Chương 83: Vỏ Đạn Dưới Đáy Bát Quái
Mưa tháng Bảy quất rát mặt kính chắn gió. Cần gạt nước của chiếc xe bán tải chém liên hồi vào màn nước đặc quánh, phát ra những tiếng ken két khô khốc trên mặt kính trầy xước.
Tôi ngồi ở ghế phụ, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau để ghìm lại từng cơn co rút từ mạn sườn trái. Liều thuốc giảm đau của Hạ Băng đã hết sạch tác dụng từ mười lăm phút trước. Mỗi lần Lê Hoàng đạp thô bạo vào chân ga để vượt qua một vũng nước ngập trên đường Ba Tháng Hai, đầu xương sườn số sáu bị gãy lại chọc thẳng vào màng phổi tạng. Vị tanh nồng của máu tươi dâng ngược lên cuống họng. Tôi nuốt khan, vị rỉ sắt đắng nghét bám chặt lấy cuống lưỡi.
Ở băng ghế sau, Hạ Băng một tay giữ chặt bình áp lực âm ba ngăn bằng nhựa mica, tay kia tì lên vai tôi để cố định thân người. Tiếng dịch màng phổi và bọt khí rột rẹt trào qua ống dẫn lưu silicon cắm sâu trong nách trái tôi, nhịp nhàng và ghê rợn như tiếng nước cống rãnh sủi tăm lúc nửa đêm.
"Huyết áp của anh tụt xuống tám mươi rồi," giọng Hạ Băng lạnh tanh, át cả tiếng gió rít qua khe cửa sổ. "Nếu không dừng lại để băng ép, phổi anh sẽ xẹp hoàn toàn trước khi xe vào tới cổng."
"Kệ mẹ nó," tôi càu nhàu, không quay đầu lại. "Hoàng, đạp thêm ga đi. Cắt qua đường Hòa Hảo."
Lê Hoàng không đáp. Gương mặt tay Đội trưởng Trọng án đanh lại như một khối đá hoa cương dưới ánh đèn pha vàng đục. Anh giật mạnh tay lái, chiếc xe chao nghiêng, bánh sau trượt một vệt dài trên mặt đường sình lầy trước khi lao thẳng vào con đường dẫn tới cổng sau Trại tạm giam Chí Hòa.
Cấu trúc hình bát giác của Chí Hòa lù lù hiện ra giữa màn mưa như một pháo đài bằng bê tông xám xịt bị bỏ quên từ thế kỷ trước. Toàn bộ khu nhà chính chìm trong bóng tối dày đặc. Trạm biến áp khu Bát Quái vừa bị cắt điện toàn phần. Không có ánh đèn cao áp quét qua tường bao, chỉ có vài đốm đèn pin bảo vệ lập lòe hỗn loạn ở các tháp canh phía xa.
Mùi khói dầu máy phát điện dự phòng chưa kịp khởi động quyện với mùi rác ẩm và mùi bùn đất xốc thẳng vào khoang mũi khi Hoàng hãm phanh sát chân tường rào phía cổng phụ đường Tô Hiến Thành.
"Thế Anh đã mang hai xe đặc chủng đuổi theo hướng phà Cần Giờ," Hoàng vừa rút khẩu súng ngắn quân dụng ra kiểm tra chốt an toàn, vừa nói cộc lốc. "Thằng Đăng đã tính trước từng bước. Nó thả mồi câu để dọn sạch vòng ngoài cho chuyến đột nhập này."
"Nó không chạy trốn," tôi mở cửa xe, chống chân xuống vũng nước ngập ngang mắt cá chân. Cơn đau thắt ngực khiến tầm nhìn của tôi tối sầm lại trong một phần mười giây. Tôi gượng đứng thẳng, ngón tay bấu chặt vào mép áo khoác để che đi đoạn ống silicon đang lủng lẳng bên hông. "Nó về đây để lấy thứ thuộc về thằng Tuấn."
Một bóng người mặc áo blouse trắng khoác ngoài quân phục lầm lũi bước ra từ cánh cửa sắt hẹp của trạm y tế tầng trệt. Thượng tá Bùi Văn Thiện cầm một chiếc đèn pin dã chiến loại bóng dây tóc vàng quạch, gương mặt hốc hác đầy những nếp nhăn khắc khổ.
