Chương 20: Giám Sát Chồng Vùng
Tấm bạt dứa trải tạm ở đầu lối đi chính dưới tầng bán hầm Kho Số Bảy sột soạt theo từng cử động của Trịnh Quang Dũng. Dưới ánh đèn huỳnh quang chống ẩm, anh ngồi xổm bên nắp hòm gỗ, hai bàn tay mang găng vải tỉ mẩn đấu nối từng đầu cáp tín hiệu từ ba chiếc máy quay vào bộ chia hình.
Phía sau, kiểm sát viên Lương Văn Thụ đứng cạnh mép bàn thao tác. Cuốn sổ đăng ký kiểm kê kẹp dưới nách ông đã sờn mép bìa, ánh mắt chăm chú dõi theo từng đường dây được luồn cẩn thận qua khe rãnh sàn.
"Tuyến truyền hình ảnh thứ ba đã xong," Dũng ngẩng lên nhìn màn hình kiểm tra cầm tay bảy inch. "Hai máy cố định gắn đế từ ở đầu hồi kệ số một và số sáu, góc ống kính nhìn chéo quét phủ toàn bộ rãnh ray sàn cùng mặt trước các khoang đáy. Chiếc thứ ba đặt trên giá ba chân cơ học giữa lối đi, cài đặt xoay quét tự động sáu mươi độ qua lại theo chu kỳ bốn mươi lăm giây."
Khải đứng cạnh trụ bê tông chịu lực, đối chiếu sơ đồ vị trí với bản vẽ mặt bằng gian hầm:
"Hệ thống gương phản chiếu cơ học đã ổn chưa?"
"Tôi bố trí bốn mặt gương cầu lồi nhỏ ở các góc chết sau cột bê tông và khe hở giữa khung giá sắt với chân tường móng," Dũng trỏ tay về phía các vệt sáng tròn phản chiếu trên vách đá hộc. "Hình ảnh từ gương nằm trọn trong tầm bao quát của hai camera cố định. Ngoài ra, máy ghi âm băng từ chạy pin độc lập đặt ngay trên thanh dầm ngang cách mặt sàn một mét tám, đầu thu đa hướng có màng lọc tạp âm dải rộng."
Nam mở cuốn sổ bìa cứng kẻ sẵn các cột đối chiếu, dùng bút dạ đen ghi lại vị trí của từng thùng tài liệu và kiện hàng tại dãy số bốn:
"Em vừa đo khoảng cách cơ học từ mép từng thùng đến trụ ray dẫn hướng. Chiếc thùng tôn M-04 sau biên bản hồi chiều vẫn nằm nguyên ở ô góc trong cùng, cách vị trí ban đầu ba mét hai mươi lăm phân. Nắp thùng và hạt chì niêm phong đã được chụp ảnh lưu vết đối chiếu."
Khải nhìn một lượt khắp gian phòng, quay sang ông Thụ và người thợ bảo trì tên Tuấn đang đứng chốt cạnh cầu dao tổng:
"Trước khi bắt đầu theo dõi đêm nay, tôi xin nhắc lại nguyên tắc làm việc đã thống nhất với lãnh đạo đơn vị. Toàn bộ tổ công tác chỉ thực hiện nhiệm vụ quan sát và ghi nhận thụ động. Tuyệt đối không ai được tự ý tạo vùng mù nhân tạo, không ngắt điện hay tắt bớt đèn chiếu sáng, không thực hiện bất kỳ hành vi nào mang tính chất kích động hay thử nghiệm ranh giới. Không mang vật chứng hoặc tài liệu từ tuyến điều tra ngoài đê vào gian hầm này."
Ông Thụ gật đầu dứt khoát:
"Đúng nguyên tắc. Chiều nay sau khi lập biên bản bất thường, tôi đã báo cáo đồng chí Phó Viện trưởng phụ trách. Đơn vị đồng ý cho tổ công tác giám sát kỹ thuật đến sáu giờ sáng mai để đánh giá độ ổn định cơ học của hệ thống giá sắt."
Tất cả lùi về khu vực bàn thao tác đặt cạnh cửa hầm, cách khối giá sắt số bốn hơn tám mét.
