Kỷ Nguyên Mới

Chương 10: Thực Nghiệm Buồng Cao Áp

Đăng: 23/08/2026 15:28 4,578 từ 1 lượt đọc

Hai giờ mười lăm phút chiều, tầng hầm trụ sở Công an quận chìm trong thứ ánh sáng nhờ nhờ từ hai bóng đèn huỳnh quang gắn chấn lưu cũ. Tiếng tăng phô điện rung rè rè từng nhịp ngắt quãng, phả ra mùi bột vôi ẩm lâu ngày bám chặt vào chân tường gạch chưa kịp trát lại sau đợt ngập úng mùa mưa.

Khải đứng cạnh chiếc bàn sắt giữa gian phòng lưu giữ mẫu vật của tổ Kỹ thuật hình sự. Khối máy biến áp hàn của Đinh Văn Tùng vừa được chuyển từ kho vật chứng sang đặt trên tấm bạt dứa màu xanh rêu trải sẵn. Bốn chiếc bu-lông gông giữ các lá tôn đã bị rỉ ăn lẹm từng mảng, trong khi lớp tôn bên trong xỉn màu như chì và không bám bụi mạng nhện.

Cánh cửa ngách dẫn ra cầu thang thoát hiểm mở ra. Cán bộ giám định kỹ thuật an toàn điện Trịnh Quang Dũng bước vào, mang theo cặp da chuyên dụng và hộp đồ nghề bọc nỉ đen. Phía sau Dũng, Nam ôm hai tập hồ sơ kiểm sát cùng cuốn sổ nhật ký thông số năm 1995 của kỹ sư Chấn vừa mượn hồi sáng.

Dũng đặt hộp đồ nghề lên góc bàn, kéo gọng kính cận rồi nhìn khối máy sắt:

"Khối biến áp thu ở ngõ Cầu Cạn đây đúng không Khải?"

"Đúng rồi," Khải lật tập hồ sơ kiểm sát. "Hồ sơ niêm phong từ hiện trường đầy đủ. Anh đối soát lại quy chuẩn giúp tôi."

Khải đọc số niêm phong, Nam đối chiếu với biên bản bàn giao. Dũng kiểm tra dải niêm chỉ quanh nắp máy rồi xác nhận không có dấu hiệu bị can thiệp. Sau khi ba người ký vào biên bản mở niêm phong, Khải mới dùng dao trổ cắt dải tem giấy. Dũng xỏ găng, tháo hai ốc cánh bướm ở nắp bảo vệ phía sau.

Tấm tôn đục lỗ rơi nhẹ xuống mặt bạt. Bên trong, cuộn dây đồng quấn bằng thanh đồng dẹt bản mười hai mi-li-mét hiện ra. Những lớp giấy dầu tẩm véc-ni cách điện bọc quanh các lớp dây vẫn phẳng lỳ, màu cánh gián ngả vàng còn nguyên độ bóng, hoàn toàn không có vết muội than hay dấu vết phồng rộp do nhiệt lượng cao gây ra.

Dũng ghé sát tròng kính lúp vào từng khe hở giữa các lớp dây, đầu ngón tay trỏ miết nhẹ qua lớp giấy cách điện:

"Lạ thật đấy. Nạn nhân chết do ngừng tim đột ngột kèm tổn thương dạng bỏng rút nước, nhưng bên trong máy thì véc-ni cách điện không hề bị đánh thủng. Dây đồng sơ cấp lẫn thứ cấp đều không có vết cháy sém. Nhìn lớp sơn ê-may thế này thì cuộn dây này gần như chưa từng bị ngắn mạch."

Khải mở cuốn sổ da màu nâu của ông Chấn, lần tới trang vẽ tay sơ đồ mạch năm chín lăm:

"Kỹ sư Chấn khẳng định máy do ông tự tay quấn từ lõi máy phát dự phòng của tàu kéo Ba Vì. Khối tôn silic này nằm dưới đáy bùn ngập mặn luồng sông suốt sáu năm trước khi được trục vớt vào năm chín lăm. Suốt gần ba chục năm xưởng vỏ tàu dùng máy này không hề có hiện tượng sụt nguồn hay phóng điện."