"Tiếng súng nổ ở hầm B3," ông Thiện nói ngắn gọn, không một lời chào hỏi thừa thãi, đưa tay kéo hé cánh cửa sắt hoen gỉ. "Nó đi lối ống xả cặn của buồng máy giặt cũ. Hai trinh sát bảo vệ kho tang vật bị đánh ngất bằng đòn siết động mạch cảnh. Nhưng bên dưới đó... không chỉ có một mình nó."
"Còn ai nữa?" Hoàng bước nhanh tới, nòng súng chúc xuống đất theo đúng điều lệnh.
"Một tổ kỹ thuật của Ban Chuyên án cũ do thằng Kiên cài lại từ hôm qua," ông Thiện thì thầm, hơi thở nồng mùi dầu gió. "Bọn chúng mang theo máy hủy tài liệu bằng nhiệt và axit đậm đặc. Bọn chúng được lệnh thiêu hủy toàn bộ thùng tang vật số 408 trước khi Viện Kiểm sát tiếp quản vào sáng mai."
Tôi cắn chặt môi dưới, lấy cơn đau thể xác để đè bẹp cơn choáng đang dâng lên trong màng não. Vụ án hẻm Cầu Muối ba năm trước. Vỏ đạn chín mi-li-mét xuyên qua cuống tim của Tuấn. Những kẻ mặc vest ở văn phòng Thành ủy tưởng rằng chỉ cần bắn chết một viên cảnh sát hình sự quỳ gối trong hẻm cụt là có thể chôn vùi vĩnh viễn bí mật về năm ngàn lít dung môi bốc cháy trên cao nguyên.
Bọn chúng đã nhầm. Kẻ bị bỏ lại trong đám tro tàn năm ấy đã bò dậy từ nhà xác.
Chúng tôi lần theo cầu thang bộ bằng đá mài ẩm ướt dẫn xuống tầng hầm B3. Không khí dưới đáy khu Bát Quái đặc quánh mùi vôi ẩm, mùi chuột chết và mùi rỉ sét của những cánh cửa sắt đã bị đóng kín qua nhiều thập kỷ. Mỗi bước chân giẫm lên lớp nước đọng dưới sàn bê tông đều phát ra những âm thanh lép bép ghê người.
Hạ Băng đi sát sau lưng tôi, xách theo bình áp lực âm. Bàn tay cô lạnh ngắt chạm vào khuỷu tay tôi mỗi khi bước chân tôi lảo đảo vì hụt hơi. Chúng tôi không nói với nhau một câu nào. Dưới đáy này, mọi lời an ủi hay can ngăn đều trở nên trơ tráo và thừa thãi.
Ở cuối hành lang kỹ thuật, cánh cửa sắt dày mang biển số "KHO TANG VẬT SỐ BA" bị bẩy toạc chốt khóa cơ học. Vết cắt kim loại còn sáng lóa dưới ánh đèn pin. Mùi thuốc súng khét lẹt nồng nặc bốc ra từ bên trong, lấn át cả mùi ẩm mốc của những thùng hồ sơ lưu trữ.
Hoàng giơ tay ra hiệu dừng lại. Anh áp lưng vào vách tường gạch, nghiêng đầu nhìn qua khe cửa mở hé.
Bên trong căn phòng rộng chừng ba mươi mét vuông, ánh sáng đỏ quạch từ chiếc đèn bão dã chiến đặt trên sàn xi măng hắt lên những kệ sắt rỉ sét cao chạm trần. Trên sàn nhà, một gã đàn ông mặc thường phục nằm bất động trong vũng máu loãng, khẩu súng ngắn văng cách bàn tay gã nửa mét. Một chiếc bình kim loại chứa axit đậm đặc bị đổ nghiêng, chất lỏng sủi bọt xèo xèo gặm nham nhở lớp bê tông sàn nhà.
Ở góc sâu nhất của căn phòng, dưới kệ sắt mang nhãn "CHUYÊN ÁN NĂM 2021", một bóng người gầy guộc đang quỳ gối.
Nguyễn Minh Đăng.
Cậu ta mặc chiếc áo thun đen rộng thùng thình lấy từ phòng trực trạm xá, ống tay áo xắn cao để lộ vết sẹo bỏng co rút kéo dài từ cổ tay lên tận nách. Khuôn mặt cậu ta trắng bệch như sáp nến của một kẻ vừa bước ra từ tủ đông nhà xác, nhưng đôi mắt thì rực lên một thứ ánh sáng lạnh lẽo, khô khốc và điên cuồng.
