy cái hộp này?"

Đăng bước lên nửa bước. Chiếc hộp sắt 408 tì vào ngực nó kêu lách cách. Chiếc lọ thủy tinh bên trong đựng vỏ đạn 9mm lăn qua lăn lại, phát ra âm thanh như tiếng răng va vào nhau lúc rét run.

Thế Anh liếc nhìn Đăng. Một cái liếc mắt kéo dài đúng một giây, không có sự ngạc nhiên của một người vừa thấy tử thi sống lại, cũng chẳng có chút bối rối nào của kẻ bị bắt quả tang gian dối.

"Cả hai," Thế Anh đáp cụt lủn. "Và cả anh nữa, Vũ. Một cựu cảnh sát mang ống dẫn lưu màng phổi xông vào kho tang vật tối mật của trại giam trung ương, cầm theo vũ khí thô sơ. Nếu tôi không ký hủy lệnh phong tỏa trong sáu mươi giây vừa rồi, tổ đặc nhiệm ở tầng ba đã có quyền bắn nát đầu gối cả bốn người theo điều lệnh bảo vệ mục tiêu đặc biệt."

"Vậy sao anh không ra lệnh bắn?" Hạ Băng lên tiếng. Bàn tay chị siết chặt quai xách bình áp lực âm, đốt ngón tay trắng bệch. "Anh biết rõ Đăng chưa chết khi nó nằm trong ngăn kéo số không bốn. Anh biết tôi dùng kali clorua làm chậm nhịp tim nó. Anh để yên cho nó trốn khỏi trạm xá Nhà Bè vì anh muốn nó dẫn đường vào căn hầm B3 này, đúng không?"

Thế Anh khẽ nhếch mép. Nụ cười chỉ thoáng qua trong một phần mười giây rồi tắt ngấm, để lại gương mặt xám xịt như đá hoa cương.

"Bác sĩ Băng, cô có tay nghề ngoại khoa rất khá. Nhưng cô đánh giá quá cao sự bao dung của hệ thống này rồi." Thế Anh gạt tàn thuốc xuống sàn đá, dùng mũi giày da cán nát. "Nếu tôi muốn giết thằng nhóc đó, tôi chỉ cần để nguyên ống dẫn lưu của nó ở trạm xá đồi Robin. Mười lăm phút sau khi rút máy hút áp lực âm, áp suất không khí trên cao nguyên đã ép nát phổi trái của nó rồi. Cần gì phải đợi nó chạy về tới Sài Gòn?"

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh mùi máu. Cơn đau từ xương sườn số sáu lại nhói lên từng chặp, giật giật theo nhịp đập của động mạch cảnh.

"Đừng vòng vo nữa, Đặng Thế Anh," tôi hất cằm về phía chiếc hộp sắt trong tay Đăng. "K-86. Mã cấp phát đặc biệt V-01. Ngày mười tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn. Anh giải thích thế nào về dòng chữ khắc sau nắp hộp này?"

Khoảng không gian hình bát giác bỗng chìm vào một sự im lặng chết chóc.

Tiếng nước nhỏ giọt từ trần nhà ẩm ướt rơi xuống nắp cống gang tầng trệt nghe rõ mồn một. Tách. Tách. Đều đặn như nhịp gõ của một chiếc đồng hồ cát sắp cạn.

Thế Anh không trả lời ngay. Anh ta đút hai tay vào túi quần, chậm rãi bước về phía chúng tôi ba bước. Lê Hoàng lập tức siết ngón tay trên vành cò K59, mũi súng nâng lên ngang tầm ngực Thế Anh.

"Đứng lại đó," Hoàng gằn giọng.

Thế Anh dừng lại, mắt nhìn thẳng vào họng súng của Hoàng mà không hề chớp.

"Hoàng, cậu giống hệt ông Bản hai mươi năm trước. Cứng nhắc, nguyên tắc, và lúc nào cũng nghĩ khẩu súng trong tay mình đại diện cho công lý." Thế Anh thở hắt ra một hơi khói mỏng còn sót lại trong cuống họng. "Nhưng ông Bản thông minh hơn cậu một điểm: ông ấy biết khi nào cái giá của sự thật vượt quá khả năng chi trả của một người lính."

"Cha tôi đã phải trả giá bằng hai mươi năm sống chui lủi dưới đáy thuyền hút cát!" Hoàng hét lên, gân cổ hằn đỏ dưới ánh đèn rọi. "Ông ấy ký vào biên bản nghiệm thu khống vì bệnh án ung thư của mẹ tôi! Còn anh? Mã V-01 là cái quái gì?"

