Chương 30: Xà Lan Ngoài Lạch
Bách bàn giao hai cây sào cách điện bọc sợi thủy tinh cho Khải, kiểm tra lại phần móc cao su cứng gắn ở chốt đầu cần rồi quay lên bờ đê phối hợp với anh Lợi chốt chặn lối vào bãi. Dưới mép nước lạch, chiếc thuyền nan đan bằng cật tre trét chai của một ông lão làm nghề đánh dậm đang dập dềnh theo từng con sóng vỗ vào bờ đất bồi.
"Thuyền của tôi chỉ chở được ba người tính cả người chèo thôi," ông lão trạc sáu mươi tuổi nói gắt, đầu đội nón cời rách vành. Thấy Nam khệ nệ vác cuộn dây thừng bước xuống, hai tay ông ghì chặt cán dầm gỗ vào mạn: "Mạn tre mỏng như lá lúa, nước lạch đang ròng chảy xiết lắm. Mấy chú vác nặng thế kia, va vào cọc sắt ngầm lật thuyền thì ai đền?"
"Chúng tôi chỉ mang theo dây thừng, hai cây sào với một túi đồ nghề," Khải bước đến sát mép bãi bùn. Anh đặt một tấm ván gỗ thông xuống làm điểm tựa chân rồi mới bước tiếp: "Anh Lợi với hai đồng chí công an phường sẽ chốt chặn toàn bộ đoạn bờ kè phía sau xưởng Tân Quang và cửa lạch thoát nước. Bác Chước chỉ cần chèo đưa tôi với cậu Nam cập mạn phía đuôi xà lan, áp sát vào phần gờ gỗ giảm chấn là được."
Cúi nhìn dòng nước đỏ quạch đang cuộn xoáy dưới đáy thuyền, người lái đò bấm chặt ngón chân xuống lớp nan tre:
"Nói trước, tôi không cho thuyền ghé sát vào mấy sợi dây cáp sắt chôn dưới bùn đâu. Từ chiều đến giờ, nước quanh mấy sợi cáp đấy cứ sủi tăm tăm như vôi tôi, bọt cá chết dạt trắng cả mép doi cát. Tôi chỉ đưa các chú tới cách mạn tàu nửa sào rồi thả neo gỗ, việc leo lên là của các chú."
"Được, cứ theo phương án đó," Khải quay lại dặn Lợi đang đứng trên bờ đê. "Anh Lợi giữ bộ đàm thông suốt với chốt đê điều. Nếu phát hiện bên mạn ngoài sông lớn có tàu vỏ sắt hoặc ca-nô lạ tiếp cận xà lan thì phát tín hiệu đèn về phía mũi tàu."
Lợi gật đầu, kéo dây bạt phong tỏa lối mòn dẫn xuống bãi.
Khải và Nam bước xuống lòng thuyền. Đáy thuyền nan chao nghiêng một nhịp dưới sức nặng của hai đôi ủng cao su cổ cao. Khải đặt túi đựng kìm cắt, găng tay cách điện chuyên dụng và cuộn dây dù bện khô lên một chiếc hộp gỗ kê giữa hai khoang thuyền, tách rời hoàn toàn các công cụ với phần nước rỉ lấp xấp dưới lườn tre.
Cây sào tre cắm mạnh xuống bờ đất, đẩy chiếc thuyền nan trượt trên mặt nước lợ. Con thuyền rời khỏi bờ bãi lởm chởm rác và phoi tiện, bắt đầu hướng thẳng ra giữa dòng lạch sâu.
Gió từ cửa sông thổi thốc vào hông thuyền mang theo hơi tanh nồng của bùn lún và dầu cặn.
Dòng chảy lòng lạch lúc triều ròng cuộn xiết, kéo con thuyền dạt chếch về phía hạ lưu. Dưới mặt nước đục ngầu, những cọc tiêu bằng sắt rỉ và thân cừ thép Larsen chìm lấp xấp tạo thành những gờ sóng quẩn màu nâu xám. Cách mũi thuyền chừng mười mét, một dải bọt trắng đục trôi dạt thành vệt dài song song với hướng chạy của tuyến cáp ngầm chôn dưới bãi.
