Kỷ Nguyên Mới

Chương 24: Dải Cừ Thép Năm 1994

Đăng: 31/08/2026 07:30 3,338 từ 1 lượt đọc

Mùi giấy ẩm lưu kho ba mươi năm xộc lên lẫn với mùi khói thuốc lá của Đội trưởng Hùng còn vương lại trong phòng giao ban.

Trên mặt bàn họp ghép bằng ván ép phủ pho-mi-ca đã sứt mép, mười sáu tập hồ sơ trạm biến áp phụ tải ven đê Bến Đông được Nam chia thành hai dãy. Bản đồ trắc dọc địa tầng và sơ đồ tuyến quai đê chống lũ mùa khô năm một chín chín tư trải rộng ở giữa, mép giấy can ố vàng và quăn mép sau nhiều năm nằm trong tủ sắt của Chi nhánh Lưu trữ đô thị.

Bùn đất phù sa từ chuyến kiểm tra bãi cát Hưng Thịnh hồi chiều đã khô lại, bám thành từng mảng mốc thếch quanh gót ủng của Khải đặt dưới gầm bàn. Khải kéo chiếc máy đọc vi phim quang học từ góc phòng lại gần ổ cắm. Chiếc máy vỏ thép xám nặng gần hai chục ký trượt trên nền xi măng rít lên một tiếng khô khốc. Công tắc bật mở, quạt gió bên trong tản nhiệt rè rè, bóng đèn chiếu rọi năm trăm oát phả ra luồng hơi nóng nồng mùi dầu biến áp cũ.

Bách ngồi ở đầu bàn bên kia, hai tay ôm cốc nước nguội. Anh miết ngón tay theo đường mực nho thể hiện tuyến đê quai năm một chín chín tư:

"Chiều nay xử lý xong vụ công nhân Lâm dưới bãi cát Hưng Thịnh, tôi với anh Lợi bên địa kỹ thuật rà lại toàn bộ sổ theo dõi an toàn điện lực. Mười sáu trạm phụ tải này đều đấu vào đường trung thế chạy dọc mái đê. Biên bản đo định kỳ năm năm một lần cho thấy vị trí cọc tiếp địa của mười bốn trạm trùng khít sơ đồ hoàn công. Riêng trạm bãi cát Hưng Thịnh với trạm bơm phân xưởng đúc cũ là có độ lệch về cao độ đáy móng và lớp bùn sét xung quanh."

Khải vặn núm chỉnh tiêu cự trên thân máy đọc vi phim, đưa quầng sáng vuông vức chiếu ngay ngắn xuống mặt bàn kim loại mạ kẽm:

"Hồi chiều cắm sào cơ học xuống bùn bãi Hưng Thịnh, mũi sào chạm phải dải kim loại ngầm nằm ngang ở độ sâu tám mươi phân. Một dải kéo dài liên tục từ chân móng giàn sàng ra tận mép kè đá không thể là phế liệu chôn lấp ngẫu nhiên. Nó nằm thành tuyến thẳng, chịu lực và dẫn điện khi triều dâng. Phải có một đợt thi công quy mô lớn mới để lại kết cấu như vậy."

Cánh cửa gỗ phòng giao ban kêu cọt kẹt khi bị đẩy vào từ bên ngoài.

Kỹ sư Nguyễn Văn Chấn khoác chiếc áo bông cũ màu cỏ úa bước vào, nách kẹp chiếc cặp da sờn mép khóa đồng. Mưa phùn ngoài hành lang làm vai áo ông ẩm sẫm lại một vệt.

Nam đứng dậy kéo chiếc ghế tựa có đệm nỉ lại gần chỗ ông lão:

"Bác Chấn, ngoài trời rét thế này bác đi bộ từ dãy A sang làm gì. Chúng cháu định rà xong cuộn vi phim này mới mang tài liệu ghé phòng bác."

Ông Chấn ngồi xuống ghế, đặt chiếc cặp da lên mép bàn. Bàn tay gầy guộc nổi đồi mồi tháo chiếc khăn len quàng cổ:

"Cậu Nam gọi điện bảo dưới bãi cát có công nhân bị giật dính vào cáp tời khi đã cắt cầu dao tổng ba pha, tôi ngồi nhà không yên. Trưa nay tôi lục lại mấy cuốn sổ công tác thời còn nằm trong ban chỉ huy chống lụt bão của xí nghiệp đóng tàu. Có việc này tôi phải sang nói trực tiếp để các anh tra cứu cho đúng hướng. Nhưng tôi nói trước, trí nhớ của người già sau ba chục năm có thể không còn chuẩn xác từng chi tiết, các anh bắt buộc phải kiểm chứng lại bằng văn bản gốc."

