Kỷ Nguyên Mới

Chương 21: Lát Cắt Địa Tầng

Đăng: 29/08/2026 09:27 3,579 từ 1 lượt đọc

Khải kéo tấm rèm vải thô ở góc phòng nghỉ ban chuyên án, để ánh sáng nhờ nhờ của buổi sáng thứ Ba rọi vào căn phòng sặc mùi trà mạn nguội.

Sau một đêm trắng dưới tầng bán hầm Kho Số Bảy với những vệt xám tro tự tiêu biến và khoảng lặng bảy giây trên băng từ, mắt anh cay xè. Chiếc vòi nước ở góc hành lang xả ra luồng nước lạnh buốt xua bớt cơn buồn ngủ đè nặng hai bên thái dương. Nam ngồi ở góc bàn làm việc tầng hai, đầu tựa vào gáy ghế xếp, ngủ gật chừng hai mươi phút trước khi tiếng còi xe rác dưới phố đánh thức anh dậy.

Bảy giờ bốn mươi phút sáng, Khải mang theo cuốn sổ ghi chép các thông số đo đạc đêm qua và hai tập bản đồ địa tầng năm 1994 bước sang phòng Đội trưởng Hùng.

Trung tá Phạm Quốc Hùng vừa ký xong tập công văn gửi Viện Kiểm sát, nghe Khải báo cáo tóm tắt quy trình kiểm soát rủi ro tạm thời đã thống nhất với kiểm sát viên Lương Văn Thụ. Ông gật đầu, đặt chiếc bút máy xuống bàn:

"Kho Số Bảy đã lập biên bản theo dõi độc lập và gửi văn bản sang bên Viện thì cứ giữ nguyên tắc kiểm soát kép như cậu đề xuất. Tạm thời không để nhân sự bên ta đảo lộn thêm dưới đó. Còn điểm mâu thuẫn địa tầng ngoài đê thế nào?"

Khải trải hai tờ sơ đồ trắc địa móng ra bàn:

"Bản vẽ trạm bơm Bến Đông ghi nhận lớp bùn sét dẻo quánh nằm ở độ sâu bốn mét, nhưng bên bãi Hưng Thịnh lại vẽ thấu kính cát pha sỏi. Các đơn vị thi công thời kỳ chín tư dùng quy chuẩn khảo sát khác nhau, nhiều chỗ ghi chép chắp vá. Chúng ta không có chuyên môn sâu về cơ học đất và địa chất công trình để đánh giá xem sự sai lệch này là do sai số đo đạc hay do cấu trúc địa tầng ngậm nước thực sự có biến đổi."

Đội trưởng Hùng nhìn những nét chì gạch chéo của Khải trên bản vẽ, suy nghĩ giây lát rồi với tay nhấc điện thoại bàn:

"Hồi mở rộng cụm công nghiệp ven sông, bên Sở Xây dựng có ký hợp đồng tư vấn với Trung tâm Khảo sát và Kiểm định địa kỹ thuật. Để tôi gọi điện cho anh phụ trách bên đó. Có một kỹ sư tên Lợi, chuyên thẩm tra nền móng các công trình thủy công ven đê. Tôi sẽ yêu cầu anh ta mang toàn bộ hồ sơ lưu trữ trắc địa gốc sang phối hợp với đội ngay trong sáng nay."

Chín giờ ba mươi phút.

Trần Quang Lợi xuất hiện ở cửa phòng làm việc với chiếc cặp da đựng tài liệu khổ lớn và một hòm gỗ bọc nẹp sắt. Lợi trạc ngoài ba mươi lăm tuổi, vóc người đậm, mang áo khoác gió sờn vai và ngón tay thô ráp của người quen lội hiện trường khảo sát. Đi cùng Lợi còn có thợ điện Lương Đình Bách của bên điện lực, người vừa hoàn tất việc tổng hợp biên bản đo đạc tiếp địa các trạm phụ tải chiều hôm trước.