Không gian tầng hầm chìm vào sự im ắng nặng nề. Quạt hút gió công nghiệp gắn trên vách đá hộc rền rĩ từng hồi đục ngầu, phả luồng gió khô buốt vào gáy. Trên màn hình của Dũng, ba khung hình đen trắng hiển thị song song. Hai góc nhìn chéo cố định ghi nhận rõ từng đường gờ kim loại và dải bụi xám phẳng lì dọc chân ray. Khung hình thứ ba từ từ quét từ mép giá sắt số ba sang đầu hồi giá số năm rồi lặp lại chu kỳ đảo chiều.
Chín giờ bốn mươi phút.
Gió ngoài trời luồn qua khe thông khí trên cao, kéo theo tiếng lá cọ xát lạo xạo vào chấn song sắt.
Chiếc camera quay quét trên giá ba chân đang thực hiện nửa sau của chu kỳ lia máy, đầu ống kính xoay chầm chậm từ phải qua trái. Đúng thời điểm góc quay trượt qua khung giá số ba để chuẩn bị đổi chiều, một góc khoang đáy của kệ số bốn tạm thời nằm ngoài trường nhìn trực tiếp của ống kính di động trong khoảng bốn giây ngắn ngủi. Hai camera cố định ở hai đầu hồi vẫn duy trì khung hình bao quát, nhưng do góc chiếu chéo sát mép sàn, dải bóng đổ từ thanh giằng chịu lực vô tình tạo ra một khoảng giao thoa ánh sáng hơi mờ ở ranh giới giữa ô số bốn và ô dự phòng kế bên.
Dũng đang chăm chú nhìn màn hình bỗng nheo mắt lại:
"Khải, nhìn khung hình số hai."
Khải bước nhanh tới mép bàn.
Trên khung hình từ camera cố định bên trái, tại khoang đáy của khối giá số bốn, chiếc hộp các-tông lưu trữ tài liệu khổ A4 mang nhãn T-11 – vốn được Nam ghi nhận nằm sát chân cột sắt bên mép rãnh ray – nay nằm lệch sang ô sàn kế tiếp một khoảng hai mươi phân.
"Tua lại băng ghi hình ngay lập tức," Khải nói.
Dũng bấm phím điều khiển, trích xuất đoạn dữ liệu vừa ghi nhận trong ba phút gần nhất trên cả ba kênh độc lập.
Hình ảnh phát lại cho thấy chiếc camera di động quét qua khoảng trống lúc chín giờ ba mươi chín phút bốn mươi giây. Đến chín giờ bốn mươi phút mười lăm giây, khi đầu máy quay lia ngược trở lại, chiếc hộp bìa các-tông đã yên vị ở tọa độ mới.
Tuy nhiên, trên hai kênh camera cố định ghi hình liên tục, màn hình hoàn toàn trơn lỳ trước mọi biến động cơ học. Mặt sàn tĩnh lặng, mép giấy không rung rinh, khung hình không xuất hiện bóng người hay vệt nhòe quang học nào. Chiếc hộp xuất hiện ở vị trí mới sau khoảng trống quét góc mà không lưu lại chuỗi diễn biến dịch chuyển vật lý trong các khung hình trung gian.
"Lớp bụi mịn dưới sàn phẳng phiu," Nam vừa nhìn màn hình vừa lật sổ ghi chép. "Khoảng hở giữa đáy hộp và sàn bê tông là khe hở cơ học thông thường, mép sàn hoàn toàn không có vết cào xước."
"Đừng vội suy diễn," Khải ngắt lời, giọng trầm tĩnh. "Chúng ta chỉ ghi nhận: chiếc hộp đã đổi vị trí sau một khoảng thời gian ngắn mà camera quét không phủ kín toàn bộ góc khuất, còn hai camera cố định không ghi được hành trình dịch chuyển. Không kết luận nguyên nhân."
Anh quay sang Dũng:
"Đổi phương án. Chuyển sang giám sát chồng vùng quan sát. Cậu chỉnh lại góc chiếc camera thứ ba khóa cứng vào diện tích sàn khoang số bốn, để ba luồng hình ảnh bao phủ liền mạch toàn bộ ranh giới sàn."
"Rõ," Dũng cầm kìm vặn ốc, tiến lại chân giá ba chân chỉnh góc khóa cứng khớp xoay.
Khải phân công tiếp:
"Nam sang đứng ở góc hành lang phía đông, cạnh kệ số một. Bác Thụ đứng ở chiếu nghỉ cầu thang phía tây. Hai người giữ tầm nhìn trực tiếp bằng mắt thường xuyên suốt toàn bộ lối đi giữa các khối giá sắt."