Dũng lật xem từng trang nhật ký kỹ thuật kẻ tay rồi đọc lại phần ghi chú xử lý lõi năm 1995:

"Ông Chấn có ghi đã tháo từng lá, cạo rỉ rồi tẩm lại cách điện. Nếu máy chạy ổn gần ba mươi năm thì phần xử lý ban đầu rõ ràng không phải vấn đề chính. Cái đáng chú ý là nó chỉ bắt đầu sai từ năm ngoái."

Dũng rút chiếc que đo nhiệt độ điện tử có đầu kim loại nhọn, cắm sát vào kẽ hở giữa hai lá tôn ở phần gông máy. Màn hình tinh thể lỏng nhấp nháy vài giây rồi hiện lên con số mười bốn phẩy tám độ C.

Dũng nhìn màn hình rồi nhìn sang Khải:

"Nhiệt độ phòng hầm này đang là hai mươi mốt độ. Sao lõi thép lại tụt xuống dưới mười lăm độ thế này?"

Nam đứng bên cạnh liền cúi xuống nhìn sát đồng hồ:

"Có khi nào que đo bị lệch chuẩn không anh?"

Dũng rút đầu que đo ra, áp vào mặt bàn sắt: đồng hồ nhảy ngay lên hai mươi mốt độ. Anh cắm ngược lại vào khe lá tôn: con số lại tụt dần từng nấc, dừng lại ở mười bốn phẩy tám độ, kèm theo một vệt mờ rất mỏng ngưng kết như hơi sương bám quanh chân que kim loại.

Gian phòng hầm rơi vào một thoáng tĩnh lặng. Cụm quạt hút gắn trên tường ngoài hành lang hút từng luồng hơi ẩm xào xạc qua chớp sắt.

Dũng rút chiếc kẹp y tế trong hộp đồ nghề, mở hộp nhựa đựng mẫu vật chứng số hai thu từ hiện trường ngõ Cầu Cạn:

"Còn đoạn dây tiếp địa nối vỏ máy đâu?"

Khải chỉ vào chiếc hộp nhựa. Bên trong là đoạn dây đồng bện tiếp địa dài chừng hai mươi lăm phân, hai đầu dây đứt rời lỉa chỉa từng sợi đồng nhỏ màu đỏ sẫm.

Dũng dùng kẹp gắp đoạn dây đồng ra đặt trên đĩa sứ trắng. Ở cự ly rọi sát của ngọn đèn bàn, các đầu sợi đồng không hề có những hạt cầu kim loại đông đặc vốn là dấu hiệu điển hình của việc kim loại bị nóng chảy do dòng ngắn mạch cực đại. Ngược lại, từng sợi đồng nhỏ li ti bị đứt ngang với mặt cắt phẳng lì, sắc cạnh.

Dũng lấy đầu nhíp thép gõ nhẹ vào đầu một sợi đồng nhô ra ngoài. Một tiếng tách khô khốc vang lên. Đầu sợi đồng gãy vụn làm đôi, mảnh vụn kim loại rơi lách tách xuống đáy đĩa sứ.

Dũng nghiêng đĩa nhìn kỹ vết gãy rồi nói:

"Mặt gãy không có dấu nóng chảy. Nhưng dây đồng mất độ dẻo đến mức này thì chỉ nhìn bằng mắt tôi chưa kết luận được nguyên nhân. Phải cắt mẫu soi tổ chức kim loại và thử cơ tính mới nói được."

Khải ghi lại thông số nhiệt độ mười bốn phẩy tám độ và hiện trạng sợi dây đồng vào cuốn sổ công tác:

"Chiều nay anh có cho cấp nguồn thử tải khối biến áp này được không?"

