Khói Chiều Nơi Ấy

Chương 10: Sợi Gió Mặn Không Đứt - Xóm Vạn Chài Cửa Đại, Quảng Nam

Đăng: 13/08/2026 02:44 1,915 từ 2 lượt đọc

Mùi lưới phơi khô trộn với mùi cá ướp muối bay trong gió chiều, nồng đến mức người lần đầu ngửi phải nhíu mày, nhưng với những người sống ở đây thì đó là thứ mùi của nhà, quen thuộc như hơi thở vậy. Tôi đứng ở đầu bãi, chỗ mấy chiếc thuyền thúng úp sấp trên cát, nhìn ra phía biển đang chuyển sang màu đồng lúc cuối ngày, và nghe tiếng sóng vỗ đều đều như ai đó đang thở dài rất chậm.

Xóm vạn chài Cửa Đại nằm co mình bên cửa sông Thu Bồn, nơi nước ngọt và nước mặn gặp nhau rồi cùng chảy ra biển. Mấy chục nóc nhà lợp tôn thấp lè tè, quay mặt ra bãi, sân trước nhà nào cũng là lưới phơi. Lưới giăng trên cọc tre, lưới trải trên cát, lưới vắt trên mạn thuyền. Cả xóm như bị bao bọc trong một tấm lưới khổng lồ, và người ta sống trong đó, thở trong đó, không thấy chật mà chỉ thấy ấm.

Bà Sáu ngồi dưới mái hiên nhà, hai chân duỗi thẳng trên chiếc chiếu cói đã sờn, tay cầm kim vá lưới mà mắt thì nhìn ra phía biển. Đôi tay bà làm việc một đằng, đôi mắt bà ở một nẻo, như thể hai phần cơ thể đã quen thuộc với hai nhiệm vụ riêng biệt đến mức không cần bàn bạc với nhau nữa. Tay cứ vá, mắt cứ ngóng. Ba mươi năm rồi bà làm vậy, kể từ ngày lấy ông Sáu, người đàn ông đen nhẻm có đôi vai rộng như mạn thuyền, mỗi sáng dong ghe ra khơi và mỗi chiều bà đứng đợi ở bãi.

"Hồi mới về đây, tui sợ biển lắm."

Bà Sáu kể bằng giọng Quảng nhẹ và hơi khàn, nghe như cát lẫn trong gió.

"Tui là con gái ruộng, ở trên Điện Bàn xuống, hông biết bơi, hông biết chi về biển hết. Ổng dắt tui ra bãi, chỉ cái thuyền thúng nói mai mốt tui đi cái ni kiếm cơm cho bà, tui nhìn cái thuyền tròn vo mà muốn khóc."

Bà cười khi kể, nụ cười để lộ hàm răng đã rụng mấy chiếc, nhưng đôi mắt thì sáng, cái sáng của người đã quen nhìn xa ngoài mặt nước nên mắt lúc nào cũng mở rộng, lúc nào cũng như đang tìm kiếm một cái gì đó ở phía đường chân trời.

Tôi ngồi xuống bậc thềm cạnh bà, nhìn theo hướng mắt bà nhìn. Biển chiều Cửa Đại rộng và phẳng, sóng không lớn nhưng dồn dập, lớp này chưa tan đã có lớp khác. Mấy chiếc ghe nhỏ vẫn còn ngoài xa, chấm đen lấp lóa trên mặt nước ánh vàng, chưa biết chiếc nào là ghe ông Sáu. Nhưng bà biết. Bà chỉ tay ra phía bên trái, chỗ gần mũi đá, nói ổng đó, chiếc có miếng vá đỏ trên mui, ổng sắp vô rồi.

Tôi nhìn theo mà chẳng phân biệt được chiếc nào với chiếc nào, tất cả đều nhỏ xíu, đều lắc lư, đều giống nhau trong ánh chiều nhòe nhoẹt. Nhưng bà Sáu thì khác. Ba mươi năm nhìn ra biển mỗi chiều đã cho bà một thứ thị lực riêng, thứ thị lực không đo bằng bảng đo mắt mà đo bằng nỗi lo và sự chờ đợi. Bà nhận ra ghe chồng mình từ khi nó còn là một vệt mờ, giống như người mẹ nhận ra tiếng khóc con mình giữa đám đông, không cần nhìn rõ, chỉ cần cảm thấy.