Trên đùi Đăng là chiếc hộp kim loại sơn màu xanh quân sự có dán niêm phong đỏ mang số hiệu "408/TL-PC02". Cậu ta không dùng kìm bẻ khóa. Ngón tay trỏ dính đầy máu khô của cậu ta đang cẩn thận cạy từng mép băng keo niêm phong, chậm rãi và tỉ mỉ như một đứa trẻ đang bóc một món quà sinh nhật đã trễ hẹn suốt ba năm.
"Đăng," tôi cất tiếng. Giọng tôi khàn đặc, vỡ ra thành từng mảnh vụn giữa không gian ngột ngạt.
Bàn tay cậu ta khựng lại đúng nửa nhịp. Không hề có sự giật mình hay hoảng loạn. Đăng từ từ ngẩng đầu lên. Ánh sáng leo lét của ngọn đèn bão phản chiếu trong con ngươi đen lánh của cậu ta một sự tĩnh lặng đến rợn gười.
"Anh Vũ," Đăng thì thầm, khóe môi nứt nẻ khẽ nhếch lên. "Anh đến muộn mười lăm phút. Chiếc Land Cruiser của thằng Kiên vừa bị em bắn nổ lốp ngoài ngã tư Lê Hồng Phong. Còn thằng này..." Cậu ta chỉ mũi dao mổ dính máu về phía cái xác dưới sàn, "...nó định đổ axit vào túi hồ sơ của chú Tuấn."
Lê Hoàng bước vào phòng, hạ nòng súng xuống nhưng ngón tay vẫn đặt hờ trên vành cò. "Đăng, bỏ con dao xuống. Chuyên án đã được Viện Kiểm sát Tối cao tiếp quản. Mọi tài liệu này sẽ được chuyển thẳng ra Hà Nội trong đêm nay."
Đăng bật cười. Một chuỗi cười khô khốc rít qua kẽ răng, nghe như tiếng kim loại cọ vào đá.
"Ra Hà Nội?" Cậu ta ngước nhìn Hoàng, ánh mắt đầy vẻ mỉa mai tàn nhẫn. "Để làm gì, Đội trưởng? Để người ta lập một hội đồng thẩm định, rồi ba năm sau lại có một công điện hỏa tốc khác đóng dấu Tuyệt Mật chuyển nó vào kho lưu trữ vĩnh viễn à? Hay để người ta thương lượng xem cái mỏ đất hiếm hai tỷ rưỡi đô la đó nên chia cho tập đoàn nào thì đúng quy trình?"
Cậu ta giật tung nắp hộp sắt.
Bên trong không có vàng bạc hay những tập hồ sơ dày cộp. Chỉ có một chiếc túi ni-lông nhỏ chứa ba cuộn băng ghi âm cũ kỹ, một cuốn sổ tay bìa bọc vải dù đã mục nát các góc, và một chiếc lọ thủy tinh nút cao su đựng một mẩu kim loại nhỏ xíu bằng đầu ngón tay út.
Một vỏ đạn chín mi-li-mét đã biến dạng phần đuôi, bị ám muội đen sì.
Đăng run rẩy nhấc chiếc lọ thủy tinh lên. Dưới ánh đèn bão, lớp muội đồng ánh lên một vệt sáng lạnh lẽo.
"Ba năm trước, chú Tuấn mang cái này về trạm xá của bác Thiện lúc hai giờ sáng," giọng Đăng chùng xuống, nghẹn lại trong lồng ngực. "Chú ấy bị bắn vào phổi. Máu trào ra đầy áo sơ mi nhưng chú ấy không chịu vào viện. Chú ấy bảo em: 'Đen, mày giữ lấy cái này. Đây là viên đạn bắn từ khẩu súng quân dụng của trinh sát Cục. Bọn nó không phải nhầm tao với tội phạm. Bọn nó bắn để tao không bao giờ quay lại Đà Lạt được nữa.'"
Căn phòng chìm vào một khoảng im lặng chết chóc. Chỉ còn tiếng mưa gầm rú trên các đường ống xả cặn trên trần bê tông và tiếng thở dốc nặng nhọc của tôi.
Tôi bước thêm hai bước về phía trước. Mỗi bước đi là một mũi dao xoắn vào mạn sườn. Tôi nhìn vào chiếc lọ thủy tinh trong tay cậu ta.