Dũng lắc đầu:

"Không thử ở phòng hầm này được. Nếu muốn đóng điện kiểm tra dòng rò và đặc tính cảm ứng khi mang tải, bắt buộc phải đưa sang buồng thử nghiệm cao áp độc lập của Trung tâm kiểm định bên khu công nghiệp Cầu Sắt. Bên đó có tường bê tông chống nổ, máy phát riêng và cụm đo ghi tự động nhiều kênh. Chứ cắm thẳng vào lưới điện sinh hoạt tòa nhà này, lỡ sụt áp kéo theo sự cố hệ thống của quận thì không ổn."

"Tôi đi cùng anh sang bên đó," Khải nói ngay.

Ba giờ chiều, chiếc xe bán tải chuyên dụng của Trung tâm Kiểm định đưa khối máy biến áp cùng tổ công tác đến khu nhà xưởng thử nghiệm cao áp nằm biệt lập cuối đường gom khu công nghiệp Cầu Sắt.

Gian phòng thử nghiệm rộng chừng bốn mươi mét vuông, tường bê tông dày bốn mươi phân sơn màu xám tro, sàn rải lớp thảm cao su cách điện chuyên dụng ba mươi lăm ki-lô-vôn. Ở giữa phòng, khối biến áp Ba Vì được đặt trên bệ đỡ cách ly bằng sứ kỹ thuật.

Dũng cùng hai kỹ thuật viên lần lượt bố trí các thiết bị đo đạc quanh bệ sứ. Máy hiện sóng bốn kênh được kéo dây nối vào mạch đo áp và dòng. Hai camera cảm nhiệt gắn chân tripod đặt rọi thẳng vào bốn mặt khối tôn, kết hợp các đầu đo nhiệt tiếp xúc gắn chặt vào cuộn dây cùng gông thép.

Khối máy được cấp nguồn từ một máy phát điện xoay chiều ba pha độc lập công suất mười lăm ki-lô-vôn-am-pe đặt ở phòng máy nổ bên ngoài, hoàn toàn cách ly với lưới điện quốc gia. Dây tiếp địa vỏ máy được nối bằng sợi cáp đồng bện mới tinh bản mười sáu mi-li-mét dẫn thẳng ra cọc tiếp địa đồng chôn sâu ba mét dưới lớp đất ẩm ngoài sân xưởng. Mạch thứ cấp được nối qua dàn điện trở tải công suất lớn có công tắc đóng ngắt độc lập.

Khải, Nam cùng Dũng đứng sau bức tường kính cường lực dày ba lớp của phòng điều khiển trung tâm. Trên bàn điều khiển, dàn đồng hồ đo số liệu đồng loạt sáng đèn ở trạng thái sẵn sàng ghi nhận.

Đầu đo nhiệt độ gắn trên gông thép trước khi cấp điện vẫn duy trì mức nền mười bốn phẩy tám độ C, tách biệt hoàn toàn với nhiệt độ môi trường hai mươi mốt độ trong gian thử nghiệm.

Dũng cầm micro nội bộ thông báo:

"Bắt đầu bước một, cấp nguồn thử không tải. Điện áp đầu vào một trăm mười vôn, tần số năm mươi héc. Ghi nhận dữ liệu toàn bộ các kênh."

Kỹ thuật viên gạt cần dao cách ly trên tủ điều khiển.

Tiếng máy phát điện bên ngoài rền lên một nhịp trầm đục. Hai đường sóng sin trên máy hiện sóng bắt đầu dao động đều đặn. Thiết bị ghi nhận điện áp chuẩn một trăm mười vôn cùng dòng không tải một phẩy hai am-pe. Khối lõi thép giữ nguyên nhiệt độ mười bốn phẩy tám độ C, không có dao động nhiệt.

"Tăng điện áp nguồn lên hai trăm hai mươi vôn không tải," Dũng ra lệnh.

