Chương 19: Dưới Kho Số Bảy
Hai giờ rưỡi chiều thứ Hai, bầu trời phía trên các mái nhà kho cũ sà thấp xuống một màu xám đục. Mưa phùn rây từng đợt bụi nước lạnh ngắt, bám rịn lên lớp gạch mộc rêu phong và những chấn song sắt hoen rỉ của trụ sở Viện Kiểm sát nhân dân quận.
Chiếc xe máy của Nam trờ tới cổng phụ rải đá dăm, nước bùn bắn nhẹ lên gấu quần bạt còn vương chút bụi than từ xưởng Tân Quang ban sáng. Khải gạt chân chống phụ, tháo mũ bảo hiểm rồi chỉnh lại quai chiếc cặp da chuyên dụng. Dưới nắp cặp là bản sao công văn trao đổi chuyên môn vừa được Đội trưởng Hùng ký lúc mười một giờ trưa, cùng giấy giới thiệu mượn hồ sơ lưu trữ nghiệp vụ. Không khí dưới chân con dốc thoai thoải dẫn vào khu nhà kho cấp bốn lạnh buốt, phảng phất mùi giấy ẩm, mùn gỗ mục và băng phiến bốc ra từ những dãy cửa chớp khép hờ.
Nam kéo cao khóa áo gió, nhìn dãy hành lang hẹp dẫn sâu vào phía trong:
"Anh Thụ hẹn mình đầu giờ chiều ở Kho Số Bảy. Sáng nay lúc ở đội em đã gọi điện báo trước danh mục cần sao lục: ba tập hồ sơ tai nạn lao động cũ mạn ven sông và các tài liệu kỹ thuật gốc liên quan đến lưới điện năm ngoái."
"Cứ theo đúng thủ tục bàn giao," Khải dặn, bước qua bậc thềm xi măng lồi lõm. "Hồ sơ đã đóng dấu lưu trữ sau khi đình chỉ thụ lý phải kiểm tra đủ tình trạng niêm phong chì trước khi ký sổ giao nhận."
Họ bước vào gian phòng làm việc của bộ phận văn thư lưu trữ ở đầu dãy nhà. Căn phòng rộng chừng bốn mươi mét vuông, tường quét vôi vàng ố những vệt nước mưa ngấm từ mái ngói, bàn ghế gỗ lim kê san sát dưới ánh đèn huỳnh quang đùng đục. Phía sau quầy tiếp nhận, kiểm sát viên trung niên Lương Văn Thụ đang ngồi đối chiếu cuốn sổ đăng ký văn bản. Chiếc kính lão dày cộp trễ xuống sống mũi, mái tóc hoa râm lòa xòa trước vầng trán hằn sâu những nếp nhăn.
Nghe tiếng bước chân trên nền gạch hoa cũ, ông Thụ ngẩng lên, tháo kính đặt xuống tập danh mục:
"Hai cậu bên hình sự sang lấy tài liệu đấy à? Bản trao đổi chuyên môn của anh Hùng gửi sang tôi đã xem qua rồi. Cậu Lâm phụ trách kho đang rút hồ sơ giấy dưới Kho Số Bảy. Dưới đó hơi ẩm, hai cậu đi cùng tôi xuống kiểm tra niêm phong luôn."
Khải đưa tờ giấy giới thiệu có chữ ký và con dấu đỏ:
"Chúng tôi xin sao lục các tập hồ sơ giấy của các vụ tai nạn lao động cũ và mượn kiểm tra thực tế hai thùng bảo quản vật chứng tài liệu lưu kho năm ngoái, thưa anh."
"Tôi hiểu rồi. Thủ tục rà soát kỹ thuật định kỳ bên Viện cũng đang yêu cầu kiểm đếm," ông Thụ cầm chùm chìa khóa móc ở thắt lưng, đứng dậy bước ra khỏi quầy. "Hệ thống Kho Số Bảy đặt dưới tầng bán hầm của dãy nhà kho cũ. Mấy năm trước độ ẩm cao làm mủn giấy má nên cơ quan cho thay toàn bộ giá đỡ cố định bằng hệ thống giá sắt di động chạy ray chôn ngầm, còn vật chứng tài liệu thì đóng vào thùng tôn mạ kẽm có gioăng cao su siết chặt."