"Tôi mang theo ba bộ hồ sơ khoan thăm dò móng năm chín tư dọc dải Bến Đông," Lợi vừa đặt chiếc cặp nặng trịch lên bàn vừa nói giọng rành rọt. "Có cả các ống mẫu lõi đất nguyên dạng lưu trữ trong ống nhựa PVC được bảo quản mẫu khô ở kho trung tâm."

Khải kéo thêm mấy chiếc ghế gỗ quanh chiếc bàn họp dài. Nam nhanh nhẹn pha một ấm trà mới, chia các tập tài liệu ra từng phần.

Trên mặt bàn kính, một bức tranh kỹ thuật phức tạp dần lộ ra. Đó không phải là một tập tài liệu đồng nhất mà là một mớ hỗn độn các bản vẽ tay, nhật ký khoan địa chất viết bằng bút mực gai, hồ sơ thoát nước và bản vẽ hoàn công của nhiều thời kỳ khác nhau.

Lợi đeo chiếc kính gọng đồi mồi, dùng ngón tay miết dọc theo mặt cắt địa chất của tuyến đê bao:

"Các anh nhìn vào ký hiệu mũi khoan ở đây. Năm một chín chín tư, khi chuẩn bị giải tỏa khu bãi bồi để làm cụm công nghiệp cơ khí, ba đơn vị khác nhau đã cùng tham gia khoan thăm dò. Công ty Xây dựng Thủy lợi khoan bằng máy guồng xoắn, độ sâu chỉ tới năm mét. Xí nghiệp Khảo sát Cầu đường lại dùng máy khoan đập cáp, lấy mẫu đến mười hai mét. Còn đoạn bãi cát thì do một tổ hợp tác tư nhân tự thuê thợ khoan giếng tay để làm móng trạm tời. Ký hiệu của họ đá nhau chan chát. Một bên ghi là sét pha bùn dẻo mềm, bên kia lại đề là đất bồi tích hữu cơ ngập mặn."

Nam ghé sát mắt vào tập nhật ký khoan cũ ố vàng:

"Thế còn thấu kính bùn sét mà chúng tôi thấy trên sơ đồ trắc địa tổng thể?"

"Đó là điểm mấu chốt," Lợi lật giở một bản vẽ trắc dọc có đóng dấu đỏ của Ty Thủy lợi cũ. "Nếu bóc tách các lớp đất san lấp bề mặt dày từ một mét rưỡi đến hai mét gồm xỉ than, xà bần và cát san nền thì bên dưới lộ ra một dải bùn sét hạt mịn màu xám tro. Dải này thực chất là lòng lạch của một nhánh sông chết bị bồi lấp tự nhiên từ trước thập niên tám mươi. Dữ liệu từ các mũi khoan sâu cho thấy lớp bùn sét này tương đối liên tục, nằm ở cao trình âm từ ba đến năm mét, kéo dài từ khu vực Tân Quang cũ, men theo chân bờ kè trạm bơm Bến Đông rồi chạy xuôi xuống mạn bãi cát."

Bách ngồi bên cạnh, lật cuốn sổ tay an toàn điện:

"Hầu hết các cọc tiếp địa trạm biến áp và thanh chống sét của các cơ sở cơ khí cũ đều đóng sâu đúng tầm ba mét, tức là ngập thẳng vào giữa lớp bùn sét ngậm nước này."

"Nhưng có một điểm phản chứng," Khải chỉ tay vào vị trí Trạm bơm phụ số ba trên bản đồ. "Hôm qua chúng tôi trực tiếp đo đạc tại Trạm bơm phụ số ba. Ở đó cọc tiếp địa cũng đóng sâu ba mét, cũng nằm trên dải đất ven sông, nhưng thông số điện trở và nhiệt độ hoàn toàn phẳng lặng, không hề có hiện tượng sụt nhiệt hay dao động chậm."