Cần điều chỉnh biến áp tự ngẫu xoay từ từ. Điện áp nhảy lên hai trăm hai mươi vôn định mức.

Trong hơn một phút chạy không tải ở điện áp định mức, máy biến áp Ba Vì vận hành hoàn toàn ổn định. Tiếng rung từ thông năm mươi héc phát ra từ khối tôn nghe êm, dòng điện không tải duy trì ở mức danh định, đồ thị điện áp giữ nguyên dạng sóng sin chuẩn mực.

"Chế độ không tải đạt yêu cầu an toàn. Chuẩn bị bước hai: đóng tải mạch thứ cấp." Dũng gõ nhẹ đầu bút bi xuống mặt bàn điều khiển. "Đóng tải mức ba mươi am-pe."

Kỹ thuật viên gạt cầu dao tải thứ cấp.

Ngay khoảnh khắc mạch tải vừa khép kín, một tiếng rít mảnh, sắc nhọn bỗng phát ra từ khối máy trên bệ sứ, xuyên thẳng qua lớp kính cường lực ba lớp.

Trên màn hình camera nhiệt hồng ngoại, khối tôn silic đang ở mức nền mười bốn phẩy tám độ C đột ngột chuyển sang màu xanh lam đậm rồi tím sẫm. Màn hình kỹ thuật số hiển thị nhiệt độ bề mặt lõi thép tụt thẳng đứng: mười hai độ... tám độ... năm độ... rồi chạm ngưỡng ba phẩy hai độ C.

"Điện áp nguồn sụt rồi!" Kỹ thuật viên ngồi trước máy hiện sóng hô lớn.

Đường sóng sin trên máy hiện sóng méo mó dị dạng, biên độ co rút lại thành một vệt răng cưa sắc nhọn rồi sụp thẳng xuống sát đường trục hoành. Đồng hồ đo điện áp đầu vào tụt từ hai trăm hai mươi vôn xuống còn mười hai vôn.

Đồng hồ phía máy phát không báo quá tải, không xuất hiện dòng ngắn mạch cực đại, tia lửa hay khói khét.

Qua ô kính ngăn cách, một lớp sương mờ trắng đục li ti bốc lên từ các khe lá tôn silic, ngưng kết dày đặc bao quanh gông thép và rủ xuống bệ sứ.

Đúng lúc bộ ghi thời gian vượt qua mốc bốn giây, đường điện áp bật trở lại. Mười hai vôn, sáu mươi vôn, một trăm tám mươi vôn rồi trở về hai trăm hai mươi vôn trong chưa đầy một nhịp quét. Bộ ghi sự kiện dừng ở bốn phẩy không hai giây.

Dũng đập tay xuống nút dừng khẩn cấp màu đỏ:

"Cắt nguồn! Ngắt hoàn toàn cầu dao máy phát!"

Khởi động từ nhảy đánh tách một tiếng chát chúa. Nguồn điện cấp vào buồng thử nghiệm ngắt hoàn toàn.

Gian phòng điều khiển rơi vào im lặng, chỉ còn tiếng quạt làm mát của các thiết bị đo đạc xả khí vù vù.

Dũng nhìn đồ thị camera nhiệt. Đồ thị ghi nhận cho thấy trong suốt bốn giây sụt áp, nhiệt độ khối thép đã giảm xuống mức thấp nhất là ba phẩy hai độ C, trong khi không hề có bất kỳ dấu hiệu quá tải nhiệt hay cháy chập nào phát ra từ cuộn dây đồng.

Khải mở cửa bước sang gian buồng thử nghiệm sau khi kỹ thuật viên xả điện tích an toàn.