Lối dẫn xuống Kho Số Bảy là cầu thang bộ dốc đứng xây bằng gạch chỉ đặc, bậc thang lát đá mài xám nhẵn thín. Tiếng quạt hút gió công nghiệp gắn ở góc tường phát ra những âm thanh rền rĩ đều đặn, đẩy luồng không khí khô và lạnh thốc thẳng vào mặt.
Không gian tầng hầm mở ra một hành lang dài gần hai mươi mét. Dọc gian phòng, sáu khối giá sắt chịu lực cao gần ba mét được xếp song song. Mỗi khối giá gồm nhiều ngăn chứa hồ sơ, đặt trên hệ thống bánh xe trượt ăn khớp với hai thanh ray thép chôn chìm dưới mặt sàn bê tông. Ở đầu mỗi khối giá gắn một tay quay trợ lực bằng gang bản lớn, cho phép người quản lý xoay tròn cơ học để dạt các dãy giá sang hai bên, mở ra lối đi hẹp ở giữa khi cần trích xuất tài liệu.
Tại dãy giá số bốn, một cán bộ trẻ chừng hai mươi sáu tuổi đang dùng khăn khô lau bụi bám trên mép ray dẫn hướng. Đó là Lâm, nhân viên văn thư phụ trách kho. Phía đối diện, người thợ bảo trì tên Tuấn đang cúi người kiểm tra độ rơ của trục bánh xe bằng cây thước kẹp cơ khí.
Thấy ông Thụ dẫn người của Đội Cảnh sát hình sự bước vào, Lâm đứng thẳng dậy, cất cuốn sổ kiểm kê vào túi áo công tác:
"Báo cáo anh Thụ, các tập hồ sơ giấy của giai đoạn năm ngoái em đã rút sẵn ra bàn thao tác ở đầu dãy. Còn hai thùng bảo quản vật chứng ký hiệu M-04 và M-07 theo danh mục công văn thì nằm ở khoang đáy của dãy giá số bốn."
"Mở khoang số bốn ra để các đồng chí bên hình sự đối chiếu niêm phong," ông Thụ chỉ tay vào cụm tay quay gang.
Lâm bước tới, nắm lấy cần quay trợ lực, bắt đầu xoay theo chiều kim đồng hồ. Tiếng bánh răng kim loại ăn khớp phát ra những tiếng lách cách khô giòn, khối giá sắt nặng hàng tấn chầm chậm trượt trên ray thép sang bên phải, mở ra một khoảng trống rộng chừng tám mươi phân giữa hai hàng tài liệu đóng bìa các-tông xám.
Khải và Nam bước vào khe hẹp giữa hai vách giá sắt. Mùi giấy lưu trữ khô khốc xen lẫn mùi mỡ bò bôi trơn từ các khớp bánh xe thoang thoảng trong không khí.
Ở ngăn dưới cùng của khoang số bốn, sát mặt sàn bê tông, theo sơ đồ lưu trữ là vị trí đặt hai chiếc thùng tôn mạ kẽm kích thước bốn mươi nhân sáu mươi phân. Nhưng khi ánh đèn pin cầm tay của Khải rọi xuống sàn, bước chân anh lập tức khựng lại.
Tại vị trí gắn tấm biển mica màu xanh mang ký hiệu M-04, khung giá sắt hoàn toàn trống trơn.
Chỉ có một vệt bụi mỏng hình chữ nhật in hằn rõ nét trên mặt sàn kim loại, nhưng chiếc thùng tôn dán tem niêm phong đỏ không hề nằm ở đó.
Cách vị trí ấy chừng ba mét, tại khoang góc trong cùng của dãy giá số bốn, nơi vốn là ô sàn dự phòng cho tài liệu hành chính đã thanh lý và luôn để trống, một chiếc thùng tôn mạ kẽm có cùng kích thước đang nằm lọt thỏm trong bóng tối mờ mờ sát vách tường bê tông.