Tổ công tác lập tức vào vị trí.
Mười giờ mười lăm phút.
Ba góc máy quay cùng hai hướng quan sát trực tiếp bao quát chặt chẽ từng mét mặt sàn gian hầm. Trong suốt bốn mươi lăm phút tiếp theo, không gian tĩnh lặng đến mức nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ cơ gài trên túi áo Nam. Toàn bộ vật thể nằm yên, thanh ray thép giữ nguyên độ cong vênh cũ, lớp bụi xám nằm bất động.
Dưới ánh sáng đèn, Khải ghi chép tỉ mỉ vào sổ công tác: Trong khoảng thời gian thiết lập giám sát chồng vùng và duy trì quan sát trực tiếp, không ghi nhận thêm bất thường về vị trí. Anh không ghi thêm bất kỳ nhận định chủ quan nào về việc ánh mắt con người hay góc máy quay có khả năng ngăn chặn hiện tượng.
Mười một giờ đêm.
Khi Khải cùng Nam rà soát lại các điểm phản chiếu trên gương cầu lồi đặt sát vách tường móng phía sau dãy kệ số bốn, một chi tiết bất thường lọt vào tầm mắt của người điều tra viên.
Tại khe hẹp rộng chừng mười phân giữa mép ngoài khung sắt và bề mặt đá hộc sần sùi của vách móng, nơi quầng sáng đèn neon bị che khuất tạo thành một dải bóng râm thẫm màu, có một vệt xám mảnh đang vắt ngang.
Ban đầu, nhìn từ phía trước, vệt xám ấy trông giống như một sợi tơ nhện bám bụi lâu ngày hoặc một sợi chỉ len mủn rơi ra từ bao bì tài liệu. Nhưng khi Khải nghiêng người, rọi luồng sáng đèn pin từ góc chếch bốn mươi lăm độ qua mặt gương cầu lồi, cấu trúc của vật thể hiện ra hoàn toàn khác.
Đó là một sợi vật chất màu xám tro, mờ đục và khô khốc. Sợi xám dài chừng bốn đốt ngón tay, nhưng hai đầu của nó tuyệt nhiên không bám dính vào thanh thép của khung giá hay gờ đá của bức tường.
Nó lơ lửng nằm ngang giữa hai vùng bóng tối cục bộ do hai thanh giằng kim loại tạo ra. Cảm giác bằng mắt thường gợi cho người nhìn sự liên tưởng như có một mối chỉ vô hình đang khâu mép của hai mảng tối lại với nhau, mặc dù Khải hiểu rõ đó chỉ là ấn tượng thị giác chủ quan do sự tương phản ánh sáng tạo nên.
Sợi xám không hề cử động. Thân sợi bất động, khô cứng, không mang đặc tính của sinh vật hay phản ứng trước luồng sáng đèn pin.
Khải ra hiệu cho Nam mang bộ ống nghiệm vô trùng và chiếc kẹp nhựa cách điện chuyên dụng lại gần. Anh giữ cự ly thao tác gián tiếp hơn ba mươi phân, thận trọng đưa đầu kẹp nhựa tiến sát vào thân sợi xám để thu giữ mẫu vật lý.
Đầu kẹp nhựa vừa chạm nhẹ vào khoảng không cách sợi xám vài mi-li-mét, chưa kịp tạo ra lực ép cơ học thì vệt màu xám tro bỗng mờ nhạt dần đi. Làn xám tiêu biến thẳng vào bầu không khí góc hầm mà không phát ra tiếng động hay khói ẩm.
Khải thu kẹp lại, soi kỹ đầu nhựa phíp dưới kính lúp. Bề mặt phíp trơn nhẵn, hoàn toàn sạch bụi và giữ mức nhiệt đồng nhất với nền phòng.
"Không lấy được mẫu vật chất," Khải nói nhỏ, ghi nhanh vào biên bản hiện trường.
Cùng lúc đó, từ phía đầu dãy kệ số năm, tiếng gọi của Nam thu hút sự chú ý của mọi người:
"Anh Khải, anh Thụ, qua xem tấm thẻ ghi chú này."
Tại ngăn tài liệu tầng hai của kệ số năm, một tấm thẻ giấy bìa màu vàng nhạt dùng để ghi số hiệu hồ sơ năm 1996 đang cắm ở khe kẹp kim loại. Tấm bìa vốn dày gần một mi-li-mét nay bị ép phẳng lì, mỏng dính như một lớp màng nhựa ép nhiệt, các mép giấy bị nén chặt đến mức in hằn một đường rãnh sắc lẹm xuống bề mặt thanh thép sơn tĩnh điện.
