Khoảng Cách An Toàn

Chương 3: Người Và Sổ

Đăng: 05/07/2026 07:51 4,250 từ 2 lượt đọc

Chuông tan trường reo lúc bốn rưỡi, nhưng buổi chiều vẫn chưa chịu đi theo tiếng chuông. Nắng rút khỏi sân, để lại cái nóng hầm đọng trong hành lang. Lớp vãn dần. Từng chiếc cặp rời móc, rời ghế, theo chủ ra cổng, bỏ lại một buổi sáng chẳng đứa nào buồn nhớ.

Tôi thì chưa về.

Về sớm hay muộn với tôi cũng thế thôi. Nhà không có ai đợi cơm, cũng chẳng ai hỏi hôm nay ở trường ra sao. Nhưng nán lại một buổi chiều đầu năm, ngồi lì ở bàn cuối trong khi cả lớp đã cuốn gói, thì bất thường. Mà bất thường thì dễ bị để ý, và cái nghề cột điện của tôi kỵ nhất chuyện bị để ý. Tôi biết thừa. Tôi vẫn ngồi.

Ngoài hành lang, An ngồi trên chiếc ghế nhựa kê sát tường, ngay cạnh cửa phòng Nề nếp, ôm cặp trước bụng như người ta ôm phao. Nó không đụng đến điện thoại, không mở vở ra, hai bàn tay chẳng biết bấu víu vào đâu. Nó cứ ngồi thế, mắt dán xuống một điểm trên nền gạch, đợi tới lượt bị gọi vào. Thỉnh thoảng môi nó mấp máy cái câu từ sáng, câu nó nói với mặt bàn: Em xin lỗi ạ. Tập trước cho thuộc, phòng khi vào trong người ta bắt nói.

Tôi nhìn nó qua khe cửa lớp và tự nhủ chuyện này không phải việc của mình.

Câu ấy tôi nói trơn lắm rồi. Ba năm cấp hai, tôi luyện nó đến mức đọc ngược cũng được. Có điều hôm nay cái lưỡi đọc trơn mà cái bụng cứ vướng. Tôi làm một phép tính, kiểu tính tôi vẫn làm trước mỗi việc. Ngồi yên thì tôi mất gì? Chẳng mất gì. Chiều nay An bị đóng một cái dấu, mai cả khối biết mặt "thằng ăn trộm lớp 12A", còn tôi vẫn là cái cột điện vô hại ở góc lớp, an toàn tuyệt đối. Còn nhúng tay vào thì mất gì? Mất sạch. Mất cái vô hình tôi đổ ba năm ra dựng, mà đổi lại thì chưa chắc được gì.

Bài toán rõ như ban ngày. Đáp án: đừng làm gì cả.

Rồi tôi đứng dậy, đi ra khỏi lớp.

Không phải để cứu ai. Chỉ là ngồi nhìn một đứa tập nói "xin lỗi" cho việc nó không làm thì bức bối, mà cái bức ấy lại không có ô nào trong bài toán của tôi để nhét vào. Tôi cần một chỗ khuất đứng cho cái bụng thôi vướng, rồi về.

Cuối hành lang, chỗ rẽ vào dãy phòng phụ, có cánh cửa từ sáng vẫn đóng.

Tấm biển nhựa PHÒNG THAM VẤN bong một góc, hai chữ học sinh mờ nửa ở dưới. Tờ A4 dán lệch: Phòng tạm nghỉ, sẽ thông báo lại sau. Sáng nay tôi đã đếm rồi, sáu ô gạch từ chân cột tới mép cửa, hai bản lề, một ổ khóa, rồi quay mặt đi, tự nhủ một cánh cửa đóng thì cũng chỉ là một cánh cửa đóng.

Chiều nay tôi đứng lại trước nó.

Cái tật cũ trồi lên. Tay tôi đặt lên nắm cửa trước khi đầu kịp hỏi để làm gì. Tôi vặn. Không khóa. Cửa hé ra, bản lề lâu ngày không ai động rít lên một tiếng khẽ.