Con nước rút nhanh làm lộ ra một sống sắt nhọn hoắt nhô khỏi mặt bùn giữa lòng lạch. Dòng chảy xiết ép mạn thuyền tre trôi dạt về phía dải bọt trắng.
"Bẻ lái sang phải!" Khải giơ tay chỉ chùm rễ cây mục đang dạt phía bờ bồi.
Cán dầm gỗ nghiến vừa chạm vào một đoạn cáp ngầm nằm lấp xấp dưới nước liền rung bần bật, kéo ngược tay người chèo khiến mũi thuyền chao đảo dữ dội. Lực giằng từ dòng xoáy dưới đáy nước hất đuôi thuyền xoay ngang, đưa mép nan tre chỉ còn cách thân cáp thép chừng nửa mét. Dọc theo thân cáp ngập nước, lớp bọt trắng sủi lên ùng ục, làm mặt nước xung quanh sẫm lại.
Nam nhoài người lên trước, cầm cây sào cách điện cán sợi thủy tinh chống mạnh đầu móc cao su vào mấu cừ sắt chìm bên mạn phải. Khớp cao su dày triệt tiêu lực đẩy, giữ mạn thuyền tre không va trực tiếp vào khối kim loại ngầm. Khải dùng cây sào còn lại tì vào gờ đá nổi phía sau, hợp lực cùng Nam đẩy chiếc thuyền nan dạt vòng qua dải xoáy nước nguy hiểm.
Chiếc thuyền tre thoát khỏi vùng nước sủi bọt, lách qua khe hẹp giữa hai doi cát rồi trôi dần vào vùng nước lặng phía đuôi xà lan.
Tiếng thở dốc của ông Chước nặng nhọc giữa tiếng gió rít, hai bàn tay vẫn bấu chặt cán chèo:
"Tôi đã bảo mà... dưới đáy lạch này có thứ gì đang kéo ngầm ghê lắm. Thuyền nan mà quẹt phải sợi cáp kia lúc nãy là vỡ toang lườn rồi."
"Bác giữ neo gỗ ở đây," Khải nói, mắt hướng lên thành tàu.
Chiếc xà lan GP-09 sừng sững hiện ra trước mắt. Thân tàu bằng thép tấm dày nặng hàng trăm tấn nằm gác một phần lườn lên doi cát ngầm giữa lạch. Thành tàu cao hơn mặt nước gần hai mét, từng mảng sơn chống rỉ màu nâu đỏ bong tróc loang lổ, để lộ lớp kim loại đóng vảy đen sì.
Sợi cáp thép to bằng cổ tay chạy từ bờ đất xưởng Tân Quang cắm thẳng vào mỏ neo sắt gắn bên mạn trái xà lan. Dọc theo thân cáp neo, nước sông bắn tung tóe thành từng chùm bọt nhỏ, thân cáp rung lên từng hồi căng cứng phát ra những tiếng rít rin rít trầm đục.
Ông Chước ghìm dầm gỗ, giữ thuyền nan trôi chậm lại cách mạn đuôi tàu khoảng hai mét.
"Đến đuôi tàu rồi đấy. Có cái lốp cao su treo giảm chấn ở góc lái, các chú lựa mà đu lên, tôi không ghé sát hơn được nữa đâu."
Khải quan sát kết cấu đuôi xà lan. Bậc thang sắt hàn dọc mạn tàu đang ướt sũng nước sông, mép kim loại bám đầy rong rêu trơn trượt. Phía trên sàn đuôi, hai chiếc lốp xe tải cũ được buộc bằng dây thừng gai làm đệm chống va đập.
"Không bám thang sắt," Khải nói nhỏ với Nam. "Dùng móc sào gá dây dù qua khung gỗ trên sàn thao tác."