Lợi nghe Khải nói, lập tức lật tìm tập nhật ký lỗ khoan số K-07 đặt ngay cạnh trạm bơm phụ số ba. Anh soi kính lúp vào cột mô tả thạch học ở độ sâu ba mét hai mươi:

"Đây rồi. Trạm bơm phụ số ba nằm đúng vào một điểm đứt gãy cục bộ của lòng lạch cũ. Ở vị trí này, tầng sét mịn bị một thấu kính cát hạt trung lẫn cuội sỏi cắt ngang. Lớp cát sỏi này thoát nước rất nhanh, làm đứt đoạn tính liên tục của vệt bùn sét ngậm mặn. Đất ở chân cọc trạm bơm số ba có độ rỗng lớn và độ ẩm dao động theo con nước chứ không giữ nước tĩnh như vùng sét dẻo của trạm bơm phân xưởng đúc hay xưởng Tân Quang."

Nam gật gù:

"Nghĩa là tính chất ngậm nước và cấu trúc bùn sét ở trạm bơm phụ số ba không giống với các điểm xảy ra sự cố."

"Đúng thế," Lợi đáp nhưng vội xua tay ngay khi thấy Nam định ghi chép. "Nhưng các anh đừng vội kết luận cứ có thấu kính bùn sét liên tục là sinh ra sự cố. Địa kỹ thuật ven sông Bến Đông có hàng chục điểm có bùn sét ngậm mặn tương tự. Nó chỉ là môi trường nền, là một yếu tố địa tầng đáng chú ý để chúng ta khoanh vùng theo dõi, không thể coi là nguyên nhân duy nhất."

Cuộc đối chiếu kéo dài đến gần trưa. Khói thuốc lá và hơi trà nóng bảng lảng trong gian phòng tầng hai.

Khi lật sang tập hồ sơ cải tạo các công trình ven đê giai đoạn 1996–1998, Lợi dừng lại ở một phụ lục viết tay về việc thanh lý và tận dụng vật liệu xây dựng:

"Có một chi tiết này bên kỹ thuật các anh cần lưu ý. Sau trận lũ lớn năm chín sáu, toàn bộ tuyến kè tạm và móng trạm tời của các xí nghiệp dọc bãi sông bị sạt lở nghiêm trọng. Thời điểm đó kinh phí eo hẹp, các đơn vị không mua thép mới mà thu gom sắt thép hình, ray dẫn hướng phế liệu từ xưởng đóng tàu cũ và các khung dầm cầu dỡ bỏ để gia cố móng cọc, làm khung giằng chống lún và chôn ngầm làm bệ đỡ máy móc."

Bách nheo mắt nhìn dòng ghi chú:

"Vật liệu tái sử dụng à?"

"Phải, thép góc chữ V, dầm chữ I cũ và cả những thanh ray đường goòng rỉ sét," Lợi giải thích. "Danh mục vật tư tận dụng này ghi chép rất sơ sài, nhiều bản vẽ hoàn công sau đó không thể hiện vị trí chôn ngầm của các cấu kiện kim loại này. Có công trình đóng cọc cừ gỗ kết hợp giằng thép, có chỗ lại chôn thanh sắt sâu xuống bùn rồi đổ bê tông lót đè lên."

Khải ghi chú cẩn thận chi tiết này vào cuốn sổ tay: hồ sơ vật liệu tái sử dụng chôn ngầm bị thất lạc một phần, tạo ra những mắt xích kim loại không rõ vị trí liên kết trực tiếp với tầng bùn sét.

Mười ba giờ ba mươi phút chiều.

Để kiểm chứng trực quan cấu trúc của các mẫu địa tầng lưu trữ, Lợi mở chiếc hòm gỗ mang theo, lấy ra hai đoạn ống nhựa mica trong suốt dài chừng bốn mươi phân. Bên trong mỗi ống là một thỏi đất hình trụ được lấy nguyên dạng từ các mũi khoan thăm dò năm 1994, được bọc sáp kín hai đầu.