Bên trong, bụi bốc lên trong vệt nắng chiều lọt qua khe rèm, xoay chậm như thể cả căn phòng vừa bị đánh thức khỏi một giấc dài. Một bàn gỗ, hai cái ghế, một giá nhạc gấp dựng ở góc. Trên bàn có cuốn sổ bìa nâu gáy đã bạc, gập lại ở mép bàn. Cạnh nó là chiếc hòm gỗ nhỏ, nắp khoét khe bỏ thư, sơn tróc, mặt trước còn đọc được ba chữ viết tay: Hòm thư kín.

Tôi lại gần, cầm cuốn sổ lên. Không định đọc, chỉ định đếm theo thói quen xem đã dùng hết bao nhiêu trang. Nhưng lật tới trang cuối cùng còn chữ thì tay tôi dừng. Nét bút đang đi ngon trớn bỗng đứt ngang giữa câu, như người viết bị gọi đi đâu đó rồi không bao giờ quay lại ngồi tiếp. Góc trang ghi một con số: ngày, tháng Ba, năm ngoái. Lớp mười một. Từ đó trở đi chỉ còn giấy trắng, một câu bỏ dở đợi mãi chưa ai viết nốt.

Trên giá nhạc là một bản nhạc chép tay. Tôi không đọc được nốt, nhưng đọc được khoảng trống: ô nhịp cuối bỏ trắng, thiếu đúng một nốt.

"Cửa đó khóa."

Tôi quay lại. Ở ngưỡng cửa là một người đàn ông đứng tuổi, áo sơ mi bỏ trong quần, tay cầm xâu chìa khóa. Thầy Lâm, quản sinh, người cả trường biết mặt mà ít đứa dám lại gần, cái loại người học sinh xếp vào ngăn "luật" rồi tránh cho lành.

"Em xin lỗi ạ," tôi nói. "Cửa không khóa."

Thầy nhìn cái nắm cửa, rồi nhìn tôi. Không quát, cũng không đuổi, chỉ nhìn, kiểu nhìn của người đứng gác đủ lâu để phân biệt được đứa vào phòng cấm vì nghịch với đứa vào vì đang trốn một thứ gì đó ở ngoài kia.

"Ừ," thầy nói. "Có hôm nó khóa. Có hôm không."

Câu ấy nghe như nói về cái cửa mà lại không hẳn về cái cửa. Tôi để nó nằm đó, chưa đụng tới.

Thầy bước vào, đặt xâu chìa khóa lên bàn. Thấy cuốn sổ trong tay tôi, thầy chìa tay; tôi đưa. Thầy gấp nó lại, chậm rãi như gấp một thứ không nỡ gấp mạnh, rồi cất vào ngăn kéo. Ánh mắt thầy dừng một nhịp ở cái hòm thư kín rồi rời đi.

"Ngoài kia xử vụ gì mà cả lớp 12A nán lại đông thế?" Thầy hỏi, giọng bằng phẳng, không thật sự cần câu trả lời.

"Một bạn mất ví. Có bạn bị nghi ạ."

"Có sổ trực ban chưa?"

"Có ạ."

Thầy khẽ gật, như chừng đó đã đủ để hình dung cả buổi chiều mà không cần ngồi dự.

"Vậy là xong rồi," thầy nói. "Người ta tin sổ, chứ có tin sự thật đâu."

Thầy nói không cay đắng, cũng chẳng lên giọng dạy đời, mà nhẹ như đọc bản tin thời tiết, một sự thật cũ đến mức thôi làm ai đau, kể cả người nói ra. Rồi thầy cầm xâu chìa khóa đi ra, để cửa hé lại đúng như lúc tới. Không bảo tôi ra, cũng không bảo tôi được ở.

Tôi đứng một mình trong căn phòng bụi, câu của thầy cứ nằm đó, xoay chậm như bụi trong nắng.

Người ta tin sổ, chứ có tin sự thật đâu.

Cả buổi sáng tôi loay hoay sai chỗ. Tôi đi tìm cách chứng minh An vô tội, mà vô tội thì lấy gì chứng minh, sự trong sạch có để lại dấu vân tay đâu. Tôi quên mất rằng cái lớp kia có tin sự thật đâu mà tôi phải dâng sự thật cho nó. Nó tin cuốn sổ. Bản án dựng trên đúng một câu: sổ ghi chỉ mình An từ ngoài bước vào lớp quãng mười giờ lẻ bảy. Rút được câu đó thì cái mái mới sập.

