Honkai Impact 3Rd: The Fourteenth Flame

Chương 5: Mảnh Đất Ven Rừng

Đăng: 02/11/2026 23:42 7,137 từ 4 lượt đọc

​Dầu nhờn đen kịt nhỏ từng giọt đặc quánh từ kẽ nứt của hộp số gang xuống vũng nước mưa đọng dưới đáy hố móng, loang ra thành những vầng sắc cầu vồng nhợt nhạt dưới ánh đèn pin kẹp trên vành mũ vải.

​Ren Astrax nằm ngửa trên tấm ván gỗ thông ẩm mục đặt lót dưới gầm trạm bơm thủy lợi số Ba, hai bả vai tì sát vào lớp sỏi đá lạnh ngắt của vùng đất trũng ven rừng Oakhaven. Trong khoảng không gian chật hẹp chỉ cao hơn mặt đất chừng bốn tấc, mùi dầu diesel cháy dở hòa quyện với mùi bùn non tanh nồng và mùi rêu ẩm mốc lâu ngày bốc lên nồng nặc.

​Cậu vươn bàn tay phải cầm chiếc cờ-lê mỏ lết bằng thép đúc nặng ba cân, ngoạm chặt hàm kẹp vào con bu-lông rỉ sét to bằng nắm tay đang giữ mặt bích của trục tuabin chính.

​Các thớ cơ nơi cẳng tay trần xắn cao ống áo sơ mi vải thô căng phồng lên dưới lớp da rám nắng. Ren nghiến nhẹ hàm răng, dồn lực bả vai kéo mạnh cán cờ-lê về phía ngực.

​Két... rắc.

​Lớp rỉ sắt màu nâu đỏ đóng vảy quanh chân ren sau mười năm vận hành quá tải vỡ vụn ra, rơi lả tả xuống cằm và cổ áo của người thợ máy. Con bu-lông thứ tư nhích đi một phần tư vòng.

“Chốt van xả áp ở đầu ống dẫn phía bắc mở ra được chưa hả chú em?” Giọng ông già Caleb vang lên ồm ồm từ phía trên miệng hố móng, kèm theo tiếng đế ủng cao su lội bì bõm trong bùn lầy. “Áp kế trên bồn chứa phụ vẫn đứng im ở vạch đỏ này. Mùa gieo hạt mạch đen năm nay mà trễ thêm ba hôm nữa là cả cái thung lũng phía đông nhai rơm thay cơm đấy.”

​Ren dùng mu bàn tay trái quệt ngang vệt dầu mỡ lẫn mồ hôi đang chảy qua thái dương, để lại một vệt nhọ đen bóng trên gò má góc cạnh.

“Cánh quạt hút ở buồng dưới bị một mảnh đá cuội chèn gãy mất hai răng truyền động rồi, bác Caleb.” Ren vọng lên từ dưới gầm máy, giọng trầm khàn dội trong lòng hố bê tông hẹp. “Bác dập giùm tôi cần ngắt nhiên liệu trên bệ máy đi hai phút. Tôi nắn lại khớp bánh răng xong là cho đề nổ chạy thử được ngay.”

Tiếng cần gạt sắt trên bệ máy dập xuống cái cạch, tiếp theo là tiếng rền rĩ nặng nhọc của khối động cơ đốt trong đời cổ tắt lịm, trả lại cho sườn đồi tiếng gió rừng thổi xào xạc qua những tán cây sồi lá đỏ cao vút của hành tinh biên viễn Oakhaven.

​Kể từ ngày bước ra khỏi tầng ngầm Quân y viện Trung ương Tellus với năm tầng phong ấn khóa chặt trong vỏ não, hai mùa thu hoạch của vành đai sao ngoài cùng đã trôi qua.

Những tháng ngày đầu tiên sau khi rời Tellus, Ren Astrax khoác chiếc túi vải bạt cũ lên vai, mua vé hạng bét trên những chuyến tàu chở quặng và tàu buôn gia súc để lang thang qua hơn một chục hành tinh biên viễn vừa bước vào thời kỳ tái thiết hậu chiến. Cậu từng làm thợ hàn vỏ tàu ở cảng bụi sao Kryos, làm người khuân vác gỗ xẻ ở vùng đầm lầy sương mù Velmora, trước khi đặt chân xuống mảnh đất nông nghiệp nằm lọt thỏm giữa những cánh rừng nguyên sinh của thuộc địa Oakhaven này từ hơn một năm trước.

​Tại cái xóm nhỏ chỉ có hơn tám mươi hộ dân di cư sống bằng nghề trồng lúa mạch đen và chăn thả cừu lông dài này, chẳng một ai biết tới cái tên của vị cựu Thống soái Hạm đội Bạc từng một mình nghiền nát Pháo đài Lõi 01 tại vành đai Kren-9. Đối với những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn nơi đây, gã thanh niên tóc đen có vết sẹo khô màu sẫm bên cổ phải chỉ đơn giản là "cậu Ren thợ máy" - người sẵn sàng nhận sửa bất kỳ chiếc máy cày gãy trục hay máy bơm nước hỏng van nào với giá công chỉ bằng một túi khoai củ hoặc vài ổ bánh mì đen mới ra lò.

​Dưới gầm trạm bơm tối om, Ren đặt chiếc cờ-lê mỏ lết xuống bên sườn, đưa hai tay trần áp thẳng vào lớp vỏ gang dày hai phân của bầu chứa bánh răng tuabin.

​Đôi bàn tay của cậu giờ đây đã mang một diện mạo hoàn toàn khác với đôi bàn tay từng đeo găng da điều khiển chiến giáp Vanguard-Zero hay cầm bút ký sắc lệnh hành quân trên kỳ hạm Astraea. Lòng bàn tay và mặt trong của cả mười đốt ngón tay phủ kín một lớp chai dày cộm, cứng và vàng sẫm như sừng trâu vì hàng ngàn giờ đồng hồ cầm búa sắt, vặn cờ-lê và kéo cáp thép. Dưới các kẽ móng tay cắt ngắn sát thịt, dầu máy công nghiệp và bụi than đá đã ngấm sâu vào từng đường vân da, tạo thành những đường viền đen sẫm mà dù có cọ rửa bằng xà phòng kiềm hay cát suối bao nhiêu lần vẫn giữ nguyên màu thợ thuyền.

