Chương 7: Ông Từ Kể Chuyện Nhà Trần - Đền Trần, Nam Định
Mùi trầm hương từ bát hương lớn ngoài sân bay vào tận hiên, lẩn qua những tán cây cổ thụ rồi tan ra chậm rãi như thể không muốn rời khỏi khu đền. Tôi bước qua cổng tam quan lúc mặt trời vừa lên khỏi ngọn tre phía đông, cái nắng đầu ngày còn mỏng và dịu, chưa đủ sức xuyên qua lớp rêu dày phủ trên mái ngói cong. Dưới chân, gạch lát sân đền đã mòn nhẵn bởi hàng triệu bước chân qua mấy trăm năm. Vào buổi sáng ngày thường như thế này, sân đền vắng đến mức nghe rõ tiếng chim sâu kêu trong bụi duối già sát tường.
Đền Trần vào mùa lễ hội thì khác hẳn. Người ta chen chân không lọt, khói hương mù mịt đến cay mắt, tiếng loa phóng thanh hòa vào tiếng chuông mõ và tiếng người gọi nhau í ới. Nhưng tôi không đến vào mùa ấy, tôi đến vào một ngày giữa tháng tư âm lịch, khi lễ hội đã qua lâu rồi, khi đền đã được trả về cho sự yên tĩnh vốn có của nó, và khi ông từ giữ đền có thời gian ngồi pha trà nói chuyện với một người lạ ghé qua.
Ông tên Thuận, họ Trần, như phần lớn người sống quanh khu đền này. Tóc ông đã bạc gần hết nhưng lưng vẫn thẳng, đôi mắt nhỏ và sáng, hay nheo lại khi cười. Ông ngồi ở cái bàn gỗ kê ngay hiên phía sau hậu cung, nơi có bóng mát của cây nhãn lồng cổ thụ mà ông bảo đã trồng từ đời cha ông. Ấm trà ông pha bằng chè mạn, thứ chè lá to hãm đậm, rót ra chén nhỏ có màu nâu cánh gián và mùi chát dịu lan trong không khí ẩm buổi sáng.
"Nhà tôi giữ đền ba đời rồi."
Ông Thuận nói, tay xoay xoay chén trà mà mắt cứ nhìn ra phía sân đền.
"Ông nội tôi giữ từ hồi Pháp còn ở đây. Bố tôi thì giữ qua mấy trận bom. Giờ đến tôi."
Ông kể chuyện nhẹ nhàng, không có vẻ gì là đang tự hào hay phô trương, mà giống như người ta kể chuyện nhà mình ăn gì sáng nay vậy thôi. Với ông, triều Trần không phải lịch sử trong sách giáo khoa. Triều Trần là chuyện nhà, là ông bà tổ tiên, là những người ông chưa gặp bao giờ nhưng ngày nào cũng thắp hương, ngày nào cũng quét dọn bàn thờ họ, ngày nào cũng nói chuyện với họ trong đầu.
"Hưng Đạo Vương ấy à, oai lắm chứ! Nhưng cháu à, trong nhà kể lại thì ngài cũng là người bình thường. Ngài cũng lo, cũng giận, cũng có lúc không ngủ được."
Ông Thuận hạ giọng, như thể đang kể chuyện một người họ hàng còn sống vậy.
"Mấy ông sử gia viết thì viết kiểu của mấy ông ấy, nhưng người trong nhà kể khác. Kể bằng cái tình, không kể bằng cái lý."
Tôi hỏi ông kể khác thế nào. Ông cười, rót thêm trà, rồi kể.
Ông kể rằng hồi nhỏ, mỗi tối ông nội ông hay ngồi ở chính cái hiên này, cũng dưới gốc cây nhãn này nhưng lúc đó cây còn nhỏ hơn nhiều, kể cho ông nghe chuyện nhà Trần đánh giặc Nguyên. Ông nội không kể kiểu ba lần đại thắng, không kể kiểu sách vở. Ông nội kể rằng lúc giặc đến, dân chạy hết, lúa chín ngoài đồng không ai gặt, trâu bò thả rông, đêm nào cũng nghe tiếng khóc phía bên kia sông. Rồi ông nội kể rằng sau khi thắng trận, vua Trần cho người đi tìm lại từng gia đình đã mất người, ghi tên từng người vào sổ, không phải để ghi công mà để nhớ.
"Ông nội tôi bảo, nhà Trần thắng vì biết nhớ người, nhớ từng người một, không nhớ chung chung."
Ông Thuận bảo ông nhớ mãi câu ấy. Và ông giữ đền cũng theo cách ấy, nhớ từng người một.
Ông nhớ từng bát hương đặt ở đâu, từng bức hoành phi treo từ năm nào, từng viên ngói nào bị vỡ vào mùa mưa năm ngoái mà chưa thay. Ông nhớ cả những người đến lễ. Có bà cụ ở Vụ Bản, năm nào cũng đến vào đúng ngày mười bốn tháng giêng, lễ xong ngồi khóc một lúc rồi về. Ông không hỏi, bà không nói, nhưng hai người gật đầu chào nhau như đã quen từ lâu lắm. Có anh thanh niên Hà Nội, mỗi lần thi cử lại xuống xin ấn, ông Thuận pha trà mời và dặn "cứ học đi rồi đỗ, xin ấn là xin cái phúc chứ không phải xin cái bằng". Anh thanh niên ấy giờ đã thành ông, vẫn xuống thắp hương mỗi năm, không xin gì nữa, chỉ đến thắp rồi ngồi uống trà với ông từ.