Khải dừng tay xoay trục gá phim, nhìn sang ông lão:

"Bác cứ nói những gì bác còn nhớ. Chúng cháu có cuộn vi phim lưu trữ gốc của công trình quai đê năm một chín chín tư ở đây để đối chiếu từng khung hình."

Ông Chấn nhấp ngụm nước ấm Nam vừa rót:

"Sau trận lũ lịch sử cuối mùa mưa năm chín tư, sông Bến Đông dâng cao vượt báo động ba, đoạn đê bao bãi bồi sạt trượt đúng đoạn luồng lạch sình lầy cũ. Nước khoét sâu vào chân kè tạo hàm ếch dài cả trăm mét, đất đá sụt từng mảng đe dọa vỡ tuyến đê bảo vệ xí nghiệp và khu dân cư. Ban chỉ huy tiền phương của Ty Giao thông công chính phối hợp với xí nghiệp chúng tôi tổ chức quai đê khẩn cấp liên tục ba ngày ba đêm."

"Hồi đó bác có trực tiếp ngoài hiện trường không?" Khải hỏi.

"Tôi phụ trách cụm máy phát điện dã chiến với dàn đèn rọi công trường," ông Chấn nhớ lại, giọng chậm rãi. "Tôi nhớ mang máng trong đêm thứ hai, khi đất đá đổ xuống bao nhiêu trôi bấy nhiêu, có một bản vẽ thiết kế thi công bổ sung khẩn cấp được lập ngay trên nắp ca-pô xe chỉ huy. Người ta quyết định không dùng rọ đá nữa mà cho đóng cọc cừ sâu xuống lòng lạch để giữ chân kè. Bản vẽ lập gấp gáp ngoài bãi giữa lúc mưa lũ, ký tay bằng bút than chì, không biết sau này lập hồ sơ hoàn công để quyết toán họ có đưa vào lưu trữ hay không."

"Bác nhớ họ dùng loại cọc gì đóng xuống không?" Bách hỏi.

"Không nhớ rành rọt chủng loại," ông Chấn lắc đầu. "Chỉ nhớ đêm đó bùn ngập ngang hông thợ, máy ép cọc bánh xích không dám xuống bãi lầy vì sợ lún máy. Ban chỉ huy phải điều hai chiếc xà lan chở búa máy từ ngoài luồng sông áp sát bờ, dùng cần cẩu đóng cừ thép tấm từ ngoài mép nước ép thẳng vào chân đê. Sáng hôm sau nước rút thì phù sa non và cát bồi đã phủ kín mặt bãi. Bản vẽ hoàn công lưu trữ ở phòng Quản lý đô thị các anh đang cầm chỉ là bản nghiệm thu tổng thể mặt đê sau khi đã đắp đất gia tải và trải đá dăm."

Khải gật đầu. Anh mở chiếc hộp các-tông niêm phong đựng cuộn vi phim số hiệu mười chín gạch chín tư do Chi nhánh Lưu trữ đô thị bàn giao chiều nay.

Cuộn phim nhựa ba mươi lăm mi-li-mét trong suốt bọc trong lớp giấy dầu chống ẩm được nhấc ra. Khải luồn đầu dải phim qua rãnh trượt của thấu kính quang học, gài chốt vào trục cuộn thứ hai rồi xoay núm chuyển khung hình.

Từng trang tài liệu kỹ thuật, biên bản khảo sát, lệnh điều động nhân lực và chữ ký của các thành viên hội đồng nghiệm thu năm một chín chín tư hiện lên trên mặt bàn kim loại mạ kẽm.

Nam cầm tập danh sách mười sáu trạm đối chiếu từng mục:

"Khung số bốn mươi mốt: Trạm bơm tiêu úng Bến Đông, nghiệm thu ngày mười bốn tháng Mười một năm chín tư. Khung số bốn mươi hai: Trạm phân phối xí nghiệp vỏ tàu, nghiệm thu ngày hai mươi tháng Mười một. Khung số bốn mươi ba: Tuyến cáp ngầm trạm đúc..."

Núm xoay cơ học kêu cạch cạch đều đặn. Bụi mịn bám trên mặt thấu kính bốc mùi khét nhẹ dưới sức nóng của bóng đèn máy chiếu.