Khải không bước vội vào. Anh dừng chân cách mép vệt sàn trống nửa mét, giữ nguyên tầm nhìn:
"Anh Thụ, chiếc thùng M-04 này có lịch điều chuyển vị trí lưu giữ gần đây không?"
Gương mặt người kiểm sát viên trung niên đanh lại. Ông bước nhanh tới mép lối đi, nhìn trừng trừng vào ô trống:
"Làm gì có chuyện điều chuyển tùy tiện. Nguyên tắc lưu trữ vật chứng giấy tờ của Viện là thùng nào đặt ở ô nào thì nằm chết ở ô đó, trừ khi có lệnh trích xuất của Viện trưởng kèm biên bản mở niêm phong của Hội đồng tiêu hủy hoặc bàn giao. Lâm, cậu có dời thùng này đi đâu không?"
Lâm giật mình, vội vàng mở cuốn nhật ký nhập xuất kho cầm trên tay, lật từng trang giấy kẻ bảng:
"Em tuyệt đối không đụng vào thùng M-04, anh Thụ. Lần gần nhất em kiểm kê khoang số bốn là chiều thứ Sáu tuần trước. Lúc đó chiếc thùng vẫn nằm đúng ô số bốn, có ký nhận đối chiếu niêm phong giữa em với anh Tuấn bảo trì."
Tuấn đứng cạnh tay quay cũng lắc đầu quả quyết:
"Đúng thế anh. Chiều thứ Sáu em tra dầu mỡ cho cụm bánh xe dãy số bốn, chính mắt em thấy thùng M-04 nằm ngay cạnh chân cột chịu lực. Thùng tôn này nặng gần ba mươi cân, bên trong chứa toàn tài liệu bản vẽ và mẫu vật kim loại đóng gói, muốn bê đi phải hai người khiêng mới không va đập vào thành ray."
Khải cúi người, rọi luồng sáng đèn pin quét chậm rãi từ ô trống số bốn sang tận góc trong cùng.
Lớp bụi mịn phủ kín sàn bê tông suốt nhiều tháng qua vẫn nằm phẳng phiu. Mép sàn không hề có vết lê quẹt của đáy tôn, cũng chẳng sót lại một dấu giày nào in trên nền xám xốp.
"Tuấn, cậu giữ nguyên tay quay, không di chuyển giá sắt," Khải dặn, giọng điềm tĩnh nhưng dứt khoát. "Nam, lấy máy ảnh chụp toàn cảnh mặt sàn và vị trí hai khoang trước khi chúng ta tiếp cận."
Nam rút máy ảnh từ cặp chuyên dụng, gắn đèn flash, bấm liên tiếp bốn góc chụp ghi nhận hiện trạng nguyên vẹn của lớp bụi nền và khoảng trống trên khoang số bốn.
Khải mở hộp đồ nghề mang theo, lấy đôi găng tay bọc cao su cách điện chuyên dụng đã được kiểm định từ đợt thực nghiệm sáng nay. Anh bước thận trọng theo mép gờ thép của khung giá để không dẫm lên bề mặt bụi sàn, tiến lại gần chiếc thùng tôn đang nằm ở góc khoang trong cùng.
Chiếc thùng tôn xám mờ dài sáu mươi phân, rộng bốn mươi phân, cao ba mươi phân. Nắp thùng được cài bằng hai khóa móc inox ở hai đầu hồi, xỏ qua bằng một sợi dây chì luồn qua hạt niêm phong tròn mang ký hiệu dập nổi của Viện Kiểm sát. Dọc theo khe giáp mí giữa nắp và thân thùng, hai dải tem giấy sáp màu đỏ có đóng dấu giáp lai vẫn dính chặt phẳng phiu vào mặt kim loại. Mép giấy không có vết rách, không bị cắt nối, cũng không có dấu vết làm ẩm để bóc tách.
Khải dùng kính lúp cầm tay soi kỹ hạt chì niêm phong. Mặt chì xám đục in rõ nét bốn chữ số bảo mật trùng khớp với số hiệu ghi trong biên bản bàn giao lưu kho năm ngoái.