Trong lúc chờ, bà vá lưới. Sợi cước trong suốt luồn qua những mắt lưới rách, kim nhỏ xíu trong bàn tay chai sần, nhưng mũi kim đi rất chính xác, từng mũi một, đều tăm tắp. Bà bảo lưới rách thì phải vá liền, để qua đêm là mối rách lan ra, mai ổng đi mà lưới rách thì coi như buổi đi biển đó bỏ. Giọng bà nói chuyện lưới như nói chuyện người, có chỗ lo lắng, có chỗ trách nhẹ, như thể tấm lưới cũng là một thành viên trong nhà mà bà phải chăm sóc.

Cạnh bà, mấy chị em trong xóm cũng ngồi vá lưới hoặc gỡ cá khỏi lưới từ mẻ trưa. Tiếng họ nói chuyện lao xao, xen giữa là tiếng sóng và tiếng gió, tạo thành một thứ âm thanh nền rất riêng của xóm vạn chài, không ồn ào nhưng cũng không bao giờ im lặng. Chị Bảy ở nhà bên kể hồi hôm con chị sốt, phải chạy lên trạm xá trên phố, về tới nhà là hai giờ sáng mà bốn giờ ông chồng đã dậy đi biển. Chị Tư góp chuyện rằng mùa ni cá ít, ghe nào về cũng mặt buồn so, chắc phải chờ tới tháng sau mới khá được. Những câu chuyện trôi qua nhẹ nhàng, không ai than thở, không ai kêu ca, chỉ kể rồi thôi, như thể nói ra là đã nhẹ đi một phần.

Tôi hỏi bà Sáu có bao giờ bà không ra bãi đợi ông chiều nào không. Bà lắc đầu, không cần nghĩ. "Hông có bữa mô. Ổng đi là tui ra. Mưa tui cũng ra, gió tui cũng ra. Có bữa bão, ổng hông đi được, ở nhà, tui vẫn ra bãi ngồi, quen rồi, hông ra thì bứt rứt."

Ba mươi năm, tính ra là hơn mười ngàn buổi chiều bà Sáu ngồi ở cái bãi cát này, nhìn ra cái biển này, đợi cái bóng ghe đó quay về. Phần lớn là những buổi chiều bình thường, ghe về đúng giờ, cá vừa đủ, ông Sáu lên bãi gật đầu chào bà rồi hai người cùng kéo lưới lên phơi, không ai nói gì nhiều vì tất cả đã nói bằng sự có mặt. Thỉnh thoảng có buổi chiều cá đầy khoang, ông Sáu nhảy xuống nước miệng cười tươi, bà Sáu cũng cười theo mà không biết mình đang cười. Nhưng cũng có những chiều mưa giông kéo đến bất ngờ, sóng lớn, ghe về muộn, bà đứng ướt sũng ngoài bãi nhìn đường chân trời bị mây đen nuốt dần mà hai bàn tay nắm chặt vào nhau không biết để làm gì. Những buổi chiều đó bà không kể nhiều, chỉ nói qua rồi lảng sang chuyện khác, như thể nhắc lại cũng đã đủ sợ.

Khi ghe ông Sáu vào gần bờ, tôi mới thấy rõ chiếc ghe nhỏ hơn tôi tưởng, sơn xanh đã bạc, mũi ghe vẽ hai con mắt to tròn nhìn thẳng ra phía trước. Ông Sáu đứng trên ghe, người đen bóng, quần xắn quá gối, tay kéo dây neo. Bà Sáu đã đứng dậy lúc nào, bước xuống bãi cát, dép lê kéo trên cát tạo thành hai vệt dài. Bà không chạy, không vẫy tay, chỉ đi từ từ ra mép nước, tự nhiên như nước thủy triều dâng lên rồi rút đi, không cần ai bảo.

Ông Sáu kéo ghe lên bãi, bà Sáu đã đứng sẵn ở đó, hai người không ôm nhau, không hỏi han ồn ào, chỉ cùng nhau lật thùng cá ra kiểm, rồi cùng gỡ lưới. Ông nói cá bữa ni ít, bà nói biết rồi, mùa ni là rứa. Hai câu nói gọn như hai mũi kim khâu vào nhau, vừa khít, không thừa chỉ nào.