​Ren nhắm mắt lại, điều động luồng năng lượng ba phần trăm nhỏ nhoi còn rỉ qua khe khóa tâm linh ngoài cùng truyền xuống mười đầu ngón tay.

​Một gợn sóng hấp dẫn vi mô êm ái như dòng nước ấm xuyên qua lớp vỏ gang đặc, bao bọc lấy hai chiếc răng bánh đà bị gãy rời đang nằm kẹt cứng bên trong buồng trục.

​Sau khi bóp vụn mảnh đá cuội gây kẹt thành bột mịn, bằng sự kiểm soát chuẩn xác tới từng phần ngàn milimet, Ren dùng lực nén trọng trường cục bộ ép hai mảnh kim loại gãy khớp khít trở lại vị trí cũ trên bánh đà, đồng thời kích thích các nguyên tử sắt ở hai mặt cắt dao động ở tần số cao để chúng tự hàn gắn liên kết mạng tinh thể lại với nhau ở trạng thái nguội.

​Bên dưới dải cổ áo sơ mi vải bố, mảng sẹo hoại tử cũ đã đóng vảy phẳng lì bên cổ phải giữ nguyên nhiệt độ bình thường, hoàn toàn yên ả trước mức tiêu hao năng lượng nhỏ bé ấy.

​Ren rút tay khỏi bầu gang, cầm lại chiếc cờ-lê mỏ lết gõ mạnh ba tiếng cốp, cốp, cốp vào thân ống thép để làm hiệu, rồi vặn siết con bu-lông cuối cùng vào đúng khớp khóa.

“Mở lại van nhiên liệu rồi đề máy đi bác Caleb.” Ren chống khuỷu tay trườn người ra khỏi gầm máy, phủi lớp bùn khô bám đầy sau lưng áo. “Kéo cần ga lên mức ba phần tư thôi cho dầu bôi trơn kịp bơm lên trục mới.”

​Ông già Caleb với bộ râu quai nón bạc trắng như cước đứng bên bệ điều khiển gật đầu cái rụp, kéo mạnh tay gạt khởi động bằng đồng.

​Khối động cơ diesel rùng mình, nhả ra một bụm khói đen khét lẹt từ ống xả thẳng đứng rồi bắt đầu nổ giòn giã: Pình... pình... pình... pình...

​Dưới lòng đất chân đồi, hệ thống cánh quạt tuabin vừa được hàn gắn lại quay tít một cách trơn tru, êm ru. Chỉ sau năm giây đồng hồ, một tiếng ục lớn vang lên dọc theo đường ống dẫn bằng sắt tráng kẽm, rồi dòng nước suối trong vắt từ hồ chứa dưới thung lũng phun trào ra khỏi miệng vòi xả chính, đổ ào ạt vào hệ thống mương tưới tiêu đang khô nẻ chạy dọc theo cánh đồng lúa mạch mới nhú mầm xanh.

“Hảo thủ! Đúng là bàn tay vàng của đất Oakhaven này mà!” Ông già Caleb vỗ đùi đánh đét, cười ha hả để lộ hàm răng sứt mất hai chiếc răng cửa, rồi cúi xuống nhặt một chiếc khăn vải bông còn tương đối sạch ném cho Ren. “Thợ máy của công ty cung ứng trên thị trấn tuần trước xuống xem đòi thay nguyên cụm hộp số mới mất đứt bốn trăm đồng tín dụng, thế mà cậu chui xuống gầm gõ búa loay hoay có một buổi chiều là nước lại chảy ầm ầm.”

​Ren đón lấy chiếc khăn, lau qua lớp dầu mỡ đen nhẻm trên hai bàn tay chai sần rồi cúi xuống nhặt đám cờ-lê, kìm cộng lực và tuốc-nơ-vít xếp gọn vào chiếc hòm đồ nghề bằng tôn cũ kỹ.

“Hộp số đời cũ đúc bằng gang dày lắm, chỉ bị lệch trục với mẻ chút góc răng thôi bác ạ.” Ren đóng nắp hòm đồ nghề lại, cài chốt sắt kêu cái tách. “Hết đợt bơm nước gieo hạt này, bác tháo nắp hộp số ra đổ thêm cho nó hai lít mỡ bò đặc là chạy êm thêm được vài năm nữa.”

​Cậu vừa xách hòm đồ nghề đứng thẳng lưng dậy, vươn vai một cái cho giãn các đốt sống lưng mỏi nhừ thì từ phía con đường mòn chạy dọc theo bìa rừng thông đỏ phía bắc, tiếng còi hơi của một chiếc xe kéo nông nghiệp bỗng rú lên từng hồi gấp gáp, đứt quãng.

​Một thiếu niên chừng mười lăm tuổi đội mũ lưỡi trai vải dạ, quần áo lấm lem bùn đất từ đầu đến chân đang chạy hộc tốc xuống dốc đồi, vừa chạy vừa vẫy hai tay loạn xạ về phía trạm bơm.

“Ông nội ơi! Anh Ren ơi!” Thằng bé Toby, cháu nội của ông Caleb, chạy tới nơi thì chống hai tay lên đầu gối thở hồng hộc, hơi thở phả ra thành khói trắng trong cái lạnh chiều muộn. “Trên... trên đèo Hẻm Đá... đoàn xe của bọn người mới tới bị kẹt cứng trên đó rồi.”

Caleb nhíu mày, bước vội tới đỡ lấy vai đứa cháu:

“Đoàn xe của năm hộ dân tị nạn từ hành tinh Vesta chuyển về hôm nay ấy hả? Sao lại kẹt, đường đèo mới san ủi lại từ tuần trước cơ mà?”