Muốn rút, tôi không cần tìm ra kẻ trộm thật. Tôi chỉ cần chứng minh cuốn sổ ấy sai một lần. Sai một lần thôi là nó thôi làm sổ, chỉ còn là tờ giấy có người viết cẩu thả, mà tờ giấy cẩu thả thì không đóng dấu lên trán ai được.

Cách chứng minh thì tôi có sẵn trong tay, chỉ tốn đúng một thứ.

Tên tôi.

Tôi đứng thêm một lúc, làm nốt phép tính. Nếu tôi khai mình cũng vào lớp quãng đó mà sổ không ghi, cuốn sổ lập tức mất thiêng: đã sót một người thì "chỉ mình An" là câu nói dối, không còn "một người trong phòng", không còn bản án. Đổi lại, tôi thành cái tên thứ hai bị kéo vào biên bản. Cái vô hình ba năm coi như mất, và chắc chắn sẽ có người nhìn tôi khác đi.

Bài toán vẫn ra đáp án cũ: đừng làm.

Tôi vẫn quyết làm.

Không phải vì tôi tốt; cái mác đó tôi thôi tin đã lâu. Chỉ là danh dự của một thằng cột điện thì rẻ, còn cái dấu sắp đóng lên An thì nó phải mang cả năm học. Đặt lên cân, tôi chọn cái rẻ đem đi tiêu. Một phép tính, vậy thôi. Gọi đúng tên nó ra, tôi thấy dễ chịu hơn.

Tôi ra khỏi phòng, khép cửa lại, để hé đúng như thầy để.

Phòng Nề nếp mở cửa vừa lúc tôi tới. An được gọi vào. Tôi theo sau, cách ba bước, đủ để lọt vào trước khi cánh cửa khép.

"Ai cho em vào?" Một giọng con gái, phẳng và gọn.

Tôi biết ngay là ai, cả khối đều biết. Cán bộ Ban Nề nếp, con bé đầu năm nào cũng vác theo cái hộp đàn to gần bằng người, đứng ở cổng ghi tên đứa đi trễ mà chẳng cần lên gân. Không phải lớp trưởng, ghế đó của Thanh, nhưng dính tới kỷ luật thì người ta sợ chữ ký của nó hơn sợ lớp trưởng. Mai.

Cô ngồi ở mép bàn, trước mặt là tập biên bản kẻ dòng và cuốn sổ trực ban, đúng cuốn sáng nay Trí lùa vào ngăn bàn Khánh. Cạnh chân ghế, cái hộp đàn dựng đứng. Cô chủ nhiệm ngồi bên, mệt mỏi chống trán. Trí đứng, thẻ Cờ Đỏ trước ngực. Khánh dựa tường, khoanh tay, ra vẻ đến để nhận lại đồ chứ không phải để bị hỏi.

"Em cùng lớp ạ," tôi nói. "Em có việc liên quan."

"Liên quan gì?" Mai không rời mắt khỏi biên bản, bút vẫn chạy.

Đây là chỗ tôi phải bước qua lằn ranh, và tôi khựng lại đúng một nhịp, cái nhịp của thằng sắp tự tay đốt căn nhà nó trốn suốt ba năm. Trong nhịp đó tôi tính nốt: nói ngắn, nói phẳng, đừng thanh minh cho An, đừng đụng tới Khánh. Đụng tới Khánh là tôi thành phe An, mà đã thành phe thì chỉ còn cãi nhau bằng nước bọt. Tôi chỉ đụng vào cuốn sổ.

"Sáng nay em vào lớp trước bạn An," tôi nói. "Sổ không có tên em."

Bút Mai dừng.

Lần đầu cô ngẩng lên nhìn tôi. Ánh mắt không tròn xoe kiểu bất ngờ mà hẹp lại, như một cái tai vừa bắt được nốt lệch trong bản nhạc và đang dò xem lệch ở dây nào.

"Vào lúc nào?" Cô hỏi.