Đến khung hình số bốn mươi bảy, tiêu đề bản vẽ hiện lên rõ nét: Bản vẽ hoàn công hệ thống tiếp địa và gia cố chân kè phân đoạn bãi bồi Bến Đông.

Khải dừng trục xoay. Ánh sáng từ bóng đèn máy chiếu gom lại thành quầng tròn rọi vào bản vẽ mặt bằng tỷ lệ một phần hai trăm. Trên sơ đồ tuyến kè đá chạy dọc bờ sông, các cọc tiếp địa bằng đồng phi mười lăm đóng sâu ba mét rưỡi được đánh dấu bằng những vòng tròn nhỏ màu đen kèm theo tọa độ mốc trắc địa, đánh số thứ tự từ một đến mười sáu.

Bách nhìn vào các ký hiệu:

"Trạm bãi cát Hưng Thịnh nằm ở vị trí cọc số mười lăm và mười sáu, đóng sát mép rãnh tiêu thoát nước."

Khải đưa ngón tay rà theo mép luồng lạch sình lầy cũ trên bản vẽ. Cách vị trí cọc số mười sáu chừng hai mươi lăm mét về phía hạ lưu, tại khúc cong trũng nhất của lòng lạch chết, xuất hiện một ký hiệu hình vuông nhỏ màu xám nhạt bị một vệt mực đỏ gạch chéo. Dưới vệt gạch chéo đó, một dòng chữ ghi chú bằng bút than chì mờ nhạt nhưng vết hằn cơ học của ngòi bút vẫn còn ăn sâu vào lớp phim nhũ tương: Cọc số mười bảy - Cọc cừ giữ bùn.

"Đúng nó rồi," ông Chấn nói, ngón tay chỉ vào vệt gạch đỏ. "Bản thi công khẩn cấp đêm lũ năm chín tư có cọc số mười bảy. Nhưng trên bản hoàn công lưu trữ chính thức này nó bị gạch bỏ."

Không khí trong phòng giao ban đột ngột chùng xuống.

Khải khựng lại. Bàn tay trái của anh đang tì trên mép khung kim loại mạ kẽm của máy đọc vi phim bỗng cảm nhận một luồng khí lạnh buốt truyền qua da thịt, giống như vừa chạm tay vào khối băng ngâm dưới đáy nước ngập mặn.

Nhiệt độ trên bề mặt tấm kim loại mạ kẽm tụt xuống nhanh. Lớp sơn tĩnh điện màu xám xịt bắt đầu sẫm màu lại như bị ngấm nước từ bên trong đùn ra. Ngay dưới quầng sáng rọi của bóng đèn máy chiếu, một dải sương lạnh li ti mỏng dính ngưng kết thành hình.

Nam lùi ra sau nửa bước:

"Anh Khải... sương bám trên mặt máy."

Dải sương lạnh không ngưng kết ngẫu nhiên thành mảng tròn. Nó kéo dài từ mép kính quang học, uốn lượn thành một đường cong dài chừng ba mươi phân trên mặt kim loại, men theo đúng vệt uốn cong của luồng lạch sình lầy cũ thể hiện trên bản vẽ vi phim bên dưới. Khí lạnh tỏa ra từ vệt sương buốt rát, nhưng toàn bộ phần khung sắt còn lại của máy đọc và mặt bàn gỗ ép xung quanh vẫn khô ráo, nhiệt độ giữ nguyên mức mười tám độ của phòng họp.

Bách lấy chiếc đồng hồ vạn năng điện tử trong túi đồ nghề ra, đưa đầu đo nhiệt độ tiếp xúc lại gần, giữ cách mặt sương chừng hai phân. Màn hình kỹ thuật số nhảy số liên tục rồi dừng lại ở mức chín phẩy một độ C.

"Bóng đèn máy chiếu năm trăm oát rọi thẳng xuống mặt bàn kim loại," Bách nhìn màn hình đo. "Mặt kim loại ngay dưới quầng đèn này bình thường phải nóng ít nhất bốn mươi độ C. Sao nó lại tự đóng sương theo đúng hình luồng lạch thế này?"

"Mọi người đứng nguyên vị trí, không ai chạm tay trần vào thân máy," Khải nói.

Anh rút chiếc thước kẻ bằng nhựa cứng trong túi ngực ra, dùng cạnh nhựa gạt nhẹ lên dải sương lạnh ngưng kết trên mặt kim loại.

