Khói Chiều Nơi Ấy

Chương 6: Bến Cũ Ngó Cây Cầu - Khu Bến Phà Cần Thơ Cũ

Đăng: 10/07/2026 22:05 1,198 từ 2 lượt đọc

Chiếc lá bàng khô rơi trên nền xi măng nứt, xoay hai vòng trong gió rồi nằm im. Tiếng lá chạm đất nghe rõ mồn một, vì chẳng còn âm thanh nào khác ở bến phà cũ này để lấn át nó. Xa xa, cây cầu Cần Thơ vươn mình qua sông, những trụ bê tông cao vút đỡ lấy nhịp dây văng, xe chạy qua lại không ngừng, tiếng động cơ vọng xuống mặt nước như một thứ âm thanh từ thế giới khác. Còn bến phà thì nằm im, nền gạch nứt, cỏ dại mọc lên từ khe đá, hàng rào sắt hoen gỉ đổ nghiêng một góc.

Dưới gốc cây bàng già, cành lá xòe rộng che mát một khoảng sân, có một bà cụ ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp, tay phe phẩy cái quạt mo cũ, mắt nhìn ra phía cầu. Bà tên Tư, nhà ở gần đó, hồi xưa bán nước trên chuyến phà này gần hơn bốn mươi năm, từ lúc còn con gái cho tới khi phà ngừng chạy vì có cầu.

"Cô lên đây chơi hả?"

Bà Tư hỏi khi thấy tôi đứng gần, giọng kéo dài, ấm.

Tôi dạ, rồi hỏi bà có hay ra bến phà cũ ngồi không.

"Hổng có bữa nào hổng ra."

Bà nói và cười, mấy cái răng còn lại ánh lên trong nắng chiều.

"Quen rồi. Già rồi mà chân còn đi được thì còn ra. Ngồi đây ngó cây cầu, ngó sông, vậy thôi."

Gió chiều thổi từ phía sông vào, mang theo mùi phù sa ngai ngái, lùa vào tóc bà Tư, mấy sợi bạc bay lòa xòa trên trán. Một chiếc ghe máy chạy ngang phía ngoài, tiếng máy nổ đều rồi xa dần, để lại vệt sóng nhỏ đập vào bờ bến cũ, lách tách trên mấy viên đá kè rêu phong.

"Hồi đó bến này đông dữ lắm đó cô."

Bà kể, mắt vẫn nhìn ra sông nhưng hình như đang thấy một khúc sông khác, một bến phà khác, cách đây mấy chục năm.

"Năm giờ sáng là có người xếp hàng rồi, xe đạp, xe máy, có khi cả xe lam chở hàng chất cao đến muốn đổ. Tui gánh nước mía, nước sâm, có khi thêm rổ bánh ít, đi tới đi lui giữa hai hàng xe chờ phà, rao hoài miệng khô mà hổng biết mệt."

Bà ngừng lại, quạt nhẹ mấy cái, rồi cười một mình.

"Có ông chạy xe đò tuyến lên Sài Gòn, bữa nào qua phà cũng mua ly nước mía của tui, nói nước mía bà Tư ngọt mà hổng gắt, uống vô là tỉnh người. Ổng mua hoài, mua riết thành quen, tui thấy xe ổng từ xa là rót sẵn ly nước mía để dành."

Nắng nghiêng dần, bóng cây bàng dịch chuyển trên nền xi măng, kéo theo bóng bà Tư và chiếc ghế đẩu nhỏ. Trên cầu, một chiếc xe tải nặng chạy qua, tiếng rầm rầm vọng xuống sông rồi tắt. Bà Tư nhìn theo chiếc xe, rồi nhìn xuống bến, nơi ngày xưa xe tải cũng chờ phà, xếp hàng dài, tài xế nhảy xuống hút thuốc, tán dóc, chờ cả tiếng mới tới lượt.

"Mùa nước lớn, phà phải neo chờ, khách đứng chờ cả buổi."

Bà kể tiếp, tay vẫn phe phẩy quạt.

"Tui bán hết nước thì chạy về nhà nấu thêm gánh ra. Mùa gió chướng, sông gợn sóng dữ, phà tròng trành, có bữa khách nôn nao, tui dắt cả con nít qua chỗ có tay vịn cho khỏi té."