“Mưa lớn đêm qua làm sập một mảng đất ở vách núi phía đông.” Toby nuốt nước bọt, chỉ tay ngược lên phía sườn núi đang bị sương mù màu tím sẫm bao phủ. “Cái cây sồi sắt cổ thụ mọc trên đỉnh vách đá bị bật gốc, đổ chắn ngang qua đúng chỗ cua hẹp nhất của đèo. Ngọn cây đập trúng thùng sau chiếc xe kéo chở đồ đạc của nhà chú Jonas làm gãy mất một bên trục bánh xe. Bố cháu với mấy chú thanh niên trong làng đã mang chiếc máy kéo hạng nặng lên buộc cáp thép vào kéo thử hai lần rồi, mà thân cây ngấm nước nặng quá, dây cáp nổ đứt đôi suýt nữa thì quật vỡ kính chắn gió.”

​Ông già Caleb biến sắc, ngước mắt nhìn lên bầu trời phía đỉnh núi Oakhaven.

​Ở các hành tinh biên viễn nằm sát rìa hệ sao lạnh lẽo này, ngay khi mặt trời lặn xuống sau rặng núi vào lúc sáu giờ chiều, nhiệt độ trên các sườn đèo cao sẽ tụt thẳng xuống âm mười lăm độ C kèm theo những trận gió băng sắc như dao cạo. Để năm gia đình di dân có cả người già lẫn trẻ nhỏ mắc kẹt giữa hẻm núi trống trải qua đêm đồng nghĩa với việc sẽ có người chết cóng trước khi mặt trời mọc.

“Máy xúc cơ giới của trạm lâm nghiệp thì đang nằm sửa động cơ ở cách đây bốn mươi dặm…” Caleb dậm chân xuống đất bùn. “Giờ có huy động cả làng cầm cưa tay với rìu sắt chạy lên đó cưa đứt được cái thân cây sồi sắt đường kính hai thước ấy thì cũng phải mất tới nửa đêm.”

​Ren nhìn lên vệt sương mù đang trườn dần xuống các ngọn thông trên đèo, rồi cúi xuống đặt chiếc hòm đồ nghề nhỏ vào lại thùng xe ba bánh của mình. Cậu lôi từ dưới gầm xe ra một cuộn dây xích sắt có mắt xích to bằng ngón chân cái - vốn là đoạn xích neo cần trục tàu hàng mà cậu xin được hồi làm thợ hàn ở cảng Kryos - vác gọn lên bả vai phải.

“Bác Caleb ở lại đây canh van nước tưới đi.” Ren vừa nói vừa bước lên yên chiếc xe máy ba bánh chạy dầu của mình, đạp mạnh cần khởi động. “Toby, nhảy lên thùng sau ngồi giữ chặt cuộn xích sắt cho anh. Chúng ta lên đèo xem sao.”

​Chiếc xe ba bánh gầm lên một tiếng giòn giã, bánh lốp gai to bản cày tung lớp bùn nhão rồi lao vút lên con dốc đất đỏ dẫn về phía đèo Hẻm Đá.

​Con đường mòn xuyên qua cánh rừng nguyên sinh Oakhaven càng lên cao càng dốc đứng và trơn trượt. Hai bên đường, những thân cây sồi sắt với thớ gỗ cứng và nặng tới mức chìm nghỉm dưới nước vươn thẳng lên bầu trời chiều xám xịt như những cây cột trụ bằng đồng đen. Gió núi mang theo hơi lạnh buốt giá của băng tuyết trên đỉnh đèo quất ràn rạt vào mặt Ren, làm vạt áo khoác da cũ của cậu bay phần phật.

​Sau mười lăm phút vượt dốc, khúc cua tay áo của đèo Hẻm Đá hiện ra giữa một màn sương mù dày đặc sặc mùi khói dầu cháy và mùi nhựa cây rừng.

​Cảnh tượng trước mắt ngổn ngang như một bãi chiến trường thu nhỏ.

​Một thân cây sồi sắt cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm, đường kính gốc to hơn cả chiều cao của một người trưởng thành, đang nằm vắt ngang qua toàn bộ mặt đường đất rộng sáu thước, một đầu gốc đầy đất đá tựa vào vách núi dựng đứng, còn phần ngọn sum suê cành lá thì thò hẳn ra ngoài mép vực sâu thăm thẳm phía bên trái. Ngay bên dưới một nhánh cây to ở phần thân giữa, chiếc rơ-moóc bằng gỗ chở đầy chăn đệm, nồi niêu và hạt giống của đoàn người tị nạn đang bị đè nghiêng sang một bên, bánh sắt bên trái đã gãy rời khỏi trục.

​Quanh đống lửa nhỏ nhóm vội dưới chân vách đá để sưởi ấm, khoảng gần hai mươi con người, những người đàn ông mặc áo bông rách rưới, những người phụ nữ quấn khăn len kín đầu và sáu, bảy đứa trẻ mặt mũi tái mét vì lạnh, đang đứng co cụm lại bên nhau, ánh mắt vừa bất lực vừa hoảng sợ nhìn chiếc máy kéo nông nghiệp bánh xích của làng Oakhaven đang gầm rú trong tuyệt vọng.

​Chiếc máy kéo sơn màu vàng cam cố gắng lùi giật cục, hai dải xích sắt quay tít cày nát mặt đường đá dăm làm bùn đất bắn lên tận nóc buồng lái, nhưng cái thân cây sồi sắt nặng ngót nghét hai mươi tấn vẫn nằm trơ trơ như một khối đá tảng đúc liền với mặt đất.

​Ren bóp phanh dừng chiếc xe ba bánh lại ở rìa đám đông, nhảy xuống đất rồi vác cuộn xích sắt nặng bốn mươi cân trên vai bước thẳng tới chỗ chiếc máy kéo.

“Dừng máy lại đi chú Sam, cháy bố nồi côn bây giờ.” Ren vỗ mạnh bàn tay lên nắp ca-pô đang bốc hơi nước nghi ngút của chiếc máy kéo.