Nắng đã lên cao hơn, bóng cây nhãn thu hẹp lại, và mấy con kiến bò dọc theo mép bàn gỗ. Ông Thuận đứng dậy bảo tôi đi theo, ông dẫn vào trong hậu cung.
Hậu cung mát lạnh, ánh sáng lọt qua khe cửa gỗ rọi thành từng vệt dài trên nền gạch. Mùi trầm hương cũ quánh lại trong không khí, thứ mùi mà tôi nghĩ phải mất rất nhiều năm, rất nhiều nén hương mới tích lại được sâu đến thế. Những bức tượng thờ ngồi im lặng trong bóng tối, khuôn mặt nào cũng phẳng lặng và xa xăm, nhưng ông Thuận nhìn họ bằng ánh mắt của người nhìn người quen của mình.
"Đây là Thái Tông, cháu à. Ông này hiền, ít nói, thích đọc sách. Còn đây là Nhân Tông, ông này thì đặc biệt, tu hành mà vẫn lo chuyện nước." Ông chỉ từng bức tượng, giọng nhỏ nhẹ mà tự nhiên, như dẫn khách đi gặp mấy người anh em trong nhà. Không có giọng thuyết minh, không có ngữ điệu của người hướng dẫn viên, mà chỉ có giọng của một người đã quen thuộc với từng khuôn mặt ấy đến mức nhắm mắt cũng hình dung ra được.
Ông dừng lại trước một bức tượng nhỏ hơn, đặt ở góc khuất phía sau.
"Còn bà này, ít người để ý lắm. Bà là Huyền Trân, được gả sang Chiêm Thành, khổ lắm." Ông lau nhẹ bụi trên vai tượng bằng chiếc khăn vắt sẵn trên tay, chậm rãi như sợ làm đau, rồi bước sang gian bên cạnh.
Tôi không nói gì. Trong hậu cung lúc ấy chỉ có tiếng ông Thuận thở nhẹ và tiếng mối mọt gặm đâu đó trong xà gỗ cũ.
Ông dẫn tôi ra sân sau, nơi có một cái giếng cổ xây bằng đá ong, nước trong vắt nhìn thấy đáy. Ông bảo giếng này xưa là giếng cung, nước ngọt quanh năm, bây giờ không ai dùng nữa nhưng ông vẫn múc nước rửa sân mỗi sáng.
"Nước giếng cổ rửa sân đền cổ, nó hợp nhau."
Ông nói rồi cười, nụ cười làm nheo cả đôi mắt lại. Chúng tôi quay lại hiên ngồi. Ông pha ấm trà thứ hai. Lần này ông kể chuyện mùa lễ hội.
"Mùa khai ấn thì cháu biết rồi, đông lắm."
Ông cười, lắc đầu nhẹ.
"Đông đến mức có năm tôi đứng trong đền mà thấy thương mấy cụ ngồi trong kia phải nghe cái ồn ấy."
Nhưng rồi ông kể, sau đêm khai ấn, khi người ta rút đi hết, khi rác được quét xong, khi đèn nến tắt bớt, ông một mình đi kiểm tra lại từng gian thờ. Cái bát hương nào bị xê dịch thì đặt lại, cái bình hoa nào đổ thì dựng lên, nền gạch nào bị vấy bẩn thì lau sạch. Ông làm những việc ấy trong im lặng, chậm rãi, như một nghi lễ riêng của ông sau cái nghi lễ ồn ào của đám đông. "Lúc đó mới là lúc tôi nói chuyện với mấy cụ được. Tôi bảo, thôi xong rồi, mấy cụ nghỉ đi, năm nay cũng vậy thôi, mấy cụ thông cảm."
Ông nói câu ấy mà mắt nhìn ra sân đền, nơi lúc này chỉ có nắng và vài chiếc lá khô bay theo gió nhẹ.
Gần trưa, trời nóng hơn, ve bắt đầu kêu ran trong tán nhãn. Có một cặp vợ chồng trẻ đi xe máy từ thành phố xuống, vào đền thắp hương rồi đi ra, tổng cộng chừng mười lăm phút. Ông Thuận nhìn theo, không phán xét, chỉ gật đầu khi họ chào.
Ông rót chén trà cuối cùng trong ấm, chén trà đậm nhất bao giờ cũng là chén cuối. Tôi hỏi ông có bao giờ muốn nghỉ không, để con cháu giữ đền thay. Ông im lặng một lúc, xoay chén trà trong tay, rồi nói:
"Có chứ, mệt chứ. Nhưng mà tôi nghỉ thì ai nói chuyện với mấy cụ. Con tôi nó bận, nó ở trên Hà Nội, nó chỉ về được mấy ngày Tết. Cháu tôi thì còn nhỏ. Thôi thì tôi cứ ở đây, khi nào mấy cụ bảo nghỉ thì nghỉ."
Tôi chào ông Thuận ra về lúc nắng đã đứng bóng. Bước qua sân đền, tôi ngoái lại nhìn. Ông vẫn ngồi đó, dưới gốc nhãn, một mình giữa khu đền rộng và vắng. Rồi ông cầm cái chổi lông gà lên, đứng dậy chậm rãi, đi vào hậu cung.
Nắng trưa phủ lên mái đền một lớp vàng ấm, ve kêu ran rát, và khói hương từ bát hương ngoài sân bay lên thành một sợi mỏng rồi tan vào trời cao.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.