Khải bước tới, soi đèn pin vào bề mặt mép kẹp. Khi ông Thụ từ phía cầu thang bước lại gần mép lối đi và Nam hơi lùi người sang bên cạnh để nhường đường, tấm thẻ giấy bìa bỗng phát ra một tiếng tách rất nhỏ.
Dưới luồng sáng rọi thẳng, thớ giấy từ từ phồng trở lại. Bề mặt tấm thẻ khôi phục gần như nguyên dạng, để lại duy nhất một nếp gấp mờ dọc thân bìa.
Khải nhìn đồng hồ, ghi lại mốc thời gian: mười một giờ hai mươi phút. Anh ghi nhận hiện tượng biến dạng cơ học của tấm thẻ giấy và việc nó hồi phục trạng thái xảy ra gần như đồng thời với thời điểm hai người thay đổi vị trí đứng, nhưng tuyệt đối không ghi nhận bất kỳ mối quan hệ nhân quả nào giữa ánh mắt của ông Thụ với phản ứng đàn hồi của thớ giấy.
Mười một giờ bốn mươi phút.
Dũng đang đeo tai nghe giám sát tín hiệu âm thanh bỗng giơ tay ra hiệu dừng mọi hoạt động di chuyển.
"Có bất thường ở dải ghi âm nền," Dũng thì thầm, tháo một bên tai nghe đưa cho Khải.
Khải áp ống nghe vào tai.
Âm thanh ồn ã thường trực của gian hầm đột ngột biến mất. Tiếng quạt hút gió, tiếng gió bấc luồn qua chấn song và tiếng rung máy bơm tầng trên cùng lúc tắt lịm trong màng thu.
Sự triệt tiêu âm lượng diễn ra hoàn toàn sạch sẽ. Màng thu của thiết bị chỉ vẽ một đường thẳng tắp suốt bảy giây, không lẫn một tạp âm hay tiếng thở nào. Sau bảy giây ngắn ngủi, toàn bộ tiếng quạt gió và tiếng lá cây ngoài trời đồng loạt ùa về sắc gọn như vừa được bật lại công tắc.
Dũng kiểm tra lại thông số nguồn pin và cáp nối:
"Thiết bị hoạt động hoàn toàn bình thường, không bị sụt nguồn hay đoản mạch. Tiếng ồn môi trường bị triệt tiêu hoàn toàn trong đúng bảy giây."
Khải tháo tai nghe, trả lại cho Dũng:
"Ghi nhận mốc thời gian và lưu đoạn băng từ đó vào hồ sơ niêm phong độc lập. Không giải thích suy diễn."
Đêm càng về khuya, không gian gian hầm càng trở nên buốt giá. Đến bốn giờ ba mươi phút sáng, sau nhiều giờ duy trì chế độ giám sát chồng vùng và ghi hình liên tục, các giá kệ giữ nguyên trạng thái tĩnh lặng, không xuất hiện thêm xáo trộn vị trí hay biến dạng cơ học nào.
Năm giờ ba mươi phút sáng thứ Ba.
Ánh sáng nhờ nhờ của ngày mới bắt đầu len qua các ô chấn song sắt trên vách móng hầm. Tiếng còi xe tải ngoài đường phố vọng vào, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt dưới Kho Số Bảy.
Tổ công tác cùng kiểm sát viên Lương Văn Thụ tập trung quanh bàn làm việc ở tầng một để hoàn tất các thủ tục hành chính.
Khải đặt bút ký vào biên bản kiểm tra kỹ thuật ban đêm, rồi quay sang ông Thụ:
"Thưa anh Thụ, dựa trên các dữ liệu đo đạc thực tế đêm qua, tổ công tác chúng tôi đề xuất áp dụng ngay phương án quản lý rủi ro tạm thời đối với khu vực Kho Số Bảy."
Ông Thụ chăm chú lắng nghe, tay cầm bút ghi chép:
"Cụ thể thế nào, cậu Khải cứ trao đổi."