Không khí quanh khu vực bệ sứ đặt khối biến áp buốt lạnh rõ rệt, hơi lạnh tỏa ra cục bộ trong bán kính hơn một mét quanh khối máy. Khải nhìn khối biến áp: toàn bộ gông thép phủ một lớp sương dày. Nước ngưng tụ tụ thành giọt trên mép lá tôn rồi chảy xuống bệ sứ. Sợi cáp tiếp địa mới vẫn còn nguyên vẹn, nhưng đầu đo nhiệt gắn gần điểm bắt cáp cho thấy nhiệt độ vỏ máy tiếp tục giữ ở mức thấp sau khi nguồn đã bị cắt.

Dũng cầm tập đồ thị in tự động từ máy đo:

"Bốn phẩy không hai giây. Điện áp đầu vào tụt từ hai trăm hai mươi xuống mười hai vôn rồi tự phục hồi. Phía nguồn không ghi nhận quá tải nhiệt thông thường, cũng không có dòng ngắn mạch cực đại. Tôi mới loại được vài nguyên nhân thông thường. Còn vì sao đóng tải thì lõi lạnh đi và điện áp sụp đúng khoảng bốn giây, tôi chưa kết luận được."

Khải nhìn khối thép đang đọng sương mờ mờ dưới ánh đèn:

"Anh hoàn tất biên bản thực nghiệm và niêm phong lại toàn bộ khối máy trong kho cao áp này giúp tôi. Hồ sơ tố tụng cần số liệu đo đạc khách quan này."

Dũng gật đầu, bắt đầu phân công kỹ thuật viên tháo các đầu đo cảm biến.

Năm giờ chiều, Khải hoàn tất việc ký nhận biên bản bàn giao và lưu giữ vật chứng đặc biệt tại phòng kiểm định cao áp.

Rời khỏi khu công nghiệp Cầu Sắt, Khải nổ máy chiếc xe máy cũ, hòa vào dòng người lao động tan ca đang đổ về phía nội thành. Hơi lạnh mùa đông từ bến sông Bến Đông dâng lên sớm, phủ một lớp màng xám đục lên những ngọn xà cừ ven đường liên cảng. Từng đám lá khô cùng bụi cát bị cuốn lạo xạo dọc theo dải phân cách bê tông.

Khải rẽ xe men theo chân đê Bến Đông, ghé vào khu chợ tạm của xóm lao động dựng bên mương nước thải.

Dưới bóng những ngọn đèn tròn vàng vọt treo trên cọc tre, các sạp hàng thịt cá đã bắt đầu dọn dẹp. Mùi tanh của nước rửa cá hòa lẫn mùi khói than tổ ong từ các bếp đun nước vỉa hè. Khải dừng trước sạp cá của bà cụ ngồi co ro sau chiếc thau nhôm:

"Bác cắt cho cháu khúc giữa con cá trắm, cắt dày một chút."

Bà cụ ngước đôi mắt đục mờ nhìn Khải, đôi tay gầy đeo găng cao su dính vảy cá thoan thoắt vung dao pha khúc cá:

"Chú mua về kho dưa à? Cá này mới kéo dưới đầm nước mặn lên từ trưa đấy, thịt chắc lắm. Mai bên điện lực họ cắt điện cả buổi chiều, mấy nhà trong xóm thi nhau mua đồ về nấu sẵn từ tối nay đây."

Khải trả tiền cá, bước sang quầy rau mua thêm mớ dưa cải muối chua, mấy nhánh gừng già còn dính đất và ít hành hoa. Người phụ nữ bán dưa vừa cân mớ rau vừa kéo vạt áo bông sát cổ, càu nhàu với người mua bên cạnh:

"Mấy hôm nay trời trở rét buốt lạ lùng. Chiều nào tầm năm giờ sương cũng phủ trắng mép đường sắt, đèn đường bật lên cứ mờ mờ đỏ quạch như đom đóm đực."

Khải cất túi đồ ăn vào giỏ xe, nổ máy đi về phía khu tập thể Cơ khí đường số sáu.