Lớp sương mỏng cào ra những hạt bột trắng nhỏ li ti, rơi xuống mặt bàn rồi tự biến mất trong không khí mà không để lại vệt nước ẩm nào, giống như hiện tượng từng xuất hiện trên mẫu dây đồng trạm bơm phân xưởng đúc và sợi cáp tời bãi cát Hưng Thịnh ban chiều.

Khải giữ nguyên cạnh thước nhựa, nhìn sát vào khung vi phim số bốn mươi bảy. Dưới quầng sáng rọi ngược, lớp phim nhũ tương tại vị trí ký hiệu cọc số mười bảy nổi rõ những đường vân kim loại đan chéo của một kết cấu thép tấm dập sóng.

"Ký hiệu cọc số mười bảy này không phải cọc tiếp địa tròn bằng đồng phi mười lăm," Khải chỉ vào vết than chì hằn dưới vệt mực gạch chéo. "Đây là ký hiệu của cừ thép chống xói dạng bản Larsen. Năm chín tư, đội thi công khẩn cấp đã ép cả một dãy cừ thép dạng bản, kéo dài hàng chục mét và ăn sâu xuống tầng bùn sét ngập mặn để giữ chân kè chống sạt trượt. Nhưng khi lập hồ sơ hoàn công tổng thể để quyết toán, họ đã gạch bỏ ký hiệu này."

"Sao lại gạch bỏ một kết cấu gia cố kiên cố như vậy khỏi hồ sơ hoàn công?" Nam hỏi, mắt vẫn nhìn dải sương lạnh đang tan dần trên mặt máy.

Khải xoay nhẹ núm điều khiển, kéo trục cuộn phim sang góc dưới bên phải của bản vẽ, nơi có khung tên phê duyệt thiết kế và các chữ ký nghiệm thu kỹ thuật hiện trường.

Tại ô chức danh Cán bộ giám sát kỹ thuật hiện trường Ty Giao thông công chính, một chữ ký nét mực xanh sẫm hiện lên bên cạnh con dấu tròn mờ nhạt: Phạm Gia Thành.

Ông Chấn nhìn dòng chữ ký in trên phim nhũ tương:

"Phạm Gia Thành... Đúng rồi, thời đó anh ta là đội trưởng đội công trình cầu đường ven sông của Ty. Sau đợt quai đê hộ đê năm chín tư thì chuyển ngạch sang làm quản lý dự án cho các công ty xây dựng hạ tầng."

Nam mở chiếc máy tính xách tay của đội đặt ở đầu bàn, truy cập vào cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp và danh sách nhân sự quản lý các nhà thầu thi công hạ tầng đô thị trên địa bàn quận:

"Phạm Gia Thành, sinh năm 1958, kỹ sư cầu đường. Nghỉ chế độ nhà nước từ năm 2013. Hiện tại đang giữ vị trí cố vấn kỹ thuật cao cấp cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Cơ giới Gia Phúc."

Nam ngẩng lên nhìn Khải:

"Công ty Gia Phúc chính là đơn vị trúng gói thầu nạo vét, khơi thông luồng lạch bãi bồi ven sông Bến Đông vào mùa mưa năm ngoái. Công trình nạo vét vừa hoàn thành nghiệm thu giai đoạn một hồi tháng Tám."

Khải nhìn vệt sương lạnh trên mặt máy đọc vi phim lúc này đang co rút lại và tan biến khi nhiệt lượng từ bóng đèn máy chiếu lấn át.

Những dữ kiện bắt đầu xếp lại thành một chuỗi thời gian rõ ràng. Năm 1994, một dãy cừ thép đã được ép xuống lòng lạch cũ trong đợt hộ đê khẩn cấp, nhưng dấu vết của nó về sau không còn thể hiện đầy đủ trong hồ sơ hoàn công. Gần ba mươi năm sau, đúng khu vực ấy lại bị đào xới trong dự án nạo vét bãi bồi của Công ty Gia Phúc. Phạm Gia Thành xuất hiện ở cả hai đầu của khoảng thời gian đó: từng tham gia giám sát công trình năm 1994, hiện lại là cố vấn kỹ thuật cho đơn vị thực hiện đợt nạo vét năm ngoái. Chuỗi sự cố ở Bến Đông bắt đầu sau giai đoạn công trình này. Chừng đó chưa đủ để khẳng định việc nạo vét trực tiếp gây ra tai nạn, nhưng đủ để Khải đặt ra một câu hỏi nghiệp vụ: liệu những gàu xúc ngoài bãi năm ngoái có va chạm hoặc làm biến đổi trạng thái của dải cừ thép nằm yên dưới lòng lạch suốt ba mươi năm qua hay không.