​Người đàn ông trung niên trong buồng lái vội vàng đạp côn, kéo cần số về mo rồi thò đầu ra ngoài cửa sổ, khuôn mặt đỏ gay gắt đầm đìa mồ hôi dù trời đang rét căm căm:

“Cậu Ren đấy à? May quá cậu lên đây rồi. Cái gốc sồi sắt này nó ngấm nước mưa suốt cả tháng nay, nặng chẳng khác gì một khối quặng chì cả. Cáp thép của tời kéo đứt mất hai sợi rồi, giờ sức kéo của con máy cày này chỉ nhấc nổi chừng năm, sáu tấn là kịch kim thôi.”

​Một người đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi có dáng người gầy gò, ống quần bên phải xắn cao để lộ một chiếc chân giả bằng nhôm thô sơ của thương binh thời chiến, tập tễnh bước nhanh từ chỗ chiếc rơ-moóc bị đè gãy bánh lại gần Ren. Đó là Jonas - người đứng đầu nhóm năm hộ gia đình di dân vừa chuyển tới.

“Anh... anh là thợ máy của làng Oakhaven phải chăng?” Jonas nắm lấy khuỷu tay áo dính đầy dầu mỡ của Ren, giọng nói khẩn khoản run lên vì cái lạnh đang cắt da cắt thịt. “Toàn bộ số lúa giống cho vụ mới và bếp sưởi của năm hộ chúng tôi đều nằm dưới gầm chiếc xe kéo bị cành cây đè kia cả. Nếu bỏ xe lại đây để đi bộ qua đèo thì lũ trẻ sẽ chết cóng trong tuần tới mất. Anh xem có cách nào tháo rời cái trục bánh xe ra để lôi thùng hàng ra trước được không?”

​Ren nhìn qua vai Jonas. Cách đó vài bước chân, một người phụ nữ có khuôn mặt hiền hậu nhưng xanh xao đang ngồi trên một chiếc hòm gỗ, dùng vạt áo khoác bông của mình ủ ấm cho một bé gái chừng bảy tuổi đang ôm chặt con búp bê vải rách và run cầm cập.

​Ánh mắt xanh biển của Ren dịu xuống. Cậu đặt nhẹ bàn tay chai sần của mình lên mu bàn tay đang lạnh cóng của Jonas, vỗ nhẹ một cái trấn an:

“Anh cứ đưa vợ con vào ngồi sát bên đống lửa dưới chân vách đá cho khuất gió đi. Chúng tôi sẽ dọn sạch cái cây này ra khỏi mặt đường trong mười phút nữa, cả xe lẫn hàng của gia đình anh đều sẽ xuống núi nguyên vẹn.”

​Jonas ngẩn người nhìn cái gốc cây khổng lồ to bằng cả gian nhà gỗ, định mở miệng hỏi làm sao chỉ với một chiếc máy kéo nông nghiệp nhỏ bé và mấy người đàn ông tay trần lại có thể xê dịch nổi khối gỗ hai mươi tấn ấy, nhưng bắt gặp ánh mắt bình thản, vững chãi lạ thường của người thợ máy trẻ tuổi, anh lại bất giác gật đầu rồi tập tễnh lùi về phía gia đình mình.

​Ren hạ cuộn xích sắt trên vai xuống mặt đường lầy lội, phát ra một tiếng xoảng nặng nề.

“Chú Sam, chú lùi đuôi máy kéo lại sát gốc cây thêm hai thước nữa!” Ren vừa nói vừa kéo một đầu dây xích sắt luồn qua móc kéo bằng thép đúc ở đuôi máy cày, khóa chốt chữ U lại thật chặt. “Toby, bảo mấy chú thanh niên đứng lùi hết về phía sau vách đá cách xa thân cây hai mươi bước chân nhé. Dây xích sắt mà căng quá mức dễ văng mảnh lắm, đứng gần nguy hiểm.”

“Thế còn cậu thì sao, Ren?” Ông Sam thò đầu ra khỏi buồng lái lo lắng hỏi. “Cậu định đứng sát cái gốc cây đó để chèn đòn bẩy à?”

“Cháu đứng ở góc khuất phía sau bệ rễ cây để dùng xà beng bẩy cái hòn đá kê dưới gốc ra, chỗ đó có tảng đá núi che chắn rồi chú đừng lo.” Ren cầm đầu dây xích còn lại bước tới phần gốc to nhất của cây sồi sắt cổ thụ, quấn hai vòng quanh thân gỗ xù xì rồi móc khóa lại.

​Cậu nhặt một thanh xà beng bằng sắt đặc dài một thước rưỡi từ thùng xe của ông Sam lên, bước vòng ra phía sau bộ rễ cây đồ sộ đang bám đầy đất sét đỏ.

​Ở vị trí này, tấm lưng rộng của Ren cùng toàn bộ phần gốc cây sồi hoàn toàn bị che khuất khỏi tầm mắt của đám đông người tị nạn và cả gương chiếu hậu của chiếc máy kéo bởi một đám mây hơi nước trắng xóa đang phụt ra từ két nước làm mát sôi sùng sục của động cơ cùng màn sương mù dày đặc của buổi chiều tà.

“Khi nào cháu hô thì chú cài số một rồi đạp hết ga tiến lên phía trước nhé, chú Sam!” Ren hô lớn từ sau màn hơi nước trắng đục.

“Nghe rõ rồi. Cẩn thận cái chân đấy nhé chàng trai!”

Ren dùng tay trái cắm mũi nhọn của thanh xà beng vào khe đá kê sát gốc cây để làm điểm tựa giả.

Trong khi đó, bàn tay phải trần trụi của cậu từ từ vươn ra, năm ngón tay xòe rộng áp chặt lên lớp vỏ cây sồi sắt ướt sũng, lạnh buốt như băng.

​Ren hít vào một hơi thật sâu luồng không khí buốt giá, rồi mở rộng van xả năng lượng ở tầng khóa tâm linh ngoài cùng lên mức tối đa của khe hẹp cho phép.