Ba năm trước. Con hẻm Cầu Muối ngập bùn đen và rác rưởi. Tôi đã đứng ở đầu hẻm, cầm bộ đàm ra lệnh cho phân đội trinh sát rút lui vì phát hiện điểm mù hỏa lực. Nhưng chiếc xe U-oát tiếp ứng không bao giờ tới. Lệnh rút quân bị ký đè bởi một công điện mật mang bí danh K.09. Tuấn đã nằm lại ở góc tường gạch đổ nát, tay vẫn nắm chặt chùm chìa khóa tủ tài liệu.
Suốt ba năm qua, tôi đã sống như một con chó hoang dạt về gác xép Quận 4. Tôi uống thứ rượu rẻ tiền đến mức cháy cả niêm mạc dạ dày, nuốt những viên thuốc an thần đắng ngắt để không phải nhìn thấy ánh mắt của Tuấn trong những cơn ác mộng. Tôi đã tự lừa dối bản thân rằng đó chỉ là một sự cố chiến thuật, một sai lầm của một kẻ đội phó kiêu ngạo.
Tôi mở danh bạ điện thoại trong đầu. Dòng chữ số hiệu sĩ quan của Tuấn hiện lên mồn một. Tôi đưa tay lên ngực trái, nơi chiếc kẹp tóc nhôm hình con bướm của người phụ nữ đã chết cháy hai mươi năm trước đang nằm cạnh vết mổ rỉ máu. Lớp vỏ bất cần, mỉa mai mà tôi dày công xây dựng suốt ngàn ngày qua bỗng nứt toác ra một khe hở sâu hoắm. Cổ họng tôi nghẹn đắng. Tôi muốn nói một điều gì đó với thằng bé trước mặt, một lời tạ tội, một câu xin lỗi muộn màng cho sự hèn nhát của chính mình.
Nhưng rồi cơn đau dữ dội từ xương sườn gãy thốc ngược lên màng phổi tạng bẻ gãy mọi xúc cảm vừa chớm nở. Tôi cắn chặt răng, nhổ một bãi bọt lẫn máu tươi xuống sàn xi măng lạnh ngắt, rồi ngẩng đầu lên, nhếch mép buông một câu cộc lốc:
"Cầm cái vỏ đạn rỉ đó thì giải quyết được cái đếch gì, hả Đăng?"
Đăng sững người nhìn tôi.
"Mày tưởng mày cầm nó là trả xong nợ cho thằng Tuấn à?" Tôi tiến sát lại mép kệ sắt, giọng lạnh lùng như băng đá. "Mày dùng kali clorua làm tim mày ngừng đập sáu tiếng, mày bò ra khỏi tủ đông nhà xác, mày giết thêm một thằng tay sai dưới tầng hầm này... rồi sao nữa? Mày định bắn thêm ai? Bắn cả cái thành phố này chắc?"
"Em không bắn cái thành phố này," Đăng ngước lên, hai mắt đỏ ngầu. "Em chỉ muốn những kẻ đã ký vào lệnh điều động chú Tuấn phải nhìn thấy thứ này trước khi chúng chết."
"Những kẻ đó đã bị tống lên xe bọc thép về T16 từ chiều rồi," Lê Hoàng lên tiếng, giọng trầm và dứt khoát. "Trần Đình Cửu, Đỗ Khắc Khiêm, Trịnh Văn Phát, Bùi Khắc Viễn. Không còn một đứa nào ngồi trên chiếc ghế bọc da của chúng nữa. Bản án của pháp luật đã bắt đầu thi hành."
"Pháp luật?" Đăng siết chặt chiếc lọ thủy tinh trong lòng bàn tay, mảnh thủy tinh mỏng nứt ra phát ra tiếng rắc rắc nhỏ vụn. "Nếu pháp luật có mắt, mẹ em đã không phải dập cầu dao nhốt mười hai đứa trẻ xuống hầm đá chẻ để chờ chết ngạt. Nếu pháp luật có mắt, chú Tuấn đã không phải chết cô độc trong một con hẻm ngập rác!"
"Mẹ mày không nhốt lũ trẻ để chờ chết," tôi gằn từng tiếng, từng từ phát ra như búa gõ vào lồng ngực mình. "Bà ấy dập cầu dao vì tưởng rằng chiếc xe U-oát của ông Bản sẽ tới đón kịp trước khi dầu bốc cháy. Bà ấy đã tin vào đồng đội của mình cho đến hơi thở cuối cùng."