Khoảng sân chung giữa hai dãy nhà lúc này đã lên đèn. Khác với vẻ ồn ào tiếng búa đập sắt của buổi sáng, khu tập thể lúc chiều muộn chìm vào một thứ không gian lặng lẽ. Mùi dầu mỡ từ các xưởng tiện cơ khí bên dãy A đã tắt, chỉ còn tiếng bước chân lẹp xẹp của vài người già đi đổ rác và tiếng trẻ con khóc trong những căn hộ chật hẹp tầng một.

Khải dắt xe lên hành lang tầng ba của dãy B.

Căn hộ số mười hai nằm ở góc cuối hành lang, sát chân cầu thang dẫn lên tum sân thượng. Không gian bên trong căn phòng còn phảng phất mùi vôi mới quét và mùi gỗ dán của chiếc tủ quần áo vừa chuyển về hôm thứ Bảy.

Khải cởi áo khoác treo lên móc gỗ sau cánh cửa, xắn tay áo bước vào góc bếp nhỏ.

Anh rửa sạch khúc cá trắm, dùng dao khía sâu từng đường chéo trên thớ thịt rồi ướp nước mắm, gừng đập dập và vài lát ớt chỉ thiên. Chiếc nồi đất tráng men đen cũ được đặt lên bếp gas đơn. Khải thắng nước màu bằng đường kính, khi đường sôi bọt tăm ngả sang màu cánh gián đậm thì trút bát dưa chua đã vắt ráo nước vào đảo đều cho ngấm mỡ. Anh xếp cá lên lớp dưa, châm nước sôi ngập ngang thân cá rồi đậy vung, vặn nhỏ lửa để nồi cá sôi âm ỉ.

Mùi dưa chua xào quyện với mùi cá kho và gừng ấm bắt đầu lan tỏa trong gian phòng nhỏ, xua bớt cái lạnh ẩm của buổi chiều đông.

Sáu giờ ba mươi phút tối, tiếng chìa khóa lạch cạch xoay trong ổ sắt ngoài cửa.

Minh Phương bước vào phòng, trút chiếc áo khoác dạ màu tro treo lên móc. Gương mặt cô lộ rõ vẻ mệt mỏi sau một ngày dài làm việc ngoài cảng sông, hai bàn tay lạnh khẽ xoa vào nhau:

"Mùi cá kho thơm quá. Anh về lâu chưa?"

"Anh về được nửa tiếng," Khải từ góc bếp bưng chiếc nồi đất đặt lên miếng lót rơm giữa bàn ăn. "Ngoài bến sông hôm nay rét lắm à?"

Phương bước lại bồn rửa tay, hứng dòng nước máy:

"Hơi nước từ cửa sông thốc vào buốt rát cả mặt. Kho vật tư của xí nghiệp cảng họ xây từ những năm tám mươi, tường nứt toác, ngồi đối soát hồ sơ sắt thép mà khí lạnh lùa ù ù qua khe cửa sổ. Chiều mai bên điện lực họ cắt điện toàn bộ khu kho cảng sông để kiểm tra đường dây trung thế, nên sáng mai bên em phải xong hết biên bản kiểm kê tài sản đợt một."

Phương kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống bàn ăn, mở chiếc túi da lấy ra tập tài liệu kiểm toán đặt sang một bên. Cô nhìn mâm cơm có đĩa cá kho dưa bốc khói, bát canh rau cải và hai bát cơm trắng:

"Chiều nay em chuyển khoản nốt tiền cọc cho chủ nhà rồi anh nhé. Tài khoản em còn dư lại được sáu triệu sau khi trừ tiền tạm ứng. Bên anh đã nhận lương chưa?"

Khải ngồi xuống đối diện, xới cơm vào bát cho Phương:

"Chiều nay nhận lương xong anh chuyển thẳng năm triệu vào tài khoản tiết kiệm chung của em rồi. Còn lại hơn ba triệu anh giữ chi tiêu sinh hoạt tháng này là đủ."