Nam đưa cây sào cán sợi thủy tinh lên cao. Đầu móc cao su kẹp chặt vòng dây dù bện dày sáu tao, lựa thế móc chắc chắn vào một thanh dầm gỗ thông dùng kê hàng đặt trên sàn đuôi tàu. Nam giật mạnh dây ba lần để thử tải. Thanh gỗ nằm lọt giữa hai cọc bích bằng thép đặc, chịu lực kéo mà không xê dịch.
Khải nắm lấy thân dây dù khô, nhún người rời khỏi mạn thuyền nan. Đôi ủng cao su chạm vào bề mặt cong của chiếc lốp xe tải rồi mượn đà bật người leo lên sàn đuôi xà lan.
Mặt sàn tàu bằng tôn gân chống trượt lổn nhổn cát sỏi và bùn khô. Khải giữ chặt đầu dây cho Nam trèo lên theo.
Chiếc thuyền nan của ông Chước lùi ra xa, thả neo gỗ nổi bập bềnh cách đuôi xà lan chừng mười lăm mét theo đúng thỏa thuận.
Sàn tàu GP-09 vắng lặng. Máy nổ không hoạt động, chỉ có tiếng gió rít qua các khe hở của cabin lái và tiếng xích sắt va vào thành tôn lách cách. Phía trước boong tàu, một đống ống thép luồn dây điện và xích neo xếp ngổn ngang bên cạnh miệng hầm hàng phủ bạt dứa rách mép.
Khải ra hiệu cho Nam di chuyển theo mép ván sàn gỗ lót lối đi giữa boong, tránh giẫm trực tiếp lên các rãnh thoát nước bằng thép đang đọng nước sông.
Tiếng kim loại va chạm vang lên từ phía khoang tời đặt giữa thân tàu.
Khải bước về phía gờ cabin, lưng ép sát vào vách gỗ ép của trạm nghỉ ca.
Bên trong khoang tời hở mái, một bóng người mặc áo khoác gió màu rêu sẫm đang cúi lom khom bên bệ máy. Đặng Hữu Sâm đang dùng cờ-lê xích nặng siết một con ốc hãm trên trục tang cuốn cáp. Cạnh chân hắn là chiếc ba lô du lịch căng phồng và hai chiếc hộp kim loại đựng ổ cứng máy tính xếp chồng lên nhau.
"Đặng Hữu Sâm," Khải cất tiếng, giọng đanh lại giữa tiếng gió rít. "Bỏ dụng cụ xuống."
Sâm giật nảy người. Chiếc cờ-lê trên tay hắn va vào khung sắt phát ra tiếng beng khô khốc. Hắn quay lại, lưng dán vào thành cabin lái. Khuôn mặt Sâm xám ngoét, ria mép lởm chởm dính bụi mỡ bò, hai bọng mắt thâm quầng.
"Các... các anh tìm ra tận đây à?" Sâm lắp bắp, bàn tay phải vẫn nắm cán cờ-lê sắt.
"Lệnh triệu tập đã gửi tới công ty từ chiều," Khải đứng cách hắn bốn mét, trên tay giữ cây sào cách điện. "Xe bán tải của anh đã bị tạm giữ ở chốt cầu vượt. Để cờ-lê xuống sàn boong."
Sâm không buông cờ-lê. Hắn nhìn sợi cáp thép bện nối từ trục tời đâm thẳng xuống mép nước lạch, rồi nhìn hai cán bộ điều tra.
"Xe nào của tôi? Chiều nay tôi đi thuê thợ về sửa xà lan để kéo về xưởng nước ngọt bên kia sông!" Sâm gằn giọng, bàn tay nắm chặt cán cờ-lê hơn. "Các anh không có quyền chặn xe hay bắt bớ tôi giữa sông nước thế này."