Bà nhớ rõ có chuyến phà chở một đám cưới, cô dâu mặc áo dài đỏ đứng giữa phà, gió sông thổi tung khăn, chú rể ôm giữ không kịp, cả phà cười rộ. Có chuyến chở một ông già bệnh nặng được con cháu đưa đi viện gấp, phà chạy mà ai cũng im lặng, chỉ có tiếng máy nổ và tiếng sóng vỗ vào be phà.

Một con chim sáo đậu xuống thanh rào sắt gỉ cạnh bến, nghiêng đầu nhìn quanh rồi bay đi. Bà Tư nhìn theo nó, im lặng một lúc, rồi mới nói tiếp, giọng chậm hẳn lại.

"Tui nhớ cái ngày phà chạy chuyến cuối. Bữa đó tui cũng gánh nước ra như mọi bữa, mà khách ít hẳn, ai cũng nói từ nay đi cầu cho nhanh, hổng cần lụy phà nữa."

Chuyến phà cuối cùng, theo lời bà kể, không có gì đặc biệt, không kèn không trống, chỉ là một chuyến phà bình thường như hàng vạn chuyến trước đó, chỉ khác là sau đó không còn chuyến nào nữa. Người lái phà tắt máy, kéo neo, buộc dây lần cuối, rồi cả bến vắng dần, vắng dần, cho tới khi cỏ mọc lên từ khe gạch.

"Bữa đó tui buồn dữ lắm."

Bà nói, mắt nhìn xuống mặt sông.

"Mà giờ ngồi đây ngó cây cầu, thấy xe chạy vèo vèo qua, lại thấy mừng. Tụi nhỏ đi học, đi làm, qua sông nhanh, hổng phải chờ phà như hồi xưa như tụi tui."

Gió chiều thổi nhẹ qua bến phà cũ, vài chiếc lá bàng khô rơi xuống nền gạch. Bà Tư đưa tay phẩy cái quạt mo, đuổi một con muỗi vừa đậu lên cánh tay, mắt vẫn không rời cây cầu, nơi từng có dòng xe chạy qua không ngừng, ánh đèn pha bắt đầu sáng lên khi chiều xuống.

Tôi hỏi bà có còn nhớ gương mặt khách quen nào không, sau bao nhiêu năm.

Bà cười, lắc đầu nhẹ.

"Nhớ hết sao được cô. Mà có vài người, nhớ tới chết cũng hổng quên."

Bà ngừng lại, tay quạt chậm hẳn.

"Như cái ông chạy xe đò đó, ổng mất rồi. Nghe người ta nói lại, xe ông lật đâu trên quốc lộ."

Bà nhìn xuống tay mình, tay vẫn cầm quạt nhưng không quạt nữa.

"Tui nghe mà buồn nguyên buổi, hổng bán được gì hết bữa đó."

Phía xa, một chiếc tàu chở cát chạy ngang, để lại vệt sóng lan rộng trên mặt nước, đập vào bờ bến cũ rồi tan dần. Mặt sông lúc này đã chuyển màu tím nhạt, ánh đèn trên cầu bắt đầu sáng rõ, từng chùm đèn vàng nối tiếp nhau chạy dài qua sông, in bóng lung linh xuống nước lặng.

Bà Tư đứng dậy, phủi tay lên vạt áo bà ba cũ, cầm cái ghế đẩu xếp gọn, đặt dưới gốc cây bàng, chỗ bà vẫn để mỗi lần ra rồi về, không mang theo, để dành cho lần sau.

"Con tui hay biểu tui đừng ra đây hoài, nguy hiểm lắm, đường vắng."

Bà nói, bước đi chậm, dáng hơi khòm.

"Mà tui ở nhà buồn, ra đây ngó cây cầu, ngó sông, thấy lòng nhẹ hơn."

Bà đi về phía con hẻm nhỏ dẫn vào xóm, bóng đổ dài trên nền xi măng nứt, mỗi bước đi qua một khoảng bến phà từng đông nghẹt người giờ chỉ còn cỏ dại và gió.

Chiếc ghế đẩu nhỏ vẫn nằm đó, dưới gốc cây bàng, chờ một buổi chiều khác.

0