Phương cầm đôi đũa tre, gắp một miếng dưa kho mềm bỏ vào bát:

"Anh giữ lại đủ tiền ăn trưa với đổ xăng đấy. Đừng có bữa đực bữa cái rồi lại ôm bụng đau dạ dày như đợt thụ lý vụ Vạn Lộc. Trưa nay mẹ gọi điện cho em, bảo cuối tuần này mẹ gửi xe khách lên cho mớ tôm nõn với chục cân gạo mới."

Khải dừng đũa một thoáng:

"Mẹ lại giục chuyện cưới xin à?"

Phương nhìn Khải, ánh mắt điềm tĩnh nhưng phảng phất nét trầm tư:

"Mẹ bảo hai đứa ở gần nhau thế này rồi thì sang năm tính dần đi là vừa, đừng để dồn việc vào cuối năm. Em bảo mẹ là công việc của anh đợt này đang nhiều vụ phức tạp, chuyện nhà cửa vừa mới tạm ổn định, cứ để thư thư ra giêng rồi tính tiếp."

Khải gắp một khúc cá nạc đặt vào bát Phương:

"Ừ, để xong đợt cao điểm cuối năm này đã. Anh muốn gom thêm một khoản phòng thân cho chắc chắn."

Phương không nói thêm. Cô lặng lẽ ăn hết bát cơm, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn ra khung cửa sổ gỗ lá sách hướng ra khoảng sân chung.

Bảy giờ mười lăm phút, bữa cơm kết thúc. Phương thu dọn bát đĩa mang ra bồn rửa, còn Khải lấy chiếc phích Rạng Đông rót nước sôi vào ấm trà mạn đặt trên bàn nhỏ.

Đúng lúc dòng nước sôi vừa chạm vào búp trà khô, bóng đèn tròn treo giữa trần nhà bỗng chao nghiêng một nhịp.

Ánh sáng vàng ấm của gian phòng đột ngột sụt xuống, ngả sang một màu đỏ quạch nhờ nhờ như sợi dây tóc bóng đèn bị thiếu điện áp nghiêm trọng. Chiếc quạt thông gió ở góc bếp ngắc ngứ, rít lên một âm thanh nghẹn ứ chừng ba giây rồi mới từ từ quay trở lại tốc độ bình thường.

Phương dừng tay trên bồn rửa bát, ngẩng đầu nhìn bóng đèn:

"Lại sụt áp rồi anh. Từ hôm thứ Bảy dọn về đây đến giờ, tối nào cứ tầm này là điện lại chớp nháy một lần."

Khải không trả lời ngay. Anh đứng yên bên bàn trà, hướng tai về phía góc trần nhà sát chân tường ngăn với lối cầu thang tum.

Từ phía trần bê tông tầng ba vọng xuống một chuỗi âm thanh rất mảnh. Đó không phải tiếng rung rền của máy biến áp quá tải thông thường, mà là một tiếng rít ken két ngắt quãng, tựa như có một vật kim loại có gờ sắc đang bị kéo lê chầm chậm trên bề mặt tôn rỉ sét. Âm thanh ấy lọt qua khe nứt của trần vôi, lành lạnh và nhức buốt.

Khải nhìn lên vệt ố vàng loang lổ trên trần nhà:

"Tiếng trạm biến áp treo trên tum dãy B đấy."

Phương bước lại gần bàn trà, giọng hơi chùng xuống:

"Trạm biến áp treo ngay sát trần phòng mình thế này có sao không anh? Tiếng rít nghe ghê tai quá, như tiếng cưa sắt cọ vào đá mài ấy."

"Trạm này cấp điện hạ thế cho cả hai dãy nhà tập thể," Khải nói chậm rãi. "Sáng nay bác Chấn ở dãy A bảo mấy ngày nay trạm trên tum có tiếng rung bất thường và điện chập chờn. Chiều mai bên điện lực họ cắt điện luân phiên để leo lên kiểm tra lại tiếp xúc đầu cáp với dầu cách điện."