"Ống bên tay trái là mẫu bùn sét lấy tại độ sâu bốn mét ở khu vực phân xưởng đúc Bến Đông," Lợi đặt đoạn ống lên giá đỡ chữ V trên bàn làm việc. "Còn ống bên phải là mẫu đất đối chứng lấy từ lỗ khoan K-07 của Trạm bơm phụ số ba."

Khải và Nam bước lại gần. Bách mang chiếc đèn rọi kỹ thuật chiếu thẳng vào thân ống mica.

Lợi dùng dao trổ cắt bỏ lớp sáp niêm phong ở hai đầu ống. Mẫu đất của trạm bơm phân xưởng đúc lộ ra màu xám đen bóng nhẫy, mềm dẻo và bốc lên mùi ngai ngái của phù sa ngập mặn lâu năm xen lẫn mùi lưu huỳnh nhẹ. Trong khi đó, mẫu đất của trạm bơm phụ số ba có màu nâu xám lổn nhổn những hạt cát thô và sỏi nhỏ.

"Tôi sẽ thử tái lập trạng thái tiếp xúc cơ học gián tiếp trong điều kiện ngậm nước cục bộ," Lợi nói, lấy ra hai mảnh thép lá mỏng đã được tẩy sạch bề mặt, cắm sâu vào hai đầu thỏi đất của mẫu Bến Đông, chừa lại một khoảng cách chừng mười lăm phân ở giữa.

Khải đứng quan sát, tay cầm nhiệt kế hồng ngoại bấm đo nhiệt độ bề mặt mẫu: mười sáu phẩy hai độ C, cân bằng với nhiệt độ phòng.

Lợi dùng xi-lanh bơm một lượng nước muối loãng mô phỏng độ mặn của nước ngầm ven sông vào hai đầu khe cắm thép lá, rồi gắn một nắp chụp kín bằng cao su để duy trì độ ẩm.

Căn phòng chìm vào sự im lặng căng thẳng. Tiếng kim giây của chiếc đồng hồ treo tường gõ từng nhịp đều đặn.

Khoảng năm phút đầu tiên, khối đất trong ống mica không có biến động.

Đến phút thứ tám, khi Bách hơi nghiêng ống rọi để quan sát kỹ phần tiếp giáp, một hiện tượng bất thường bắt đầu xuất hiện ở đoạn giữa của thỏi bùn sét.

Phần bùn sét màu xám đen nằm lọt giữa hai mảnh thép lá bỗng từ từ co rút lại. Bề mặt đất bóng nhẫy ban đầu bắt đầu mất đi độ ẩm, chuyển dần sang màu xám tro khô khốc. Nước trong thỏi đất dường như bị hút dồn về hai phía đầu ống, để lại một khoảng đất rộng chừng năm phân ở chính giữa bị co quắt lại, nứt nẻ thành những rãnh nhỏ li ti.

Cùng lúc đó, từ bên trong ống mica phát ra một tiếng rạn rất nhỏ.

Tách... kèn kẹt...

Âm thanh khô khốc, sắc nhọn và gắt tai, gợi cho người nghe cảm giác khó chịu như tiếng móng tay miết mạnh trên bề mặt kính bám bụi.

Nhiệt kế trên tay Khải báo mức nhiệt tại vùng đất co rút tụt xuống mười hai phẩy bốn độ C, trong khi hai đầu ống vẫn giữ nguyên mức mười sáu độ.

"Đất ở giữa tự rút nước và co lại," Nam thốt lên, mắt nhìn chòng chọc vào các vết nứt đang lan rộng.

Lợi lập tức lặp lại thao tác tương tự trên ống mẫu đối chứng lấy từ Trạm bơm phụ số ba. Nhưng sau mười lăm phút theo dõi, thỏi đất cát pha sỏi của trạm bơm phụ số ba hoàn toàn trơ lỳ. Nước muối ngấm đều qua các hạt cát thô, không hề xuất hiện vùng co rút, không sụt nhiệt và không phát ra bất kỳ tiếng rạn nào.