"Nam, lập biên bản ghi nhận việc phát hiện dấu vết cừ thép ngầm trên bản vẽ vi phim số bốn mươi bảy," Khải phân công. "Sáng mai làm công văn gửi giấy mời ông Phạm Gia Thành sang trụ sở đội để làm rõ nhật ký thi công khẩn cấp năm chín tư và hồ sơ phương án nạo vét của công ty Gia Phúc."

"Rõ, anh," Nam kéo tập biên bản lại, bắt đầu ghi từng mốc thời gian và số hiệu tài liệu.

Đồng hồ treo tường góc phòng giao ban đã điểm mười một giờ đêm.

Bách thu dọn đồng hồ vạn năng và các đầu đo vào va-li chuyên dụng, chào tổ công tác rồi đỡ ông Chấn ra xe để đưa ông về lại khu tập thể đường số sáu. Tiếng nổ giòn của chiếc xe máy chở hai người nhỏ dần ngoài cổng cơ quan, trả lại không gian yên ắng cho dãy nhà làm việc tầng hai.

Khải bước ra hành lang. Gió mùa đông bắc từ triền đê Bến Đông thổi qua những song sắt cửa sổ, mang theo hơi lạnh buốt và mùi ngai ngái của bùn đất ven sông.

Khải lấy chiếc điện thoại trong túi quần ra. Màn hình hiển thị năm cuộc gọi nhỡ và hai tin nhắn công việc từ chiều. Anh bấm số gọi cho Minh Phương.

Chuông đổ đến nhịp thứ tư thì đầu dây bên kia nhấc máy. Âm thanh truyền qua loa thoại không có tiếng thở dài, chỉ có tiếng gõ bàn phím lách cách và tiếng quạt gió của chiếc máy tính xách tay đang chạy:

"Anh xong việc ở bãi cát chưa?"

"Xong phần lập biên bản hiện trường ngoài bãi lúc chiều rồi," Khải tựa lưng vào lan can bê tông, giọng trầm. "Tối nay tổ công tác đối chiếu lại mười sáu bộ hồ sơ hoàn công đê năm chín tư với cuộn vi phim lưu trữ của thành phố. Mới tìm ra một dải cừ thép chống xói chôn ngầm bị gạch khỏi bản vẽ. Sáng mai anh phải làm việc sớm với bên Viện Kiểm sát và mời kỹ sư của nhà thầu nạo vét sang làm rõ."

Khải dừng lại một thoáng, định kể thêm về vụ tai nạn lao động chiều nay, về lúc người công nhân co giật dính cứng trên giàn thép giữa vũng bùn sũng nước, nhưng rồi anh giữ lại. Kể những chi tiết ngoài hiện trường lúc nửa đêm không giải quyết được việc gì, chỉ làm nặng thêm đầu óc người nghe.

Đầu dây bên kia, tiếng gõ phím của Phương chậm lại một nhịp rồi tiếp tục:

"Cơm với canh bí em nấu để trong nồi ủ trên bếp. Thức ăn mặn có đĩa cá kho trong tủ lạnh, anh về thì cắm lại phích điện cho nóng mà ăn. Em đang phải đối soát lại bảng kê tài sản cố định quý bốn cho chi nhánh kho cảng, số liệu bên kế toán kho gửi sang bị lệch mất hai trăm triệu chưa tìm ra nguyên nhân, đêm nay chắc em phải làm đến một hai giờ sáng mới xong."

"Em nhớ giữ ấm, đừng ngồi ngoài bàn phòng khách gió lùa qua khe cửa," Khải dặn.

"Vâng, em biết rồi. Anh làm nốt biên bản rồi về sớm, mai còn nhiều việc."

Tiếng tút dài vang lên khi Phương tắt máy để quay lại với bảng tính trên màn hình.

Khải cất điện thoại vào túi áo khoác.

Trên bàn họp, Nam đã viết xong trang biên bản cuối cùng. Bản sao khung vi phim số bốn mươi bảy được in ra giấy, đặt dưới ánh đèn tuýp trắng. Trên mặt giấy, chữ ký của Phạm Gia Thành và vệt gạch đỏ trên cọc cừ số mười bảy nằm ngay ngắn, sẵn sàng cho buổi làm việc sáng mai.

0