Khi Gió Nhẹ Bay

Chương 2: Ngày Thứ Hai Ở Hakone

Đăng: 10/06/2026 16:40 1,170 từ 2 lượt đọc

Chỉ còn 6 ngày nữa, tôi về Hà Nội.

Vẫn như thường lệ, 5 giờ sáng tôi đã dậy, sau khi tắm rửa, tôi mở cửa sổ ra, ngắm nhìn vẻ cổ kính nơi đây. Lấy một tờ giấy, tôi vẽ lại bức chân dung cảnh bình minh. Tiếng ngòi chì lúc nhanh lúc chậm, từng vệt nắng cứ vậy hắt qua song, rơi nhẹ lên trang giấy. Tôi ngẩng đầu lên, rồi lại cúi xuống. Những cơn gió ngập ngừng cạy khung cửa. Ngòi chì chẳng biết cũng đã gãy từ khi nào, để lại trên mẩu giấy ấy là bức chân dung một người con gái…

Thở dài một tiếng, tôi vô thức lấy điện thoại rồi lại đặt xuống bàn. Chẳng kìm được lòng, tôi gọi cho Lan, mời cô đi ăn sáng.

Cô dẫn tôi đi ăn món súp ưa thích của mình. Món súp miso ấy phảng phất vị đậu dịu, trộn thêm chút mùi hành thơm, chẳng biết vì sao nữa, trong lúc ăn súp, tôi cứ vô thức vụng nhìn bờ má đỏ ửng cùng đôi mắt trong trẻo ấy.

Suốt bữa ăn, chúng tôi chẳng biết nói gì, chỉ ngẩng đầu lên nhìn nhau rồi lại vội cúi xuống bát súp.

Kết thúc bữa ăn, lúc tôi định ra trả tiền thì cô đã đứng lên trước:

- Đây là quán quen của em, để em trả nhé.

Chúng tôi đi dạo với nhau trên hồ một lúc, vẫn khung cảnh ấy, vẫn con người ấy, chỉ khác rằng giờ chúng tôi ở gần nhau hơn, được nói chuyện thân mật với nhau hơn, khác với thân phận của một geisha và kẻ lữ hành.

Nhìn cách cô nói chuyện, tôi đoán cô mới chừng mười chín, đôi mươi, một độ tuổi đầy nhiệt huyết. Vào lúc này đây, cô không còn mang lại cho tôi cảm giác giống một geisha nữa, đổi lại, đó là sự chủ động, song lại không quá vồ vập, vẫn giữ được sự quý phái, tinh tế của mình.

- Sáng nay anh không đi đâu à?

- Mình chưa có lịch, vậy lát mấy giờ bạn đi làm thế?

- Nay chiều em mới vướng, vậy anh tính đi chỗ nào chưa?

- Mình chưa, ở đây có chỗ nào hay hay không nhỉ?

- Vậy em dẫn anh đi một chỗ nhé.

Cô dẫn tôi đến ga tàu Gora. Trên đoạn đường, cô ngắm ra ngoài và chỉ đến chỗ hoa cẩm tú cầu, một dải hoa xanh, hồng rất thơ mộng, ập đến hai con người trong toa.

Cô ngắm nhìn ra ngoài ô cửa:

- Mùa này hoa đẹp anh nhỉ.

Ngắm nhìn phía bên phải tôi, một góc trời, với giọng trầm khàn của mình, tôi đáp:

- Ừm, mùa này hoa rất đẹp.

Lúc này, tôi cũng chẳng biết nói gì hơn, cũng chẳng nhớ những gì cô nói nữa, tôi chỉ nhớ đến khoảng trời bên phải của mình, ngay trước bốn góc im lìm Nhật Bản.

- Hay em hát anh nghe nhé?

- Em hát đi.

- Nhưng em chỉ biết bài tiếng Nhật thôi.

- Em hát là được mà, anh nghe đây.

Giọng cô cất lên, chất giọng trong ngần, một âm vang lên chầm chậm, không nhanh, song lại đủ để xoá đi sự yên ắng của cả không gian.