Lợi thử nghiệm lần thứ hai với mẫu bùn sét Bến Đông sau khi tháo nắp chụp để thay đổi áp lực không khí. Lần này, phản ứng co rút vẫn diễn ra nhưng với tốc độ chậm hơn hẳn, tiếng rạn kim loại phát ra rời rạc và biên độ sụt nhiệt chỉ còn giảm chừng một độ rưỡi.

"Hiện tượng không lặp lại một cách hoàn hảo tuyệt đối," Khải nhận xét, mắt chăm chú ghi lại diễn biến. "Nó phụ thuộc vào mức độ ngậm nước, cấu trúc bùn sét và sự hiện diện của các đầu tiếp xúc kim loại, nhưng cường độ có sự dao động."

Lợi tháo găng tay cao su, trút một hơi thở dài:

"Tôi làm nghề khảo sát địa chất mười lăm năm nay, chưa từng thấy loại bùn sét nào có phản ứng rút ẩm cục bộ và phát tiếng rạn cơ học kỳ lạ như thế này khi gặp kim loại. Rõ ràng là cấu trúc bùn sét ngậm mặn ở vùng lạch chết Bến Đông có tính chất biến tính rất bất thường."

"Nhưng chúng ta vẫn chưa thể khẳng định đây là nguyên nhân gốc rễ gây ra những ca tử vong," Khải nhắc nhở, giọng trầm và dứt khoát. "Đây chỉ là một dấu hiệu thực nghiệm cho thấy địa tầng ngậm nước kết hợp với kết cấu kim loại chôn ngầm tạo ra một phản ứng biến tính có thể quan sát được. Chúng ta dùng kết quả này để định hình các tiêu chí ưu tiên khi đi kiểm tra thực địa."

Bách gật đầu tán thành:

"Đúng vậy. Dưới góc độ an toàn điện và kết cấu, chúng ta không thể đi rà soát bừa bãi hàng chục cây số bờ đê. Phải có tiêu chí rõ ràng để chọn lọc những điểm có nguy cơ cao nhất."

Mười lăm giờ bốn mươi lăm phút.

Tổ công tác gồm Khải, Nam, Bách và Lợi ngồi lại quanh bàn để thống nhất bốn tiêu chí ưu tiên khảo sát hiện trường. Khải không lập một bảng chấm điểm cứng nhắc mà cùng các thành viên phân tích từng yếu tố dựa trên dữ liệu thực tế:

Thứ nhất: Địa điểm có tồn tại các cấu kiện kim loại cũ, kết cấu ngầm gia cố bằng vật liệu tái sử dụng hoặc đường dây tiếp địa chôn sâu từ thời kỳ trước.

Thứ hai: Nền móng công trình nằm trực tiếp trên thấu kính bùn sét xám đen ngậm mặn của dải lòng lạch cũ năm 1994, chịu tác động ngấm nước kéo dài.

Thứ ba: Hồ sơ hoàn công, cải tạo hoặc bản vẽ nền móng có dấu hiệu thiếu sót, mâu thuẫn hoặc không có sơ đồ hoàn công chuẩn xác sau các đợt sửa chữa thiên tai.

Thứ tư: Quy trình làm việc và thao tác lao động thực tế tại cơ sở thường xuyên khiến công nhân phải đứng trên nền ẩm ướt hoặc tiếp xúc đồng thời với nhiều kết cấu kim loại liên kết với nền đất.

Dựa trên bốn tiêu chí này, nhóm tiến hành rà soát toàn bộ danh mục các cơ sở sản xuất, kho bãi và xưởng cơ khí ven sông Bến Đông.

Sau hơn một giờ thảo luận và sàng lọc kỹ lưỡng, ba địa điểm nổi bật nhất được thống nhất đưa vào danh sách kiểm tra thực địa vào sáng thứ Tư:

Địa điểm thứ nhất: Bãi cát Hưng Thịnh. Nơi đây nổi bật nhất về mặt địa tầng móng mâu thuẫn. Bản vẽ năm 1994 ghi nhận thấu kính cát sỏi nhưng thực tế lại nằm sát mép lạch bùn sâu, có hệ thống giàn sàng cát công suất lớn sử dụng nguồn điện ba pha và cọc tiếp địa cắm sâu vào nền đất trũng.