"Ngay sau khi tan tiết một. Em vào lấy chai nước để quên rồi ra luôn, chắc chừng một phút. Lúc em ra, lớp vẫn chưa có ai."

"Ai thấy em không?" Cô hỏi, rồi không đợi tôi đáp, quay thẳng sang An. "An, lúc em quay lại lớp tìm nắp bút, trong phòng còn ai nữa không? Em có thấy bạn này," cô hất đầu về phía tôi, "ở trong lớp không?"

An ngẩng lên, ngơ ngác. "Không ạ. Lớp trống trơn. Em vào, không gặp ai, tìm một lúc rồi ra."

Mai gõ bút xuống biên bản một cái, quay lại phía tôi. "Bạn ấy không thấy em. Hai người cùng ở trong lớp một quãng thì phải chạm mặt nhau chứ."

"Tại không cùng quãng ạ," tôi nói. "Em vào trước, lấy chai nước rồi ra. Em ra thì bạn ấy mới vào. Bạn ấy không thấy em không phải vì em bịa, mà vì lúc bạn ấy bước vào thì em đã ra khỏi cửa rồi."

Căn phòng im một nhịp. Cô chủ nhiệm bỏ tay khỏi trán. Trí liếc Khánh rất nhanh, cái liếc của đứa vừa thấy quân cờ chạy sai ô mà không hiểu vì sao.

"Vô lý." Khánh đẩy người khỏi tường. "Mày ngồi lì bàn cuối cả buổi, ra ngoài lúc nào?"

"Lúc bọn tao vào đã thấy nó ngồi đó rồi." Trí tiếp, kiệm lời mà gằn.

Đây là câu tôi vừa chờ vừa sợ. Sợ, vì chỉ cần một đứa nhớ thật là cả cú của tôi đổ. Chờ, vì muốn nhớ thật thì họ phải có mặt ở lớp đúng cái quãng tôi khai — mà tôi đã tính rồi, họ không có.

"Lúc tan tiết một, cậu đi rửa mặt." Tôi nhìn Khánh. "Cậu úp mặt vào vòi nước thì lấy gì thấy tôi ngồi hay chưa ngồi?" Tôi quay sang Trí. "Còn cậu thì chạy vào lớp cùng với Khánh, tức là sau đó. Hai người vào thì thấy tôi ngồi đó, đúng. Nhưng cái quãng ngay sau chuông tan tiết một — quãng tôi vào lấy chai nước — thì một người đang trong nhà vệ sinh, một người còn chưa tới. Không ai trong hai người có mặt ở lớp lúc đó để nói tôi đã ngồi sẵn hay chưa."

Khánh mở miệng, rồi ngậm lại. Cái quãng ấy đúng là lỗ đen của nó: nó bận dựng màn kịch của chính mình, nên chẳng chừa nổi cho mình một nhân chứng cho khúc mở màn.

"Ai còn ở lớp lúc tan tiết một?" Mai hỏi, không nhìn riêng ai.

"Phong, với vài đứa nữa. Nhưng đứa thì phóng ra căng tin, đứa thì dán mắt vào gương." Tôi đáp. "Cô cứ hỏi, xem có ai dám thề nhớ chính xác cái cột điện cuối lớp lúc đó ngồi hay đứng. Tôi đoán là không. Chẳng ai để ý một cái cột điện đang làm gì."

Mai không đáp. Nhưng cô ghi một dòng ngắn vào biên bản, và tôi biết dòng đó không đứng về phía Khánh.

"Sổ ghi mười giờ lẻ bảy chỉ có An," Mai nói, giọng vẫn phẳng nhưng chậm lại nửa nhịp. "Giờ em bảo em cũng vào. Vậy một trong hai sai."

"Hoặc cả hai đều đúng, chỉ cuốn sổ sai ạ," tôi nói. "Nội quy bắt tự ký tên khi từ ngoài bước vào lớp giờ chuyển tiết. Em vào vội, lấy chai nước rồi ra ngay, không kịp ký. Không ký thì sổ không có tên em, nhưng người thì vẫn cứ vào. Sổ đã sót được em thì sót thêm nữa được. Nó ghi 'chỉ mình An', mà chữ 'chỉ' là của cuốn sổ, đâu phải của sự thật."