​Một xung sóng hấp dẫn nghịch đảo không màu và hoàn toàn câm lặng lan tỏa từ lòng bàn tay phải của người cựu Thống soái, chạy dọc theo các thớ gỗ đặc quánh nước mưa từ gốc lên tới tận ngọn của cây sồi sắt dài ba mươi thước.

Trọng trường tự nhiên của hành tinh Oakhaven tác động lên khối gỗ hai mươi tấn lập tức bị triệt tiêu đi chín phần mười.

​Dưới lòng bàn tay của Ren, những hạt nước mưa đọng trên vỏ cây sồi dần dần bay lơ lửng lên khỏi bề mặt rêu xanh chừng một phân. Khối lượng khổng lồ từng làm đứt đôi hai sợi cáp thép vài phút trước giờ đây nhẹ bẫng đi trong trường trọng lực vi mô, chỉ còn tương đương với một khúc gỗ thông khô vừa sức kéo của một con ngựa thồ.

Bên trong cổ áo sơ mi, mảng sẹo đen bên cổ phải khẽ ấm lên một chút như vừa chạm vào một tách trà nóng, rồi nhanh chóng dịu đi.

“Kéo đi, chú Sam!” Ren cất tiếng gọi, đồng thời dùng lực cơ bắp của cánh tay phải kết hợp với lực nâng trọng trường nhấc bổng phần gốc cây sồi sắt lên khỏi mặt đất bùn chừng hai gang tay.

​Chiếc máy kéo bánh xích gầm lên một tiếng vang dội.

​Ngay khi sợi dây xích sắt vừa kéo căng ra, toàn bộ cái gốc cây sồi sắt cổ thụ bỗng nhiên trượt băng băng trên mặt đường đất nhão nhẹ nhàng như một chiếc xuồng gỗ lướt trên mặt hồ.

​Những tiếng kêu kinh ngạc bật ra từ phía đám đông người di dân đang đứng nép bên vách đá.

​Chỉ trong vòng mười giây đồng hồ khi chiếc máy kéo của ông Sam tiến thẳng về phía trước, phần thân cây đè trên chiếc rơ-moóc của nhà Jonas đã được nhấc bổng lên và kéo dịch sang một bên mà chẳng hề làm gãy thêm một thanh gỗ nào của thùng xe. Ren bước theo nhịp trượt của gốc cây, bàn tay phải vẫn giữ nhẹ trên lớp vỏ gỗ xù xì, khéo léo điều chỉnh hướng nghiêng của trọng lực để đẩy toàn bộ thân cây khổng lồ lăn qua gờ đá chắn, trượt xuống sườn đồi thoai thoải phía dưới vực trong tiếng cành lá gãy rào rào vang động cả hẻm núi.

​Con đường đèo độc đạo dẫn xuống thung lũng Oakhaven thông thoáng hoàn toàn trước những cặp mắt mở to sững sờ của hơn hai mươi con người.

​Ren lập tức thu hồi luồng sóng hấp dẫn về lại sau chốt khóa tâm thức, rút bàn tay phải khỏi lớp vỏ cây vừa kịp lúc khối gỗ hai mươi tấn lấy lại toàn bộ trọng lượng thật của nó, lăn ầm ầm xuống triền dốc làm mặt đất dưới chân mọi người rung chuyển bần bật.

​Ông Sam nhảy phắt từ trên buồng lái máy kéo xuống đất, chạy bộ lại chỗ mép đường nhìn xuống thân cây cổ thụ đã nằm gọn dưới sườn đồi, hai tay vò đầu bứt tai:

“Quái lạ thật đấy. Hai lần trước kéo muốn nổ cả xi-lanh mà nó chẳng nhúc nhích lấy một phân, sao lần này cậu Ren mới chọc cái xà beng vào bẩy hòn đá kê có một cái mà nó lại trôi tuột đi nhẹ như bấc thế nhỉ?”

​Ren chống thanh xà beng sắt xuống đất, thở ra một làn khói trắng nhẹ nhàng như người vừa mới tốn chút sức lực bẩy đá thật sự, miệng cười đáp:

“Tại lúc nãy các chú buộc cáp vào phần ngọn nên gốc cây nó cắm sâu xuống rãnh đá ngầm đấy thôi. Cháu kê xà beng bẩy cái rễ cái của nó bật khỏi khe đá một cái là đà lăn của sườn dốc tự kéo nó đi luôn mà.”

​Mấy người đàn ông trong làng gật gù tấm tắc khen kinh nghiệm nhìn thế đất của anh thợ máy trẻ, chẳng một ai mảy may nghi ngờ lời giải thích hợp tình hợp lý ấy.

​Trong khi ông Sam và đám thanh niên tháo xích sắt để quay đầu máy kéo lại, Ren quay lại xe ba bánh xách hòm đồ nghề của mình bước thẳng tới bên chiếc rơ-moóc bị gãy trục bánh của gia đình Jonas.

​Cậu quỳ một gối xuống lớp bùn lạnh, chẳng nề hà bộ quần áo đã ướt sũng từ chiều, dùng kích tay nâng gầm thùng xe lên rồi lấy hai tấm nẹp thép dày trong hòm đồ nghề ra, bắt ốc cố định lại phần trục bánh sắt bị cong và lắp trả bánh xe vào ổ trục. Chỉ mất thêm mười lăm phút vặn cờ-lê thoăn thoắt dưới ánh đèn pha vàng vọt của chiếc máy kéo, chiếc rơ-moóc chở gia sản của người thương binh đã đứng thẳng thắn trở lại trên bốn bánh sắt, sẵn sàng nối vào đuôi xe kéo để xuống núi.

“Xong rồi đấy, anh Jonas.” Ren đứng dậy, lau tay vào vạt áo khoác da rồi vỗ nhẹ lên thành thùng xe gỗ. “Lên xe đi thôi, sương muối bắt đầu xuống rồi kìa.”