Địa điểm thứ hai: Hợp tác xã sông Hồng (bãi bồi sông Hồng). Nơi đây có lịch sử cải tạo phức tạp nhất về vật liệu. Năm 1996, hợp tác xã từng thu gom một lượng lớn dầm thép và khung sắt phế liệu từ các xà lan cũ để gia cố mố cầu tời và kè chắn sóng nhưng không lưu lại bản vẽ hoàn công chi tiết.

Địa điểm thứ ba: Xưởng mộc ven đê. Cơ sở này đáng lưu tâm nhất về điều kiện thao tác lao động. Nhà xưởng dựng tạm bợ bằng khung thép khẩu độ lớn trên nền đất sét ẩm sát mép nước, thợ mộc thường xuyên đứng chân trần hoặc đi dép mỏng thao tác trên các bàn cưa đĩa, máy bào gắn cố định xuống sàn thông qua các bulông neo dài.

Mỗi địa điểm đều mang một tổ hợp dấu hiệu đáng ngờ riêng biệt, không nơi nào giống hệt nơi nào.

Mười bảy giờ mười lăm phút.

Khải mang bản danh sách đề xuất khảo sát liên ngành cùng các tài liệu đối chiếu sang phòng Đội trưởng Hùng để xin ý kiến chỉ đạo.

Đội trưởng Hùng đọc kỹ từng dòng thuyết minh cho ba địa điểm, gõ đầu ngón tay lên bàn:

"Phương án lựa chọn có cơ sở thực tế rõ ràng. Tôi đồng ý cho tổ công tác phối hợp với bên Điện lực và Trung tâm Khảo sát địa kỹ thuật tiến hành kiểm tra thực địa liên ngành tại ba cơ sở này vào sáng mai. Sáng thứ Tư, các cậu tập trung lúc tám giờ tại trụ sở rồi xuất phát. Nhớ chuẩn bị đầy đủ thiết bị bảo hộ, sào cách điện và máy đo địa chất chuyên dụng."

"Rõ, báo cáo Đội trưởng."

Mười tám giờ tối.

Khải và Nam rời trụ sở cơ quan khi trời đã sập tối. Mưa phùn đã dứt, nhường chỗ cho những đợt gió mùa đông bắc khô lạnh thổi thốc qua các dãy phố ven sông. Đèn đường cao áp hắt những vệt sáng vàng vọt xuống lòng đường loang lổ vết bùn đất của xe tải chở cát.

Khải chạy xe máy về khu tập thể cơ khí đường số sáu.

Bước lên cầu thang tầng ba dãy B, tiếng máy móc quen thuộc của khu dân cư cũ vọng lại từ những ô cửa sổ sáng đèn. Mùi cá kho dưa và canh rau tập tàng từ căn hộ số mười hai lan tỏa ra hành lang vắng.

Phương đang dọn mâm cơm lên chiếc bàn con, thấy Khải bước vào liền đưa cho anh chiếc khăn ấm:

"Hôm nay làm việc với bên địa chất xong xuôi chưa anh?"

Khải lau mặt, cảm nhận hơi ấm dễ chịu xua đi cái lạnh buốt bám dọc sống lưng:

"Xong rồi em. Mai đội phối hợp kiểm tra ba điểm ngoài bãi đê."

Anh bước lại góc bàn, cất tập hồ sơ vào cặp công tác. Lần đầu tiên sau nhiều ngày lần mò trong những vụ án sụt áp và những cái chết bí ẩn, tổ điều tra đã xác lập được những tọa độ cụ thể để đào sâu tìm kiếm. Nhưng nằm sâu bên dưới những lớp đất bồi tích xám đen và những kết cấu kim loại mục nát kia thực sự là thứ gì, vẫn chưa một ai có câu trả lời.

0