"V-01 không phải là tên một người," Thế Anh nói, giọng hạ thấp xuống một tông, trầm và lạnh buốt. "Đó là mã phê duyệt của Ban Chỉ đạo Đặc biệt vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trực thuộc Văn phòng Trung ương, thành lập năm một chín chín chín. Chữ V viết tắt cho Viễn Đông."

Lồng ngực tôi thắt lại. Một cơn ho khan kéo tới bất ngờ khiến tôi phải gập người xuống. Ống dẫn lưu giật mạnh làm rách thêm một phần cơ liên sườn, một vệt máu đỏ tươi trào qua khớp nối silicon chảy thẳng vào ngăn đo dịch của chiếc bình nhựa Hạ Băng đang giữ.

Tôi cắn răng ngẩng đầu lên, thở dốc: "Kho Quân khí K-86 ở Long Bình... năm hai nghìn lẻ bốn... xuất cấp năm ngàn lít dầu diezen và dung môi hydrocacbon nặng cho công trình khai thác thử nghiệm của Quỹ Viễn Đông dưới danh nghĩa rà phá bom mìn quân sự. Cùng một ngày, cùng một lệnh xuất kho, có một thùng đạn súng ngắn quân dụng chín mi-li-mét mang mã kiểm định V-01 được chuyển thẳng về Lâm Đồng."

Đăng mở nắp chiếc hộp sắt. Chiếc lọ thủy tinh nhỏ phản chiếu ánh đèn neon lấp loáng.

"Viên đạn bắn xuyên tim chú Tuấn ba năm trước ở hẻm Cầu Muối," Đăng nói, từng âm tiết phát ra từ lồng ngực gầy guộc của nó sắc như mảnh chai vỡ. "Vết vạch rãnh khương tuyến trên thân vỏ đạn này có góc xoắn mười sáu độ sang phải. Đây là rãnh khương tuyến của nòng súng CZ-75 phiên bản đặc chủng dành riêng cho lực lượng cảnh vệ bảo vệ yếu nhân của Cục Ngoại tuyến. Lô súng đó chỉ có đúng mười hai khẩu được nhập về cuối năm hai nghìn lẻ bốn."

Thế Anh nhìn chăm chú vào chiếc lọ thủy tinh trong tay Đăng. Ánh mắt anh ta tối sầm lại, sâu hun hút như cái giếng cạn phía sau Mái ấm Hướng Dương.

"Cậu nhớ chi tiết tốt đấy, Đăng," Thế Anh nói khẽ. "Nhưng cậu chỉ biết một nửa."

"Nửa còn lại là gì?" tôi hỏi, bàn tay trái tê dại nắm chặt lấy báng chiếc xà beng mini giắt bên hông quần.

"Nửa còn lại là khẩu súng bắn viên đạn đó... chưa từng thuộc về Nguyễn Khắc Thắng, cũng không nằm trong tay Phạm Quang Đạt." Thế Anh đưa tay trái ra sau lưng, rút từ thắt lưng da một khẩu súng ngắn màu đen mờ, đặt nằm ngang trên lòng bàn tay rồi chìa về phía chúng tôi. "Nó nằm trong két sắt của cha tôi suốt mười lăm năm trước khi ông ấy bị thanh trừng ở Cam Ranh."

Khẩu CZ-75. Thân súng bằng thép đen đã sờn bóng ở những góc cạnh tiếp xúc với bao da. Trên nẹp khóa nòng khắc chìm một dãy ký tự nhỏ li ti: `KTS-01 // SERI: 0411-99`.

Lê Hoàng sững người. Nòng súng K59 trong tay anh ta khẽ run lên một nhịp.

"Thiếu tướng Phạm Gia Bảo..." Hoàng lẩm bẩm.

"Đúng," Thế Anh đáp, ánh mắt không rời khỏi mặt tôi. "Đêm mười một tháng mười một năm hai nghìn lẻ bốn, người ký lệnh điều động năm ngàn lít dầu từ Kho K-86 không phải là Đỗ Khắc Khiêm. Khiêm lúc đó chỉ là một tên Thượng tá hậu cần chạy việc. Người ký phê duyệt tối cao mang mã danh KTS-01 chính là cha tôi – với tư cách Trưởng ban Chỉ đạo Chuyên án Khai thác Địa chất Chiến lược."