Tôi thò tay vào túi áo trong, rút ra cuốn sổ tay bìa da bò sờn góc của cậu ta đặt mạnh lên mặt kệ sắt bên cạnh chiếc hộp tang vật.
"Và thằng Tuấn cũng vậy. Nó chưa từng hối hận vì đã vào ngành này. Nó chết vì nó muốn mày và những đứa trẻ còn lại được sống như những con người đàng hoàng, chứ không phải một lũ chuột cống chui rúc dưới hầm ngầm cầm súng bắn lén sau lưng người khác."
Đăng nhìn chằm chằm vào cuốn sổ tay vẽ hoa dã quỳ. Những ngón tay đang run rẩy của cậu ta khẽ buông lỏng. Con dao mổ số 11 rơi keng xuống sàn xi măng, cắm ngập vào một khe nứt bê tông.
Đúng lúc đó, từ chiếc túi áo khoác của gã đàn ông nằm chết dưới sàn, một thiết bị vô tuyến dã chiến bỗng phát ra những tiếng rè rè chói tai.
Một giọng nói trầm đục, mang đậm âm sắc miền Trung vang lên qua loa phóng thanh của máy bộ đàm:
"Tổ một báo cáo. Đã xử lý xong toàn bộ thùng tài liệu số 408 chưa? Đoàn kiểm sát đặc biệt của Bộ Quốc phòng vừa chuyển hướng, ba phút nữa sẽ phong tỏa toàn bộ khu Bát Quái. Nếu can phạm Nguyễn Minh Đăng xuất hiện, tiêu diệt tại chỗ. Nhắc lại: Tiêu diệt tại chỗ, không để lại nhân chứng sống."
Hoàng lập tức bước tới, dùng mũi giày đạp nát chiếc máy bộ đàm thành từng mảnh vụn nhựa.
Nhưng tôi không nhìn chiếc máy vỡ. Ánh mắt tôi đang dán chặt vào mặt sau của nắp hộp kim loại "408/TL-PC02" mà Đăng vừa cạy tung.
Ở góc trong cùng của nắp hộp, dưới một lớp sơn chống rỉ màu xám vừa bị cạo tróc bởi lưỡi dao mổ, không phải là số hiệu nghiệp vụ của Đội Trọng án.
Đó là một dòng chữ khắc chìm bằng máy dập kim loại công nghiệp, phủ một lớp sơn phản quang màu vàng chanh:
"KHO QUÂN KHÍ K-86 // LÔ ĐẠN 9X19-MM // MÃ CẤP PHÁT ĐẶC BIỆT: V-01 // NGÀY XUẤT XƯỞNG: 10/11/2004."
Máu trong người tôi dường như đông cứng lại.
Mã cấp phát V-01. Cùng một ngày xuất xưởng với lô dầu diezen năm ngàn lít đưa lên đồi thông Đà Lạt hai mươi năm trước.
Viên đạn bắn chết Nguyễn Tuấn ba năm trước tại hẻm Cầu Muối không phải lấy từ kho tang vật của Công an Thành phố. Nó được rút ra từ kho vũ khí bảo mật tối cao của một người chưa từng bị bất kỳ lệnh bắt nào của Viện Kiểm sát Tối cao chạm tới trong suốt bốn mươi tám giờ qua.
Một tiếng còi báo động xé toạc màn đêm phía trên sân trại giam Chí Hòa, kèm theo tiếng gầm rú của những chiếc xe bọc thép đang hãm phanh nghiến nát mặt đường nhựa.
"Anh Vũ," Hạ Băng đột ngột nắm lấy cổ tay tôi, ánh mắt cô mở to khi nhìn vào dòng mã số phản quang trên nắp hộp sắt. "Mã V-01... đó là chữ ký quân nhu của..."
Lời cô chưa kịp dứt thì toàn bộ hệ thống còi hú trên nóc khu Bát Quái đột ngột tắt lịm. Một giọng nói vang vọng qua hệ thống loa phóng thanh công cộng của toàn trại giam:
"Trần Vũ. Lê Hoàng. Tôi biết các anh đang ở dưới hầm số Ba. Hãy mang chiếc hộp kim loại bước lên sảnh chính trong vòng sáu mươi giây. Lệnh phong tỏa đặc biệt của Bộ Quốc phòng... vừa được tôi ký hủy bỏ."
Đó là giọng nói của Thượng tá Đặng Thế Anh.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.