"Niêm phong chì và tem giấy sáp nguyên vẹn," Khải thông báo.
Nghe vậy, ông Thụ nhích lại gần, cúi đầu ghé mắt nhìn qua tròng kính:
"Kỳ lạ thật. Nếu không bóc tem, không cắt chì thì làm sao có ai mở thùng ra được? Mà nếu có người bê từ ô ngoài vào ô trong này thì ít nhất cũng phải in dấu giày lên sàn bụi chứ?"
"Chúng ta kiểm tra thanh ray dẫn hướng trước," Khải chỉ đầu đèn pin xuống rãnh thép chôn ngầm dưới chân dãy giá.
Tuấn cầm đèn rọi và thước thép bước lại mép rãnh. Dọc theo đường ray bằng thép chữ U dẫn hướng cho cụm bánh xe di chuyển, một sự sai lệch cơ học lộ rõ dưới ánh sáng đèn.
Tại vị trí tương ứng với khoảng dừng của khoang số bốn, thanh ray thép dài hai mét vốn được bắt vít nở cố định xuống nền bê tông đang bị cong vênh nhẹ sang mép trái.
Tuấn đặt thước đo góc vào mép ray, mắt nhìn sát mặt sàn:
"Anh Khải xem này. Đoạn ray này bị đẩy dạt sang bên trái đúng bốn phân. Vít nở bằng thép mười hai ly cắm sâu xuống sàn bê tông bảy phân vẫn còn nguyên, nhưng thân thanh ray bị uốn cong cục bộ thành một hình vòng cung ngắn. Để uốn cong được thanh thép đặc dày một phân này, lực tác động ngang phải tương đương hàng tấn ép vào, chứ sức người đẩy tay quay bình thường không bao giờ làm lệch ray được."
"Độ lệch này xuất hiện từ bao giờ?" Khải hỏi.
"Hôm thứ Sáu em vừa tra dầu, thanh ray lúc ấy còn thẳng tắp," Tuấn chỉ vào mép rãnh thép, nơi một vệt xước sáng loáng màu kim loại vừa lộ ra dưới lớp sơn chống rỉ chưa kịp bám bụi. "Bánh xe trượt êm lắm. Vết uốn này chắc chắn mới tinh."
Khải rút súng đo nhiệt độ hồng ngoại và bút thử điện cảm ứng từ túi ngực. Anh bấm tia laser đỏ vào vỏ thùng tôn, rồi lia dần xuống bề mặt sàn bê tông xung quanh. Màn hình điện tử hiển thị mười bảy phẩy một độ C trên nắp thùng và mười sáu phẩy tám độ C dưới mặt sàn, hoàn toàn đồng nhất với nhiệt độ không khí trong gian hầm kín. Khải đưa tiếp đầu dò điện từ rà chậm quanh các gờ kim loại và rãnh ray trượt; thiết bị không ghi nhận dòng rò hay dao động trường điện nào. Bề mặt góc hầm khô ráo, chỉ có bụi mủn xi măng bám trên vữa tường, tuyệt nhiên không có cặn khoáng kết tinh hay vệt bùn ẩm.
"Mang cân điện tử chuyên dụng xuống đây," Khải nói với Nam.
Mười phút sau, chiếc cân sàn điện tử dùng trong kiểm tra tang vật được Lâm và Nam mang xuống, đặt ngay ngắn trên mặt sàn phẳng ở đầu dãy.
Rút kinh nghiệm từ quy tắc an toàn thực địa, Khải và Nam đều mang găng tay cách điện chuyên dụng, luồn hai tay vào quai xách hai đầu thùng tôn, cẩn thận nhấc bổng chiếc thùng lên khỏi mặt sàn, giữ cho thân thùng luôn ở tư thế thăng bằng rồi đặt lên bàn cân.
Màn hình kỹ thuật số nhấp nháy vài giây rồi dừng lại ở một con số cố định:
Hai mươi bảy phẩy sáu ki-lô-gam.
Khải mở sổ kiểm kê đối chiếu với dòng số liệu lập ngày hai mươi tháng Mười một năm ngoái: đúng hai mươi bảy phẩy sáu ki-lô-gam, sai số dưới mười gam nằm trong giới hạn cho phép của thiết bị đo.