Một cơn gió thốc mạnh qua các ô thông gió trên đỉnh vòm bát giác, rít lên từng hồi như tiếng kêu oan của những linh hồn bị thiêu rụi trong căn hầm đá chẻ.

Tôi nhìn khẩu súng trên tay Thế Anh. Bộ não hình sự của tôi tự động ráp nối từng mảnh dữ liệu rời rạc thu thập được suốt bốn mươi tám giờ qua.

Tướng Bảo ký xuất dầu và đạn. Nhưng chiều hôm đó, ông Bảo đã gửi mật báo cho bảo mẫu Mai Lan, bảo cô dập cầu dao và đưa lũ trẻ xuống hầm trú ẩn. Đêm đó, ông Bản nhận lệnh đón đứa trẻ sơ sinh ba tháng tuổi đưa đi trốn. Và hai năm sau, Tướng Bảo bị sát hại tại Cam Ranh vì kiên quyết từ chối ký bản hợp đồng nhượng quyền khai thác ngầm năm mươi năm cho Quỹ Viễn Đông.

"Ông Bảo không muốn thiêu sống lũ trẻ," tôi nói chậm rãi, từng chữ rơi xuống mặt sàn đá lạnh ngắt. "Ông ấy muốn dàn cảnh một vụ cháy kho nhiên liệu rỗng để đóng cửa dự án khai thác ngầm, đuổi tập đoàn nước ngoài ra khỏi khu đất Đồi Thông Xanh. Nhưng Phạm Quang Đạt đã đi trước một bước. Đạt lẻn xuống giếng khóa van nước Danfoss, còn Thắng thì điều xe cứu hỏa đi chữa cháy giả ở Đan Kia. Đám cháy thử nghiệm biến thành một vụ thảm sát."

Thế Anh không phủ nhận. Anh ta chỉ siết chặt khẩu CZ-75 trong lòng bàn tay, các khớp ngón tay gồ lên trắng bệch.

"Và ba năm trước," Thế Anh tiếp tục, giọng đanh lại, "khi Đại úy Nguyễn Tuấn tìm ra mẫu dung môi hydrocacbon trùng khớp trong kho tang vật và bắt đầu lần ra số hiệu lô đạn K-86, Thắng và Đạt biết rằng nếu Tuấn đào sâu thêm một tấc nữa, toàn bộ hồ sơ đất hiếm và tài khoản rửa tiền một trăm hai mươi triệu đô tại Zurich sẽ vỡ lở. Chúng mượn danh nghĩa Cục Ngoại tuyến, lấy khẩu súng dự phòng của cha tôi để lại trong kho vũ khí niêm phong, bắn chết Tuấn tại hẻm Cầu Muối."

"Để làm gì?" Đăng gằn giọng, mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm. "Để đổ tội cho ai?"

"Để khóa cứng hồ sơ lại bằng chính máu của một sĩ quan cảnh sát," Thế Anh nhìn thẳng vào Đăng. "Một vụ án ma túy có cảnh sát hy sinh sẽ bị niêm phong vật chứng tối thiểu mười năm theo quy chế bảo vệ bí mật nghiệp vụ. Không một kiểm sát viên nào được quyền mở lại thùng tang vật số bốn trăm lẻ tám nếu không có lệnh của Ban Chỉ đạo Trung ương."

Tôi mở túi áo ngực. Bàn tay run rẩy chạm vào chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm của Mai Lan nằm cạnh cuốn nhật ký bìa simili năm 2004. Cạnh sắc của miếng nhôm cứa nhẹ vào đầu ngón tay tôi. Một thoáng nhói buốt quen thuộc truyền dọc cánh tay, kéo theo hình ảnh Tuấn nằm co quắp trên vũng bùn đen ngòm hẻm Cầu Muối, miệng ộc máu tươi nhưng tay vẫn cố móc chiếc kẹp nhôm nhét vào túi áo tôi.

Tôi hít một hơi sâu, nén chặt cơn run rẩy vào tận đáy lồng ngực. Khi ngẩng lên, khóe miệng tôi đã kéo thành một nụ cười nhạt thếch, méo mó:

"Một ván cờ hai mươi năm. Kẻ đánh cờ chết gần hết, chỉ còn lại những con tốt gãy chân đứng cắn xé nhau trong cái hầm ngục này."