Gió khẽ run lên, chẳng hiểu vì gì nữa. Ở trong toa tàu, đáng lẽ tôi chỉ nghe thấy tiếng cô thôi, mà từng cơn xào xạc dội vào tâm trí, dậy lên từng gợn sóng trong tim.

Tiếng còi bắt đầu lay lắt, chúng tôi bước xuống ga tàu.

- Hay giờ em dẫn anh đi thuyền đi.

- Giờ trưa em phải về okiya rồi, hay sáng mai mình đi tiếp nhé.

Cứ vậy, chúng tôi chia tay ở Hakone.

Tôi lặng ngắm nhìn dãy núi Fuji, những vùng đá tảng bất bại trước sự phong hoá của thời gian. Tôi chẳng thể ngừng cảm thán trước vẻ hùng vĩ của ngọn núi ấy.

Tối nay, khác thường lệ, tôi lại không muốn đi chơi cùng bạn bè nữa, chỉ muốn ở một mình mà nhớ tới cô gái ấy,

Dừng chân trước một quán trà nhỏ gần hồ Ashi, tôi gọi một cốc Sencha. Quán trà này nom đã có tuổi đời, mặt sàn gỗ phủ màu nâu sẫm cùng 4 bức tường kem với ánh đèn vàng lập loè. Bác chủ quán trông cũng đã ngoài 40, đôi mắt nheo lại vì tuổi tác cùng những vết nhăn nhuốm màu thời gian.

- Quán mình mở được lâu chưa ạ bác?

- Quán bác mở được chục năm rồi, mà có vẻ con là khách du lịch nhỉ.

- Dạ vâng, có thời gian rảnh con qua đây chút ạ.

Có vẻ như trước bác gặp sự cố nào đó mà giờ đây chất giọng đã biến đổi, giọng bác khàn đục, kêu lên the thé tưởng chừng như phải gắng hết sức bình sinh để cất tiếng.

Chúng tôi nói chuyện với nhau một lúc, bác kể tôi về quá khứ, những ngày mà bác còn phải lang bạt, mưu sinh, đánh mất đi những người trân quý, sự ăn năn muộn màng khi để người vợ và đứa con nhỏ bị cuốn vào những lỗi lầm bác gây ra, khiến họ phải phải rời xa trần thế. Sau đó bác giải nghệ và mở quán trà này.

Tôi nhìn từng vết sẹo trên khuôn mặt và bàn tay thô ráp của người đàn ông ấy, ngước nhìn giọt mắt chứa chất vẻ sầu muộn.

Bác kể rằng hồi trước hồ Ashi không giống như bây giờ, nó vẫn còn màu xanh xám đặc trưng, trong lành, tự nhiên và tĩnh lặng, ít khách du lịch. Phảng phất đâu đó, là bóng hình của đứa con gái cùng người vợ chết trẻ đang nắm tay nhau, cái tội lỗi ấy không phải ngày một ngày hai, mà nó gặm nhấm đến cả cuộc đời, lớn dần theo những vết xăm kín người.

Tôi cũng chẳng hỏi gặng thêm về việc ấy nữa, bởi nhìn bác giờ đây đã quá khổ tâm, cái khổ tâm của một kẻ hành khất đang rục rữa vì đói, vì bị khinh miệt và hơn thế, đó chính là cái khổ tâm chốn hành khất không nơi mưu cầu.

Tôi vụng lấy tách trà của mình, nhấm nháp một hồi lâu rồi cúi xuống sàn nhà. Màn đêm hôm nay yên bình đến lạ, vị trà chát mà ngon, đắng mà ngọt, dư vị ấy khiến tôi ngả người sâu hơn vào chiếc ghế.

Kể xong câu chuyện, bác chỉ nhìn tôi và cười nhẹ.

Như hai vị khách qua đường, chúng tôi sau đó cứ vậy, ai làm việc riêng của người ấy, tận hưởng lấy sự riêng tư của chính mình.

Gió nhẹ cạy qua từng khung cửa sổ, tôi ngước mặt nhìn lên trời cao, ngoái lại quán trà, rồi ngồi dậy, khẽ đặt tách trà xuống bàn.

0