Khải bước lên nửa bước, đặt chân chắc chắn trên tấm ván gỗ lót sàn:
"Chiếc bán tải biển số 29C-66666 rời bến Bến Đông lúc một giờ bốn mươi phút sáng ngày hai mươi tư tháng chín. Đêm đó Trần Đình Trọng gặp nạn ở mép nước. Anh giải thích thế nào về hai thùng hồ sơ với máy chủ nạo vét chở trên thùng xe?"
Sâm cười gượng, mắt đảo quanh khoang boong:
"Hồ sơ công ty tôi chuyển đi lưu trữ bảo quản, phạm luật gì? Còn thằng Trọng là do nó tự trượt chân chết đuối lúc triều lên, biên bản công an xã kết luận tai nạn lao động rõ ràng rồi!"
"Biên bản cấp phát găng tay bảo hộ cho Trọng ghi lùi ngày hai mươi tháng chín mang chữ ký của ai?" Nam tiếp lời từ phía sau Khải, tay giơ cuốn sổ ghi chép hiện trường. "Nét mực ký bổ sung được giám định lập vào ngày hai mươi lăm tháng chín. Anh ký giả mạo để né trách nhiệm an toàn lao động."
"Tôi... tôi là giám đốc, ký duyệt bổ sung theo đề xuất của tổ đội thì có gì sai?" Sâm nói nhanh, giọng run lên. "Thằng Trọng nó làm ẩu, nó tiếc mấy mét cáp neo phụ nên tự ý lội xuống bùn gỡ móc kẹp lúc triều dâng. Tôi đã bảo nó đứng trên ván gỗ kê đầu bờ rồi, tại nó không nghe lời tôi!"
"Tại sao anh biết phải đứng trên ván gỗ?" Khải hỏi dồn, mắt nhìn thẳng vào Sâm. "Quy trình vận hành tời kéo thông thường chỉ yêu cầu ủng và găng cách điện. Vì sao anh lại dặn Trọng không được đặt chân xuống bùn ướt và không được chạm tay vào cáp sắt khi nước ngập?"
Sâm khựng lại. Quai hàm hắn giật giật, lưng lùi sát vào bệ tời:
"Tôi... tôi thấy ngoài bãi trước đây có người bị co rút buốt cứng tay chân như thế thì tôi dặn phòng hờ! Các anh đừng có bới móc ép người!"
"Trước đây là lúc nào?" Khải bước lên nửa bước, giọng đanh lại. "Lúc máy xúc công ty anh đào sâu quá phép gần hai mét dưới lòng lạch vào tháng tám năm ngoái?"
Sắc mặt Sâm chuyển sang bợt trắng. Hắn nhìn chằm chằm vào Khải, ngực phập phồng dữ dội:
"Các anh... các anh lôi chuyện nạo vét năm ngoái ra đây làm gì? Đáy lạch bồi lắng thì chúng tôi múc khơi thông luồng, ai rảnh mà quan tâm cọc cừ nằm sâu dưới đáy!"
"Nếu không quan tâm, tại sao anh nối sợi cáp thép từ xà lan đâm thẳng vào cọc rào dãy trọ?" Khải chỉ vào tuyến cáp đang rung từng nhịp dưới chân Sâm. "Hồ sơ nạo vét của Gia Phúc và nhật ký ca máy bị anh cạo xóa những gì?"
"Hỏi nhiều làm gì!" Sâm gầm lên, bàn tay trần chộp lấy cần gạt ly hợp bằng thép đặc. "Chỗ các anh đang đứng đầy nước sông tràn qua đấy! Giỏi thì bước qua đây!"
Sâm dồn toàn lực giật mạnh cần ly hợp.
Trục tang cuốn bằng thép phát ra một tiếng rít chói tai. Bánh răng của cụm tời nghiến vào nhau ken két, tóe ra những tia kim loại ma sát khô khốc. Sợi cáp thép to cỡ cổ tay chồm lên khỏi rãnh dẫn hướng, kéo căng thành một đường thẳng tắp nối từ boong xà lan đâm xiên xuống lòng lạch mặn.