Tôi nhìn thẳng vào mắt Thế Anh: "Anh muốn cái hộp này để làm gì? Để nộp cho Viện Kiểm sát Tối cao minh oan cho Tuấn và cha anh? Hay để ném nó vào lò thiêu như cách anh đã đốt bản báo cáo giám định năm hai nghìn lẻ bốn ở phòng làm việc lúc bảy giờ tối?"

Thế Anh hạ khẩu súng xuống bên hông. Anh ta không giận dữ, cũng không biện minh. Gương mặt người đàn ông ba mươi lăm tuổi mang trên vai hai bông mai vàng bỗng lộ ra nét mệt mỏi cùng cực của một kẻ đã phải sống bằng tên của người khác suốt hai thập kỷ.

"Tôi đốt bản báo cáo năm hai nghìn lẻ bốn để bảo vệ danh dự cho cô Mai Lan, vì dư luận không cần biết chi tiết kỹ thuật về một cần gạt cầu dao điện sập xuống có bao nhiêu phần trăm lỗi vô ý." Thế Anh nói, giọng phẳng lặng như một bản cáo trạng đã đọc xong. "Nhưng chiếc hộp này... tôi cần nó để chặn đứng chuyến tàu cuối cùng."

Hoàng cau mày: "Tàu Thuận An sáu mươi tám đã chìm ở sông Soài Rạp lúc bảy giờ mười lăm sáng nay. Aurelia cũng đã nằm dưới đáy vịnh Gành Rái. Còn chuyến tàu nào nữa?"

Thế Anh không trả lời Hoàng. Anh ta đưa tay bấm một nút trên chiếc điện thoại bàn gắn trên tường sảnh Bát Quái. Tiếng loa phóng thanh của phòng trực ban Chí Hòa lập tức phát ra âm thanh rè rè của một đoạn băng ghi âm vô tuyến hàng hải vừa được giải mã:

"Thông báo khẩn cấp từ Đài Kiểm soát Không lưu Tân Sơn Nhất và Cảng vụ Hàng hải Vũng Tàu... Lúc hai mươi mốt giờ ba mươi phút, tàu nghiên cứu hải dương học Hải Đăng Không Chín mang cờ quốc tế đã kéo neo rời phao số mười bốn luồng Vũng Tàu - Thị Vải... Không chấp hành hiệu lệnh dừng tàu của Biên đội Tàu tuần tra Vùng Ba Hải quân... Hướng di chuyển: vượt qua đường cơ sở hải phận mười hai hải lý..."

Tiếng máy vô tuyến chìm trong tiếng sóng biển gầm rú và tiếng gió rít qua máy phát điện công suất lớn.

"Hải Đăng Không Chín," tôi nói, từng khớp xương trên cơ thể như rệu rã ra. "Không phải tàu chở quặng. Cũng không phải tàu chở tài liệu."

"Đó là tàu chở máy chủ lưu trữ dữ liệu vệ tinh của Quỹ Viễn Đông," Thế Anh tắt máy liên lạc, quay lại nhìn chúng tôi. "Toàn bộ dữ liệu mã hóa về vị trí mỏ đất hiếm và mười chín tài khoản rửa tiền tại Zurich đã được tải lên một ổ đĩa từ trường gắn sâu dưới buồng máy của con tàu đó từ ba giờ sáng nay. Trong hộp tang vật số bốn trăm lẻ tám có cuốn sổ công tác của Tuấn. Ba trang cuối cuốn sổ ghi lại bảng mã phân rã tần số vô tuyến của trạm kiểm soát K-86 năm hai nghìn lẻ bốn – thứ duy nhất có thể gửi xung lệnh ngắt quyền phát sóng của máy chủ đó trước khi con tàu vượt qua vùng biển quốc tế lúc hai mươi ba giờ ba mươi."

Tôi nhìn chiếc hộp sắt trên tay Đăng. Đăng cúi đầu, lật nhẹ bìa cuốn sổ dù mục nát dính đầy vết ố đỏ thẫm của máu khô ba năm trước. Ở góc dưới trang cuối cùng, những hàng chữ số viết tay bằng mực bi xanh của Tuấn hiện lên rõ mồn một dưới ánh đèn pin: `FREQ: 104.88-MHZ // OVERRIDE CODE: KTS-V01-1211`.

Tuấn đã tìm ra nó trước khi chết. Cậu ta đã giấu nó vào nơi an toàn nhất mà những kẻ mặc vest không bao giờ ngờ tới: một kho tang vật hẻo lánh dưới lòng đất Chí Hòa.