Tôi đứng nhìn họ làm việc trong ánh chiều đang tắt dần. Cát dưới chân chuyển từ vàng sang xám, biển từ đồng sang tím, và hai cái bóng của ông bà Sáu kéo dài trên bãi, nghiêng về phía xóm nhà. Mấy đứa nhỏ trong xóm chạy ra bãi chơi, đứa ôm quả bóng nhựa, đứa cầm que vẽ lên cát, tiếng cười lanh lảnh xé gió. Con chó vện nằm cạnh chiếc thuyền thúng ngẩng đầu nhìn rồi lại gục xuống, quá quen với cái cảnh này để còn tò mò.

Chị Bảy xách rổ cá nhỏ đi ngang, ghé lại nói với bà Sáu rằng tối ni chị nấu canh chua, có muốn chị gửi cho tô không. Bà Sáu nói ừ, gửi cho tui miếng, bữa ni ổng về có mấy con cá nục, kho tiêu thôi chớ hông đủ nấu canh. Chị Bảy cười, bảo rồi đi, dép chị lẹp xẹp trên cát nghe rõ mồn một. Cả xóm sống với nhau kiểu đó, cá nhà này ít thì nhà kia chia, rau nhà kia thừa thì nhà này xin, không ai tính toán, không ai ghi nợ. Biển cho cá thì chia nhau, biển không cho thì cùng chịu, đơn giản như nước chảy về chỗ trũng.

Ông Sáu phơi xong lưới thì đi rửa chân dưới vòi nước trước nhà, bà Sáu bưng rổ cá vào bếp. Tôi nghe tiếng bà nhóm lửa, tiếng dầu sôi trong chảo, mùi cá kho tiêu bắt đầu bay ra, cay cay, mặn mặn, ấm cả một góc xóm đang chìm vào bóng tối. Ông Sáu ngồi trước hiên, châm điếu thuốc, nhìn ra biển lần nữa, như thể biển là một người quen mà mỗi ngày phải chào buổi sáng khi đi và chào buổi tối khi về.

Tôi hỏi ông có bao giờ muốn bỏ biển không. Ông rít thuốc, khói bay lên rồi bị gió cuốn mất, lâu lắm mới nói.

"Biển mà bỏ răng được. Biển nuôi tui, tui sống nhờ biển, chết cũng chắc ở ngoài biển luôn. Bà nhà tui sợ tui nói rứa, nhưng mà tui nói thiệt."

Bà Sáu trong bếp nghe được, nói vọng ra, giọng giả bộ giận mà nghe rõ tiếng cười đằng sau.

"Ông đừng có nói bậy, tui nghe hông vô."

Ông Sáu cười, cái cười của người đàn ông cả đời đi biển, rám nắng đến mức nếp nhăn trên mặt cũng có màu nâu sẫm. Ông không nói thêm, chỉ ngồi hút thuốc, và tôi hiểu rằng giữa ông và bà, giữa họ và biển, có một thứ giao ước không viết trên giấy, không nói thành lời, chỉ lặp đi lặp lại mỗi ngày bằng những buổi ra đi và những buổi trở về.

Tối đó trời trong, sao lấp lánh trên mặt biển như muối trắng ai vãi lên nền vải đen ướt. Xóm vạn chài lên đèn, ánh đèn vàng hắt qua những tấm vách tôn, rọi ra bãi cát thành những vệt sáng dài run rẩy. Đâu đó có tiếng radio phát bản tin thời tiết biển, giọng phát thanh viên đọc tên những vùng biển xa mà tôi chưa từng nghe, nhưng ông Sáu nghe thì gật gù, thuộc từng cái tên như thuộc tên hàng xóm.

Bà Sáu bưng ra hai chén cơm, đĩa cá nục kho tiêu, tô canh rau muống mà chị Bảy gửi thêm mấy lát cà chua. Hai vợ chồng ngồi ăn trước hiên, không mời nhau vì đã quá quen, không khen ngon vì ngày nào cũng vậy, chỉ ăn, và thỉnh thoảng nói một câu ngắn về ngày mai, về con nước, về mẻ lưới.

Tôi rời xóm vạn chài khi trăng đã lên cao, mặt biển trắng bạc, sóng vẫn vỗ đều đều vào bãi cát. Ngoái lại nhìn, tôi thấy bóng bà Sáu đang thu chiếu trước hiên, rồi bà dừng lại một lát, đứng nhìn ra biển lần cuối trong ngày, trước khi quay vào nhà đóng cửa.

0