​Một tiếng đồng hồ sau, màn đêm đen thẫm của vùng biên viễn đã buông xuống bao phủ trọn vẹn thung lũng, chỉ còn lại hàng triệu vì sao xa xôi lấp lánh như những hạt cát bạc rắc trên tấm nhung đen.

​Tại khu đất phân lô mới khai hoang nằm sát bìa rừng thông phía tây làng, năm ngôi nhà gỗ ghép sẵn dành cho các hộ dân tị nạn đã được thắp sáng bởi những chiếc đèn bão đốt dầu hỏa ấm áp.

​Sau khi giúp gia đình Jonas khiêng chiếc bếp lò bằng gang và mấy bao lúa giống từ trên xe kéo vào tận trong nhà, Ren định xách hòm đồ nghề đi về cái xưởng nhỏ của mình, nhưng cả Jonas lẫn vợ anh - chị Martha - đều nhất quyết giữ chặt lấy tay áo cậu, kéo cậu ngồi xuống bậc hiên gỗ phía trước nhà cho bằng được.

​Dưới mái hiên bằng gỗ thông còn thơm mùi nhựa mới xẻ, một chậu than củi sồi lớn đang cháy đỏ rực, tỏa ra hơi ấm nồng đượm đẩy lùi cái giá lạnh âm độ của màn đêm rừng núi.

​Ren ngồi xếp bằng trên một chiếc thùng gỗ đựng đạn cũ lật ngửa đặt sát bên chậu than, chiếc áo khoác da đã cởi ra vắt bên cạnh. Ở phía đối diện, Jonas đang ngồi duỗi chiếc chân giả bằng nhôm ra gần lửa cho đỡ buốt khớp nối, còn bé Maya, cô con gái bảy tuổi của hai vợ chồng, thì ngồi nép bên cạnh mẹ, đôi mắt tròn xoe đen láy cứ nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay to lớn, đầy vết sẹo và vết chai của chú thợ máy vừa cứu chiếc xe của nhà mình trên đèo.

​Từ trong bếp, chị Martha bưng ra một chiếc khay gỗ lớn đặt lên mặt bàn ghép bằng ván thô giữa hiên nhà.

​Trên khay là một nồi đất đang sôi lục bục, tỏa ra làn khói trắng nghi ngút mang theo mùi hương ngai ngái, thanh mát đặc trưng của lá rau đắng rừng Oakhaven nấu cùng vài lát thịt muối thái mỏng.

Martha múc đầy một bát canh lớn bằng gốm thô, trân trọng bưng tới trao cho Ren:

“Nhà mới dọn tới chưa kịp trồng trọt gì, chỉ có nắm rau đắng tôi vừa hái vội ở ven suối lúc chiều nấu với chút mỡ muối mang từ tàu xuống. Cậu Ren cầm lấy húp cho nóng ruột. Hôm nay mà chẳng có cậu trên đèo Hẻm Đá, chắc giờ này cả nhà tôi đang phải đốt ván thùng xe để cầm cự ngoài gió tuyết rồi.”

“Chị khách sáo quá, dân Oakhaven cả rồi thì giúp nhau một tay là chuyện thường tình mà.” Ren mỉm cười đón lấy chiếc bát gốm nóng hổi bằng cả hai tay.

​Trong lúc đó, Jonas dùng một chiếc que sắt gẩy từ dưới lớp tro hồng của chậu than củi ra sáu, bảy củ khoai đất vỏ tím nướng chín kỹ, lớp vỏ ngoài đã cháy xém thành một lớp than mỏng thơm lừng mùi tinh bột chín đượm khói. Anh chọn củ khoai to nhất, tròn trịa nhất, phủi qua lớp tro trắng bên ngoài rồi tung sang cho Ren:

“Cầm lấy ăn kèm với canh đi, anh bạn. Khoai giống của vùng đất cũ chúng tôi mang theo đấy, nướng bằng than gỗ sồi ở đây thơm chẳng kém gì nướng ở quê nhà cả.”

​Ren chụp gọn củ khoai nướng nóng bỏng tay giữa không trung.

Cậu đặt bát canh xuống mặt ghế gỗ bên cạnh, rồi dùng hai bàn tay trần bẻ đôi củ khoai nướng ra làm hai nửa.

​Một tiếng bộp mềm mại vang lên. Lớp vỏ cháy đen tách mở, để lộ phần ruột khoai màu vàng ươm, bở tơi và bốc khói thơm ngào ngạt giữa khí trời lạnh giá.

​Đôi bàn tay đang cầm nửa củ khoai nướng ấy, mới chỉ hai năm về trước thôi, từng là đôi bàn tay nắm giữ quyền sinh sát của cả một vùng tinh vân rộng lớn. Chính những ngón tay đang lột lớp vỏ khoai cháy xém này đã từng bóp nát cả một pháo đài kim loại rộng hàng dặm cùng hàng triệu cỗ máy sát thủ vào hư vô của điểm kỳ dị.

​Thế nhưng giờ đây, dưới ánh lửa bập bùng nơi hiên nhà gỗ biên viễn, đôi bàn tay chai sần vì cờ-lê và dầu mỡ ấy lại cẩn thận nhặt hết những mảng vỏ đen dính tro than ra, rồi chìa nửa củ khoai lớn hơn, vàng ươm và ngon lành nhất về phía cô bé Maya đang nuốt nước bọt nhìn mình:

“Này nhóc, ăn phần này đi cho mau lớn. Phần có dính chút vỏ cháy bên này mới hợp với răng của thợ máy.”

​Bé Maya ngước nhìn mẹ, thấy chị Martha mỉm cười gật đầu thì mới rụt rè đưa hai bàn tay nhỏ xíu ra đón lấy nửa củ khoai nóng hổi từ tay Ren, lí nhí nói một câu “Cháu cảm ơn chú Ren ạ” rồi thổi phù phù cắn một miếng thật to.

​Ren bật cười khẽ, đưa nửa củ khoai còn lại lên miệng cắn một miếng, rồi nâng bát canh rau đắng lên húp một ngụm dài.