Tôi nghe chính mình nói mà thấy lạ tai. Cột điện thì không phát biểu. Vậy mà nó vừa phát biểu nguyên một đoạn.

Mai nhìn tôi lâu hơn mức cần để hiểu câu vừa rồi. Cô hiểu nhanh, tôi thấy cô nắm được ngay từ chữ thứ ba. Cái cô đang dò không phải nghĩa của câu mà là người nói ra nó. Ngón trỏ cô gõ nhẹ lên mép cuốn sổ trực ban, một nhịp, hai nhịp, rồi dừng.

"Em vào lấy chai nước," cô lặp lại. "Chai nước đó giờ đâu?"

"Trong cặp em."

"Màu gì?"

"Màu trong, nhãn bóc rồi, nắp vặn hơi kẹt ở nấc cuối."

Cô nhìn tôi thêm một giây. Tôi biết cô đang cân: đứa khai dối để cứu bạn thường khai thừa cho chắc, còn tôi khai một chai nước nhạt nhẽo đến mức chẳng ai buồn bịa. Chi tiết càng buồn tẻ càng khó bác. Cô không bác được, nhưng cũng không tin. Hai điều đó nằm cạnh nhau được, tôi biết, vì tôi sống trong cái khe hẹp giữa chúng đã ba năm.

"Được." Cô đặt bút xuống, quay sang cô chủ nhiệm. "Thưa cô, cái này là sổ tự ký, ai từ ngoài vào thì tự ghi tên, không có người gác ghi thay. Loại sổ đó chỉ chắc được một chiều: đứa nào có tên thì đúng là có vào. Chiều ngược lại thì không, đứa không có tên chưa chắc đã không vào, vì thiếu chữ ký đâu có nghĩa là thiếu người. Nó vốn không phải danh sách đầy đủ, chỉ là danh sách những đứa chịu ký. Giờ lại có người khai vào lớp cùng quãng mà sổ bỏ sót. Một danh sách đã không đầy đủ, lại còn sót thêm, thì không dùng để chỉ đích danh ai được ạ."

Cô nói gọn như đọc một điều khoản. Không bênh An, không buộc tôi, chỉ rút cái căn cứ ra khỏi bàn. Mà căn cứ rời bàn rồi thì cả bản án đứng không còn chân.

Cô chủ nhiệm thở ra. "Vậy là chưa kết luận được."

"Chưa ạ," Mai nói. "Không có căn cứ thì không kết luận. An chưa có gì để phải nhận. Bạn kia," cô liếc sang tôi, không gọi tên, "cũng vậy."

"Thế còn cái ví?" Khánh bật khỏi tường, giọng gắt lên. Lần này cái gắt thật hơn buổi sáng nhiều, không phải gắt của đứa mất tiền mà của đứa vừa thấy con mồi tuột khỏi cái bẫy nó bày công phu. "Em mất bốn trăm tám mươi nghìn thật mà cô!"

"Số đó em báo từ sáng, không nhìn ví, không đếm lại, mà chẵn không sai một đồng," Mai nói, mắt vẫn để trên biên bản. "Người vừa mất tiền hiếm khi nhớ chẵn tới hàng chục nghìn ngay lập tức. Nhớ được thì thường là vì đã đếm sẵn từ trước. Cô ghi chi tiết này vào biên bản. Em muốn thì cô ghi luôn cả câu em vừa nói."

Khánh ngậm miệng.

Tôi đứng đó và phải công nhận: con bé này đọc người không thua tôi. Chỉ khác cách. Tôi đọc bằng cách nấp trong góc gom từng mẩu vụn, còn nó đọc bằng cách ngồi giữa bàn, nói thẳng ra rồi ghi thành chữ vào biên bản. Tôi giấu cái mình thấy; nó đóng dấu cái nó thấy. Cùng một con mắt mà thành hai cái nghề trái ngược.

"Chiều nay dừng ở đây." Cô chủ nhiệm gập sổ điểm danh. "An, em về đi. Chưa có gì hết, nghe chưa. Đứa nào còn đồn ngoài lớp thì cô xử đứa đó."