"Trọng lượng tổng thể không đổi," Nam đọc to thông số.
"Nghĩa là toàn bộ tài liệu và vật phẩm bên trong thùng vẫn giữ nguyên khối lượng như lúc niêm phong đóng gói," ông Thụ thở phào một tiếng nhẹ nhõm. "Nhưng cái việc chiếc thùng tự đổi chỗ thế này thì ghi biên bản làm sao đây cậu Khải?"
Khải không trả lời ngay. Ánh mắt anh dừng lại ở góc đáy của chiếc thùng tôn, nơi vừa được nhấc ra khỏi khoảng tối khoang trong cùng.
Dưới đáy mép sau của thùng, tại điểm tiếp giáp giữa vỏ tôn mạ kẽm và khoảng bóng râm mờ của góc tường bê tông, có một thứ gì đó rất mảnh đang bám hờ vào gờ kim loại.
Đó là một sợi vật chất màu xám tro, mảnh như sợi tơ tằm nhưng không có độ bóng của tơ hay sợi tổng hợp. Sợi xám dài khoảng ba đốt ngón tay, một đầu dính sát mép gập đáy thùng. Phần còn lại vươn ngang giữa không trung, chìm nửa thân vào vùng bóng râm sát góc tường bê tông.
Điều kỳ lạ là sợi xám không hề rủ xuống theo trọng lực như sợi chỉ thông thường. Nó giữ một độ căng nhẹ nằm ngang, đầu sợi trong bóng tối dường như gắn chặt vào ranh giới giữa quầng sáng đèn huỳnh quang và mảng tối của góc tường.
Khải ngồi xổm xuống ở khoảng cách an toàn, giữ cự ly cách sợi xám chừng bốn mươi phân.
Bốn bề góc hầm kín mít không hề có gió, vậy mà sợi xám vẫn khẽ lay động theo nhịp chậm rãi, tựa như cọng rong đang bồng bềnh trong vũng nước lặng.
Nhớ lại nguyên tắc thao tác gián tiếp vừa được thiết lập sáng nay, Khải tuyệt đối không đưa tay trần hay dụng cụ kim loại dẫn điện tiến sát vật thể lạ. Anh với tay lấy chiếc kẹp nhựa cách điện chuyên dụng từ hộp đồ nghề, đầu kẹp gá một ống thủy tinh vô trùng có nắp đậy kín.
Khải giữ cự ly thao tác gián tiếp, từ từ đưa đầu kẹp nhựa cách điện tiến lại gần sợi xám tro để lấy mẫu quan sát.
Khoảnh khắc đầu kẹp nhựa vừa chạm nhẹ vào thân sợi xám, không có bất kỳ lực đàn hồi hay lực cản vật lý nào dội lại tay cầm.
Ngay khi điểm tiếp xúc hình thành, phần thân của sợi xám tro bỗng nhạt màu đi rất nhanh, tan biến thành một làn khói xám mờ li ti rồi biến mất hoàn toàn trong không khí của góc hầm.
Đầu kẹp nhựa chỉ chạm vào khoảng không trống rỗng sát mép thùng tôn.
Chiếc ống thủy tinh Khải gắn trên giá kẹp không thu được bất kỳ mẩu vật chất nào. Đáy ống hoàn toàn khô ráo, trong suốt, không lưu lại một hạt bụi hay vệt ố màu xám tro nào.
Khải thu chiếc kẹp nhựa lại. Đầu kẹp bằng phíp cách điện trơn nhẵn, khô ráo, nhiệt độ hoàn toàn cân bằng với môi trường xung quanh.
Nam đứng sát bên cạnh, chứng kiến toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối, thì thầm:
"Nó tan mất rồi à anh?"
"Sợi xám biến mất trong lúc tiếp cận, không thu được mẫu," Khải rút dụng cụ về, đặt lại vào khay đồ nghề. "Cứ ghi biên bản đúng hiện trạng: sợi lạ tự tiêu biến khi chạm vào, chưa xác định nguyên nhân."