​Vị bùi béo, ngọt lịm của củ khoai nướng than hồng hòa quyện cùng cái vị đắng thanh nơi đầu lưỡi của lá rau rừng hoang dã trôi xuống cổ họng. Ngay khi thứ nước canh nóng hổi vừa chạm tới cuống họng, vị đắng ban đầu lập tức tan biến, để lại một hậu vị ngọt dịu, ấm sực lan tỏa khắp lồng ngực và làm ấm cả những đầu ngón tay đang lạnh cóng vì gió đêm.

“Hương vị thế nào hả cậu Ren?” Jonas vừa dùng dao gọt vỏ củ khoai của mình cho vợ, vừa ngước lên hỏi. “Nghe ông Caleb bảo cậu cũng là người từ vùng trung tâm chuyển ra ngoài biên viễn này được gần hai năm nay rồi à?”

“Vâng, canh rau đắng ngon lắm anh ạ, lâu lắm rồi tôi mới được ăn một bữa tối ấm cúng thế này.” Ren đặt bát canh xuống, vừa nhai miếng khoai nướng vừa nhìn những tàn lửa đỏ bay lất phất lên mái hiên. “Tôi sinh ra ở Tellus, trước kia cũng từng đi lính viễn chinh một thời gian, sau khi chiến tranh kết thúc thì giải ngũ rồi cứ thế đi tàu hàng dạt dần ra tới tận Oakhaven này thôi.”

​Nghe tới hai chữ đi lính viễn chinh, ánh mắt của người thương binh Jonas sáng hẳn lên. Anh vỗ nhẹ vào cái ống chân giả bằng nhôm của mình, phát ra tiếng cộc, cộc khô khốc:

“Ra là đồng ngũ cả. Hèn gì lúc nãy trên đèo thấy tác phong buộc xích sắt với ánh mắt bình tĩnh của cậu là tôi đã nghi nghi rồi. Tôi từng là lính pháo binh của Sư đoàn Phòng vệ Hành tinh số Chín ở mặt trận tinh vân Vega đây. Cái chân phải này gửi lại ở đó hồi năm thứ tám của cuộc chiến, lúc đám khu trục hạm của Đế chế Máy móc tràn qua tuyến phòng thủ vòng hai.”

​Jonas thở dài một tiếng, ánh mắt nhìn vào đống than hồng đang nổ lép bép:

“Hồi đó cả sư đoàn chúng tôi bị bao vây suốt bốn ngày bốn đêm trên một tiểu hành tinh trơ trụi, đạn pháo cạn sạch, dưỡng khí trong bộ đồ bay chỉ còn đủ thở thêm hai tiếng. Ai cũng nghĩ phen ấy chắc chắn thành ma không đầu ngoài vũ trụ cả rồi. Thế mà đúng vào phút cuối cùng, một biên đội đột kích của Hạm đội Bạc từ đâu xé không gian lao tới.”

​Giọng của người thương binh bỗng trở nên hào hứng, hai bàn tay anh khua khoắng giữa không trung để diễn tả lại ký ức hào hùng nhất đời mình:

“Cậu ở đơn vị hậu cần chắc chưa từng được tận mắt nhìn thấy cảnh tượng đó đâu, Ren ạ. Đi đầu biên đội cứu viện hôm ấy là một cỗ chiến giáp màu đen tuyền mang mã hiệu Vanguard-Zero của vị tướng quân trẻ tuổi nhất Liên minh - ngài Chuẩn tướng Ren Astrax, người mà sau trận chiến cuối cùng ở vành đai Kren-9 đã được Đại Thống soái Elian phong thẳng lên hàm Thống soái Hạm đội Bạc ấy.”

​Ren đang đưa bát canh rau đắng lên môi thì khựng nhẹ cổ tay lại một nhịp chưa đầy nửa giây, rồi lại điềm nhiên húp tiếp một ngụm nước canh nóng, đôi mắt xanh lặng lẽ lắng nghe qua làn hơi nước trắng mờ.

“Hôm ấy qua kính tiềm vọng của hầm pháo, tôi nhìn thấy rõ mồn một cỗ chiến giáp đen của ngài ấy một mình lao thẳng vào giữa đội hình mười hai tàu khu trục của địch…” Jonas say sưa kể, hoàn toàn chẳng để ý tới việc cái tên mà anh vừa nhắc tới trùng khớp một nửa với tên của gã thợ máy đang ngồi trước mặt. “Ngài ấy chỉ giơ một cánh tay lên thôi, thế mà cả một vùng không gian rộng hàng chục dặm quanh đám tàu địch bỗng nhiên tối sầm lại như bị một con quái vật vô hình nuốt chửng. Mười hai chiếc tàu chiến bị vò nát thành một cục sắt vụn ngay trên đầu chúng tôi chỉ trong có vài cái chớp mắt.”

​Bé Maya đang gặm củ khoai nướng cũng mở to mắt nhìn bố:

“Vị tướng quân đó mạnh như thần tiên trong truyện cổ tích hả bố?”

“Còn hơn cả thần tiên ấy chứ con gái.” Jonas xoa đầu con bé, giọng nói pha lẫn sự sùng kính. “Sau trận Kren-9, báo chí ở Thủ phủ đưa tin ngài Thống soái Astrax đã được điều chuyển về nắm giữ Pháo đài Trung tâm ở quỹ đạo Mặt Trăng của Cái Nôi rồi. Những bậc đại nhân vật hô mưa gọi gió như ngài ấy với Đại Thống soái Elian sinh ra là để ngồi trên đỉnh những tòa tháp pha lê cao vút ở Tellus, uống rượu vang ngàn năm và quyết định vận mệnh của cả thiên hà, đâu phải hạng người phàm trần lăn lộn trong bùn đất với dầu máy như mình.”