An đứng dậy, nhìn quanh phòng một vòng như không tin mình được phép đi ra bằng cửa trước. Ngang qua tôi, mắt nó lướt lên mặt tôi, cái cột điện cuối lớp, dừng nửa nhịp, chưa hiểu, rồi trượt đi. Tốt. Không hiểu thì tốt. Việc làm trong điểm mù thì không ai tính vào sổ được, kể cả người được nó cứu.

Tôi ra hành lang thì trời đã xuống màu. An khuất ở cầu thang, cặp vẫn ôm trước bụng, nhưng lưng đã thẳng hơn lúc vào.

"Này."

Mai đứng ở cửa phòng Nề nếp, hộp đàn đã lên vai, dây đeo hằn một vệt trên áo trắng. Cô không lại gần, đứng đúng cái khoảng cách của người muốn nói một câu rồi đi.

"Cậu vào lớp lấy chai nước," cô nói.

"Ừ."

"Nói dối."

Cô không hỏi mà kết luận, phẳng như mọi câu khác. Tôi để một nhịp trôi qua, đủ để biết chối cũng vô ích. Người đọc ra con số 480 nghìn thì cũng đọc ra một chai nước bịa.

"Cậu không chứng minh được đâu," tôi nói.

"Không," cô thừa nhận, không chớp mắt. "Cậu chọn đúng chỗ để nói dối, chỗ không ai kiểm được. Tính kỹ đấy."

"Nghe như một lời khen."

"Không phải." Cô nhìn tôi, và lần này ánh mắt không hẹp lại dò xét nữa, nó thẳng và hơi khó chịu. "Cậu bịa mình vào cuộc để đạp đổ cái sổ. Cứu được bạn cậu, ừ, nhưng bằng cách tự khai mình có mặt ở hiện trường một vụ mất tiền. Từ mai cả lớp nhớ tên cậu cạnh chữ 'nghi'. Cậu biết chứ?"

"Biết."

"Vậy mà vẫn làm."

"Cái sổ sắp nghiền một đứa. Tên tôi thì rẻ. Tôi đem cái rẻ đi đổi. Lỗ hay lãi tôi tính rồi."

Cô im một lúc. Ngón tay phải siết quanh dây đeo hộp đàn, siết rồi buông, rất khẽ, cái động tác của người vừa nghe một câu không nằm trong bảng phân loại có sẵn và đang phải mở thêm một ngăn mới để cất nó vào.

"Tôi giữ luật vì luật che được người," cô nói, chậm rãi. "Cuốn sổ đó lẽ ra để bảo vệ đứa bị oan. Hôm nay nó suýt làm ngược lại. Tôi không thích bị nhắc điều đó." Cô dừng một nhịp. "Nói cho rõ, kẻo mai cậu lại tự vẽ ra chuyện khác: chiều nay tôi gạt cuốn sổ không phải vì tôi tin bạn cậu trong sạch, tôi chưa chắc được điều đó đâu. Tôi gạt vì bên đưa nó ra không chứng minh nổi nó đủ chắc. Chỉ cần thọc vào một nghi vấn không ai bác được là cuốn sổ mất tư cách chỉ tên. Đó là luật, đừng nhầm với lòng tốt của tôi."

Cô nói câu ấy với tôi mà tôi nghe ra cô đang nói với chính cuốn sổ trong tay. Một người tin vào cái sổ, hôm nay bị chính cái sổ phản. Cô không giận tôi. Cô giận vì tôi vô tình chỉ cho cô thấy cái công cụ cô tin có thể quay đầu cắn lại, và cô thuộc loại ghét nhất chuyện bị cho thấy điều đó, vì cô đã đặt cược cả cái trật tự của đời mình lên nó.

"Luật là câu chữ," tôi nói, khẽ hơn tôi định. "Người mới là thật. Sổ ghi sai thì sửa được, chứ đứa bị đóng dấu oan thì gỡ khó hơn nhiều."

Mai nhìn tôi lâu. Vành tai không ửng, mặt không đổi. Nhưng cô không đáp lại ngay, và với một người trả lời nhanh như cô, một khoảng lặng cũng thành một câu.