Lâm và Tuấn đứng phía ngoài nhìn vào, vẻ mặt lộ rõ sự ngơ ngác xen lẫn hoang mang.
Người kiểm sát viên đứng tựa lưng vào mép bàn thao tác, giọng chùng xuống đầy lo ngại:
"Cậu Khải, việc này... có liên quan gì đến mấy vụ tai nạn ngoài đê mà đội các cậu đang thụ lý không?"
Khải đứng dậy, tháo găng tay cách điện, nhìn thẳng vào người kiểm sát viên trung niên:
"Hiện chưa có dấu hiệu đủ để ghép sự việc ở Kho Số Bảy với nhóm ngoài đê. Chúng ta cứ lập hồ sơ riêng trước đã."
Ông Thụ gật đầu tán thành:
"Đúng thế. Cứ làm đúng nguyên tắc tố tụng và quản lý lưu trữ. Tôi sẽ cùng các cậu lập biên bản kiểm tra bất thường tại chỗ. Năm tập hồ sơ giấy các cậu cần mượn thì cứ ký nhận mang về nghiên cứu theo đúng thủ tục."
Sau bốn mươi phút làm việc tại bàn tiếp nhận tầng một, biên bản ghi nhận sự việc bất thường tại Kho Số Bảy đã hoàn tất. Biên bản có đầy đủ chữ ký của Khải, Nam, ông Thụ và nhân viên văn thư Lâm.
Biên bản ghi rõ việc thùng tôn M-04 dời vị trí ba mét sang khoang góc trong dù tem sáp cùng hạt chì còn nguyên, trọng lượng hai mươi bảy phẩy sáu ki-lô-gam không đổi. Tổ công tác cũng mô tả chi tiết độ cong lệch bốn xăng-ti-mét của thanh ray trượt, lớp bụi sàn hoàn toàn phẳng phiu và sự việc sợi xám tro tự tiêu biến khi chạm vào, khiến việc lấy mẫu không thể thực hiện. Toàn bộ sự việc được phân loại vào diện theo dõi sự cố kỹ thuật độc lập, chưa phân nhóm nghiệp vụ.
Khải xếp bản sao biên bản cùng năm tập hồ sơ mượn vào chiếc cặp da chuyên dụng.
Ba giờ bốn mươi lăm chiều, Khải và Nam rời khỏi cổng trụ sở Viện Kiểm sát. Cơn mưa phùn mùa đông vẫn rây từng đợt hạt nước bụi li ti xuống mặt đường nhựa loang lổ. Gió lạnh thổi thốc qua những tán xà cừ rụng lá bên hè phố, cuốn theo mùi khói than tổ ong từ các ngõ nhỏ.
Nam nổ máy chiếc xe máy, nhìn Khải đang cài cẩn thận dây khóa cặp da phía sau:
"Anh Khải, sự việc dưới hầm vừa rồi... mình mở một tập theo dõi riêng hay xếp chung vào hồ sơ nghiệp vụ đang làm?"
Khải gạt chân chống phụ, ngồi lên yên xe:
"Lập một tập hồ sơ theo dõi độc lập, tạm thời để ở trạng thái chưa phân nhóm. Không quy kết, không ghép nối chủ quan vào danh mục phụ tải hay sự cố ngoài đê."
"Vâng anh."
"Những gì xảy ra dưới Kho Số Bảy có đặc điểm và bối cảnh hoàn toàn khác," Khải nhìn về phía rặng cây mờ mịt sương cuối con đường. "Chúng ta chỉ ghi nhận những gì mắt thấy, tai nghe và đo đạc được bằng thiết bị. Chưa đủ dữ liệu thì tuyệt đối không được gán ghép."
Chiếc xe máy lăn bánh qua làn mưa bụi, hòa vào dòng người hối hả tan tầm của thành phố buổi chiều đông. Tiếng còi xe máy, tiếng rao hàng rong và mùi ngô nướng ngai ngái ven đường kéo nhịp sống trở lại với thực tại ồn ã, bỏ lại sau lưng sự tĩnh lặng lạnh lẽo của gian hầm lưu trữ cổ kính.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.