​Nói đoạn, Jonas quay sang nhìn Ren đang ngồi trên chiếc thùng gỗ thấp, cười xòa một tiếng:

“Mà nói chuyện trên trời dưới bể làm gì cho xa xôi. Đối với gia đình tôi lúc này ấy à, một vị Thống soái ngồi ở tận Thủ phủ cách đây mấy ngàn năm ánh sáng cũng chẳng quý bằng cậu thợ máy Ren bằng xương bằng thịt đã giúp chúng tôi giữ lại được xe lúa giống chiều hôm nay đâu. Nào, ăn thêm củ khoai nữa đi anh bạn.”

​Ren nhìn gương mặt chất phác đã hằn sâu những nếp nhăn khắc khổ của người cựu binh pháo binh, rồi nhìn sang ngọn lửa hồng đang nhảy múa trong đôi mắt trong veo của đứa trẻ vừa thoát khỏi cảnh màn trời chiếu đất.

Những ngón tay thô ráp của cậu khẽ nắm lại quanh thành bát gốm ấm áp.

“Anh nói đúng đấy, anh Jonas.” Ren nở một nụ cười hiền hòa dưới ánh lửa, cầm lấy củ khoai thứ hai mà chị Martha vừa đưa tới. “Mấy vị tướng quân trên tháp pha lê thì chỉ biết bấm nút bắn pháo thôi, chứ bảo họ xuống đây sửa máy bơm nước với vá trục xe kéo cho bà con thì chắc họ chịu chết đấy.”

​Tiếng cười giòn giã của hai người đàn ông hòa cùng tiếng khúc khích của bé Maya vang lên ấm áp giữa màn đêm tĩnh mịch của vùng biên viễn, xua tan đi cái lạnh cắt da của sương muối đang phủ trắng những ngọn cỏ bên ngoài hàng rào gỗ.

​Gần chín giờ tối, sau khi dùng chiếc kìm nhỏ trong hòm đồ nghề nắn lại dây cót bị tuột cho con chim sẻ bằng sắt tây đồ chơi của bé Maya để nó có thể nhảy lách cách trên sàn gỗ, Ren mới đứng dậy từ biệt gia đình Jonas để quay về chỗ ở của mình.

​Căn nhà kiêm xưởng sửa chữa của Ren nằm tách biệt ở rìa phía nam khu định cư, ngay sát mép cánh rừng sồi cổ thụ và cách con suối đá chảy từ trên núi xuống chỉ vài chục bước chân. Đó là một ngôi nhà gỗ một tầng lợp ván thông do chính tay cậu tự đốn gỗ dựng lên vào mùa hè năm ngoái, phía trước là một khoảng sân đất nện rộng rãi đang đậu hai chiếc máy cày chờ thay lưỡi và một giàn bầu khô leo quanh hàng rào.

​Ren dừng chiếc xe ba bánh dưới mái che bằng tôn, xách hòm đồ nghề bước qua cổng rào gỗ.

​Cậu đi tới bên chiếc chậu gỗ lớn đặt cạnh máng dẫn nước suối tự nhiên ở góc sân, múc một gàu nước lạnh buốt đổ đầy chậu rồi cầm cục xà phòng nấu từ tro củi và mỡ cừu lên, chà xát thật kỹ hai bàn tay dính đầy dầu mỡ và tro than của mình. Nước suối lạnh tới mức làm các đầu ngón tay tê rần đi, nhưng lại mang đến cảm giác tỉnh táo, chân thật tới từng lỗ chân lông.

​Lau khô tay vào chiếc khăn vải treo bên cột hiên, Ren rút từ trong túi áo sơ mi ra chiếc đồng hồ cơ quả quýt bằng đồng thau đã mòn vẹt lớp vỏ ngoài - kỷ vật duy nhất từ những năm tháng Học viện mà cậu vẫn luôn giữ bên mình.

​Ngón tay cái và ngón trỏ chai sần của cậu xoay nhẹ núm vặn dây cót ở đỉnh đồng hồ mười hai vòng chuẩn xác. Tiếng bánh răng cơ khí bên trong kêu tích tắc, tích tắc giòn giã và đều đặn giữa sự tĩnh lặng của rừng đêm.

​Đúng lúc Ren vừa định đẩy cánh cửa gỗ bước vào trong nhà để châm đèn dầu đi ngủ, một ánh đèn tín hiệu màu xanh lam nhạt nhấp nháy liên hồi từ chiếc hộp thư bưu chính liên sao gắn trên cột gỗ đầu ngõ bỗng thu hút ánh nhìn của cậu.

​Chiếc hộp thư bằng thép ấy đã nằm im lìm đóng mạng nhện suốt hơn một năm qua kể từ ngày cậu đăng ký địa chỉ tạm trú ẩn danh tại thuộc địa biên viễn này. Ngoài hai người bạn chí cốt ở Bộ Tổng tham mưu Tellus là Elian và Vier, chẳng một ai trong cả thiên hà biết được tọa độ hòm thư của người thợ máy vùng Oakhaven.

​Ren nhíu mày, bước chậm rãi dọc theo lối đi lát đá cuội ra phía cổng rào.

​Cậu mở chốt nắp hộp thư. Bên trong hộc kim loại lạnh ngắt hoàn toàn vắng bóng những thông báo điện tử thông thường; thay vào đó là một chiếc phong bì dày dặn được làm bằng chất liệu giấy sợi thực vật tự nhiên màu kem sữa - thứ đồ thủ công xa xỉ tới mức chỉ những dịp trọng đại bậc nhất ở Thủ phủ Tellus người ta mới dám đem ra sử dụng.

Đúng lúc cậu vừa cầm chiếc phong bì giấy thô lên, từ phía hiên nhà phía sau lưng, thiết bị liên lạc vệ tinh dã chiến mà cậu vứt lăn lóc trên kệ gỗ gần cửa sổ từ năm ngoái bỗng nhiên rung lên bần bật, màn hình tinh thể lỏng bật sáng rực với dòng mã định danh quen thuộc từ Trung tâm Chỉ huy: ELIAN ASTER.


0
Ủng hộ tác giả Vương Tạ Gửi một lời động viên nhỏ để tác giả có thêm cảm hứng ra chương mới.