Khải rót chén nước trà nóng đưa cho Phương:

"Em cứ nghỉ ngơi trước đi. Anh lên kiểm tra cái chốt cửa tum sân thượng xem sao. Lúc chiều gió to thế này khéo cánh cửa sắt lại bị xô bung ra."

Phương đón lấy chén trà:

"Tối rồi, trên tum tối om chẳng có đèn đóm gì đâu. Anh đừng trèo lên làm gì, để mai bên điện lực họ lên làm việc một thể."

"Anh chỉ lên gài lại cái then sắt thôi, mất một phút là xong."

Khải lấy chiếc đèn pin bấm bằng vỏ nhôm trong ngăn kéo bàn làm việc, khoác lại chiếc áo khoác mỏng rồi bước ra ngoài hành lang.

Không gian cầu thang bộ dãy B sau bảy giờ tối tối om. Không khí trên các bậc chiếu nghỉ ẩm ướt và lạnh hơn hẳn trong nhà, phả ra mùi rêu phong bám trên những lan can sắt đã mục gãy chân chống.

Khải bật đèn pin, luồng sáng trắng gom tròn rọi lên từng bậc thang xi măng sứt mẻ. Anh bước chầm chậm lên tầng tum. Càng lên cao, tiếng rít qua các khe tường hoa càng nghe rõ, cuốn theo những giọt nước mưa phùn li ti hắt thẳng vào mặt.

Đến chiếu nghỉ tầng tum, chùm sáng đèn pin quét qua cánh cửa sắt dẫn ra sân thượng.

Cánh cửa sắt sơn chống rỉ màu đỏ gạch đã bị xô hé mở một khe rộng chừng hai mươi phân. Đoạn xích sắt bọc nilon bảo vệ dùng để khóa chốt cửa đã bị đứt gãy làm đôi từ hôm thứ Bảy, hai đầu xích rủ lòng thòng xuống mép gờ gạch.

Khải dừng lại trước ngưỡng cửa tum.

Quầng sáng quét ngang chân tường cho thấy bậu cửa sắt không hề có bụi cát khô. Ngược lại, một vệt sương lạnh li ti, mỏng dính và trong suốt đang ngưng kết thành từng mảng bám dọc theo bệ đá xám xịt của lối đi.

Khải cúi người xuống, rọi sát đèn pin vào lớp sương ngưng kết.

Lớp sương không tan biến dù luồng không khí lạnh ngoài trời thổi mạnh. Khi Khải đưa đầu ngón tay trần lại gần, cách bề mặt vệt sương chừng vài phân, một luồng khí buốt lạnh sắc nhọn lập tức truyền qua da thịt.

Khải rút tay lại. Đây không giống cái lạnh do thời tiết.

Anh hướng chùm sáng đèn pin ra ngoài khoảng sân thượng rộng chừng sáu mươi mét vuông.

Phía góc sân thượng sát đầu hồi dãy B, trạm biến áp phụ tải một trăm sáu mươi ki-lô-vôn-am-pe đặt trên bệ thép hình chữ U đang nằm trong bóng tối. Ba chiếc sứ cách điện cao áp màu nâu sẫm trên đỉnh máy bóng loáng dưới màn sương đêm. Từ thân máy vọng ra tiếng ù đều của lõi thép. Thi thoảng, trong tiếng ù ấy chen vào một tiếng lọc xọc rất nhỏ rồi mất.

Khải không bước hẳn ra ngoài sân thượng. Anh đứng yên ở bậu cửa tum, kéo cánh cửa sắt khép sát vào khung, luồn đoạn then cài bằng sắt phi mười hai qua móc khóa rồi chốt chặt lại.

Khải gài chốt cửa tum rồi quay xuống.

Đi được nửa tầng cầu thang, anh vẫn còn nghe tiếng rít trên mái.

0