"Câu đó nghe hay," cuối cùng cô nói. "Hôm nay cậu đúng. Nhưng cậu vừa dạy cả cái phòng kia rằng khai dối thì phá được kết luận. Lần sau kẻ khai dối không tử tế như cậu thì sao?"

Tôi không có câu trả lời, vì cô đúng. Cái tôi vừa làm thì sạch được một lần, nhưng cách tôi làm thì bẩn, và cái bẩn ấy đâu tự biết dừng lại ở người tốt. Tôi mở miệng rồi lại ngậm vào. Lần đầu trong ngày, cái đầu vốn đọc trơn mọi thứ của tôi bị chặn ngang, không phải vì hết chữ, mà vì chữ nào bật ra cũng chỉ để tự bào chữa, và tôi thì ghét cái giọng tự bào chữa hơn cả ghét bị bắt bí.

Mai thấy tôi tắc. Cô không đắc thắng, chỉ khẽ hất đầu, kéo lại dây đàn trên vai.

"Về đi," cô nói. "Cột điện."

Tôi khựng nửa giây. Cái biệt danh đó tôi tự đặt cho mình, chưa nói với ai bao giờ. Nó buột ra như thể cô đã nhìn tôi đủ lâu để tự rút ra, hoặc như thể đọc trúng cái nhãn tôi dán lên chính mình. Tôi định hỏi. Nhưng cô đã quay đi, hộp đàn va nhẹ vào hông theo từng bước, bóng đổ dài trên hành lang sẩm tối.

Tôi về lớp lấy cặp.

Lớp trống, đèn tắt, chỉ còn vệt sáng cuối ngày hắt qua cửa sổ, đủ để thấy bụi phấn treo lơ lửng. Tôi ngồi xuống bàn cuối, chỗ của mình, và nhận ra tay mình đang đếm: bốn cạnh bàn, hai bản lề cửa sổ, một vệt sáng. Đếm từ lúc nào không hay. Tôi bắt nó ngừng. Muộn rồi. Cả buổi chiều tôi đã tiêu đúng cái thứ dành dụm ba năm, và giờ ngồi đây, cái vô hình đã thủng một lỗ không vá lại được.

Tôi mở balo, lôi cuốn sổ gáy lò xo ra. Dưới mấy dòng ghi hồi sáng — Khánh gật đều. Trí lùa sổ. Con số 480 báo không cần nghĩ — tôi viết thêm:

An: xong, chiều nay gỡ được.

Cái sổ: phá được bằng một tên khai dối. Ai cũng phá được, không riêng tôi. Nguy.

Con bé Ban Nề nếp: đọc người bằng cách nói thẳng, ngược tôi. Biết tôi nói dối mà vẫn để tôi thắng, vì hôm nay tôi đúng, không phải vì tôi khôn.

Tôi dừng bút ở đó. Còn một dòng nữa muốn viết mà không viết, vì viết ra thì nó thành thật: rằng lần đầu sau rất lâu, có người nhìn tôi mà không xếp vào ngăn "vô hại rồi quên". Cô xếp tôi vào một ngăn mới, cái ngăn cô vừa phải mở ra. Mà đã có người mở ngăn cho mình thì cái nghề tàng hình của tôi, kể từ chiều nay, coi như hỏng mất một góc.

Tôi gập sổ lại, đúng cái nấc nghe được tiếng gáy lò xo khựng.

Tách.

Một tiếng nhỏ, gọn, dứt khoát, thứ âm thanh duy nhất cả ngày hôm nay chịu nghe lời tôi tuyệt đối. Tôi ngồi nghe nó tắt giữa lớp học tối, và lần đầu tiên thấy cái tiếng quen thuộc ấy không còn đủ để trấn cho tay mình thôi lạnh.

Ngoài kia, cuối hành lang, cánh cửa Phòng Tham vấn vẫn hé, đúng như thầy Lâm để lại. Đợi một câu chưa ai viết nốt.

Tôi nhìn về phía nó một lúc lâu, rồi xách cặp đi ra.

Chưa phải hôm nay. Nhưng tôi biết mình sẽ còn quay lại căn phòng đó.

0