"Hai mươi ba giờ ba mươi," tôi lẩm bẩm, liếc nhìn chiếc đồng hồ Liên Xô cũ trên cổ tay trái. Kim phút vừa nhích qua số tám. Hai mươi mốt giờ bốn mươi phút. "Chúng ta còn đúng một tiếng năm mươi phút."

"Xe đặc chủng của Cục CSHS đang đợi ngoài cổng số ba đường Tô Hiến Thành," Thế Anh nói, giọng dứt khoát như một mệnh lệnh hành quân. "Tôi đã điều một trực thăng của Trung đoàn Không quân chín một bảy túc trực tại sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng tôi cần cuốn sổ đó. Và tôi cần một người biết cách nhập mã giải mã trên giao diện máy bay trinh sát."

Hoàng nhìn tôi. Tôi nhìn Đăng.

Đăng không nói một lời. Nó từ từ gập nắp chiếc hộp sắt lại, đưa hai tay trao chiếc hộp ra trước mặt tôi.

"Anh Vũ," giọng Đăng nhẹ như hơi thở của một đứa trẻ vừa thiếp đi sau cơn sốt. "Đưa chú Tuấn về nhà đi."

Tôi đón lấy chiếc hộp kim loại nặng trịch. Bề mặt hộp lạnh ngắt, cọ vào lớp da tê dại ở bàn tay trái của tôi. Một cảm giác buốt nhói chạy dọc sống lưng, nhưng lần này không phải vì xương sườn gãy.

Hạ Băng bước tới, đặt ngón tay lên cổ tay tôi, kiểm tra mạch đập. Nhịp tim tôi đập nhanh và nông, huyết áp chắc chắn không vượt quá tám mươi trên năm mươi. Chị rút từ túi áo blouse ra một ống tiêm thủy tinh chứa dung dịch không màu, không thèm hỏi ý kiến tôi, cắm thẳng mũi kim qua lớp áo sơ mi vào bắp tay phải.

Cơn sốc thuốc giảm đau liều cao bùng lên làm lồng ngực tôi nóng rực như có ai đổ cồn vào vết mổ.

"Morphine liều cuối cùng trong đêm nay," Hạ Băng nói, giọng lạnh tanh nhưng đuôi mắt chị khẽ giật. "Sau hai tiếng nữa, nếu anh không lên bàn mổ để khâu lại màng phổi, tôi sẽ là người trực tiếp ký giấy chứng tử cho anh tại nhà xác."

"Đủ thời gian rồi," tôi đáp, kéo vạt áo khoác dù phủ lên miệng bình áp lực âm, giấu chiếc hộp sắt vào dưới nách.

Thế Anh quay người, sải bước dài về phía cửa thoát hiểm số ba dẫn ra bãi đỗ xe phía sau phân trại. Lê Hoàng đi ngay sát sau lưng anh ta, tay vẫn không buông khỏi báng súng.

Tôi bước theo họ. Đi qua tâm vòng xoay Bát Quái, chân tôi giẫm lên tờ Quyết định số không một của Thường trực Ban Bí thư đang nằm bẹp trên nền đá lạnh. Vết máu từ đế giày tôi in đè lên dòng chữ "ĐÌNH CHỈ MỌI HOẠT ĐỘNG THANH TRA ĐỘC LẬP", biến nó thành một vệt màu đỏ thẫm méo mó.

Khi cánh cửa sắt cổng số ba mở toang ra màn đêm mù mịt của Sài Gòn, tiếng sấm đầu mùa lại ì ùng dội về từ phía sông Sài Gòn. Những hạt mưa nặng hạt bắt đầu quất rát mặt.

Đúng lúc đó, chiếc điện thoại Nokia cũ trong túi quần tôi rung lên bần bật.

Không phải chuông gọi. Là một tin nhắn SMS gửi từ một đầu số vệ tinh quốc tế không xác định.

Tôi móc máy ra, ngón tay dính máu gạt nhẹ phím bấm. Màn hình đơn sắc xanh lè chớp tắt hai lần dưới ánh đèn pha xe bọc thép, hiện lên một dòng văn bản vỏn vẹn mười hai chữ:

"TÀU HẢI ĐĂNG KHÔNG CHÍN KHÔNG CÓ THỦY THỦ ĐOÀN. NÓ LÀ MỘT KHỐI THUỐC NỔ."

0