"Thứ nhất, thiết lập nguyên tắc kiểm soát kép: mỗi khi mở cửa khoang hầm bắt buộc phải có ít nhất hai cán bộ cùng chứng kiến và ký sổ trực. Thứ hai, duy trì hệ thống ba máy quay giám sát chồng vùng quan sát, không để xuất hiện các khoảng quét lệch pha. Thứ ba, lập sổ giấy ghi nhận cố định tọa độ mặt bằng của từng kiện tài liệu, kiểm tra đối chiếu niêm phong chì trước và sau mỗi ca làm việc. Thứ tư, hạn chế tối đa việc di chuyển, xáo trộn không cần thiết đối với khối giá sắt số bốn và tuyệt đối không chủ động tạo ra các khoảng tối hoặc vùng mù nhân tạo để thử nghiệm. Cần nhấn mạnh rõ: đây chỉ là biện pháp quản lý an toàn hành chính tạm thời, không phải là lời giải hay quy luật vận hành của các hiện tượng tại đây."
Ông Thụ thở dài một tiếng, gật đầu ký duyệt vào bản đề xuất:
"Tôi hoàn toàn nhất trí. Bên Viện sẽ ban hành thông báo nội bộ thực hiện nghiêm ngặt quy trình này ngay trong sáng nay. Tập hồ sơ Kho Số Bảy này các cậu cứ giữ theo dõi độc lập."
Sáu giờ mười lăm phút sáng, Khải và Nam rời trụ sở Viện Kiểm sát, mang theo tập tài liệu sao lục cùng các hộp phim âm bản đã mượn.
Mây mù xám xịt bao phủ nóc các tòa nhà khi hai người chạy xe xuôi theo đường ven sông về hướng trụ sở cơ quan.
Tới phòng làm việc tầng hai của Đội, Nam mở chiếc cặp da, xếp năm tập hồ sơ tai nạn lao động cũ ven đê lên mặt bàn kính. Sau một đêm thức trắng dưới hầm, đôi mắt người trinh sát trẻ hằn lên những tia máu đỏ:
"Anh Khải, sự việc đêm qua dưới Kho Số Bảy... có điểm nào liên hệ với hiện tượng tiếp xúc hai điểm ngoài đê không anh?"
Khải rót một cốc nước ấm, lắc đầu dứt khoát:
"Không có căn cứ để ghép nối. Ở Kho Số Bảy không có bùn sét ngập mặn, không có lưới điện hay máy biến áp công nghiệp, không có hiện tượng co rút nhiệt hay nạn nhân thương vong. Hồ sơ Kho Số Bảy phải để ở trạng thái độc lập, tuyệt đối không được nhập chung với tuyến Bến Đông hay vụ Vạn Lộc."
Anh kéo chiếc ghế ngồi xuống đối diện bàn làm việc, mở tập tài liệu địa chất công trình năm 1994 và các biên bản hiện trường cũ của năm vụ việc ven sông.
Ánh mắt Khải dừng lại ở các sơ đồ mặt cắt địa tầng vẽ tay đính kèm trong hồ sơ bãi cát Hưng Thịnh và trạm bơm phân xưởng đúc.
"Nhìn vào các bản vẽ hoàn công này đi," Khải chỉ đầu bút chì vào những ký hiệu nét đứt biểu thị lớp đất móng dưới chân các công trình ven đê. "Tài liệu trạm bơm Bến Đông ghi nhận lớp sét dẻo quánh nằm ở độ sâu bốn mét, nhưng bản vẽ bãi cát Hưng Thịnh lại thể hiện thấu kính cát pha sỏi."
Nam ghé mắt nhìn theo đầu bút:
"Số liệu khảo sát cũ ghi chép quá rời rạc, mỗi đơn vị thi công thời đó lại dùng một quy chuẩn đo đạc khác nhau."
"Đúng thế," Khải gấp tập hồ sơ lại, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bìa các-tông. "Những phép đo điện trở hay nhiệt độ bề mặt mà chúng ta làm mấy ngày qua chỉ mới chạm vào phần vỏ ngoài của công trình. Để biết bên dưới các vị trí xảy ra tai nạn thực sự có cấu trúc địa tầng thế nào, chúng ta không thể tự suy đoán."
Khải đứng dậy, nhìn ra dòng sông Bến Đông đang cuộn sóng đục ngầu dưới chân đê:
"Sáng nay anh sẽ báo cáo Đội trưởng Hùng để liên hệ với cơ quan chuyên môn về địa chất công trình. Cần một người hiểu sâu về địa kỹ thuật và tầng đất ngậm nước đọc lại toàn bộ các lát cắt địa tầng này."
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.