Con nước triều ròng đang rút mạnh bỗng cuộn sóng dữ dội dưới đáy lườn tàu. Thân xà lan hàng trăm tấn bị lực kéo của sợi cáp ngầm ghì chặt, nghiêng giật cục sang mạn trái một góc gần mười độ.
Máng xối thoát nước dọc mạn tàu bị dồn ứ, hất tung một vệt nước lợ tràn ngược qua mép sàn tôn, chảy xối xả về phía bệ tời và lối đi bằng ván gỗ.
Nam đứng phía sau Khải bị cú lắc nghiêng của xà lan làm trượt chân. Tấm ván gỗ lót dưới chân Nam chao đảo, mép ủng cao su trượt sát vào vũng nước đọng đang rịn sương trắng li ti.
"Nam, trụ vững trên ván!" Khải hô lớn, hai chân bám chặt vào sống dầm gỗ giữa boong.
Lớp màng trắng đục ngưng kết với tốc độ mắt thường nhìn thấy dọc theo vòng tang cuốn máy tời. Khí buốt tỏa ra từ các khớp nối thép làm những giọt nước đọng trên vành bánh răng đông cứng lại thành những hạt cặn đục ngầu, phát ra tiếng rạn lách tách.
Sâm đứng trên bệ máy kê cao, ngỡ rằng bản thân cách ly được như những lần trước. Nhưng đợt xà lan nghiêng hất vệt nước lợ chảy tràn qua chân đế cụm tời, phủ kín bề mặt bệ thép dưới chân hắn.
Bề mặt bệ máy rịn ra lớp màng trắng mỏng.
Đôi giày da đế mỏng của Sâm đã ướt sũng nước sông từ đáy khoang. Bắp chân phải của hắn giật nảy lên một nhịp.
"Á!" Sâm thét lên một tiếng nghẹn ứ trong cổ họng.
Chiếc cờ-lê sắt tuột khỏi tay Sâm rơi cắm phập xuống sàn tôn. Bàn chân hắn co rút cứng ngắc, cơ bắp cẳng chân giật giật từng hồi. Cả thân người Sâm lảo đảo ngả về phía sau, lưng đập vào nắp hầm hàng bằng kim loại đang phủ một lớp sương lạnh buốt.
Bàn tay trần của Sâm theo phản xạ quờ quạng chực bám vào khung giằng thép cabin lái để gượng dậy.
Khải lao cây sào cách điện cán sợi thủy tinh về phía trước. Đầu móc cao su chèn ngang giữa bàn tay Sâm và khung giằng kim loại, hất văng cánh tay hắn ra khỏi điểm tiếp xúc nguy hiểm.
Ở phía sau, Nam vươn cây sào còn lại tới trước, móc cao su ấn mạnh vào tay gạt ly hợp của máy tời, dồn lực đẩy cần gạt bật ngược trở lại vị trí ngắt.
Cạch!
Khớp răng tang cuốn nhả ra. Sợi cáp thép chùng xuống một đoạn, lớp màng trắng trên tang cuốn ngừng lan rộng.
Thân người Sâm mất đà tiếp tục trượt nghiêng xuống sàn tôn ướt nước lợ. Khải quăng vòng dây dù bện khô qua ngực Sâm, siết chặt dây rồi quát:
"Nam, kéo ngược lên đống bao tải!"
Nam đứng vững trên tấm ván gỗ khô, dùng hai tay ghì chặt đầu dây dù, dồn trọng lượng cơ thể kéo giật ngược về phía sau.
Thân người Sâm bị sợi dây dù kéo bật khỏi mép sàn tôn ướt, ngã nhào lên đống bao tải mùn cưa và giẻ lau máy khô ráo xếp ở cửa trạm nghỉ ca.
Sâm nằm vật trên đống giẻ, hai hàm răng va vào nhau lập cập, ngực phập phồng từng cơn ngắn. Bắp chân phải của hắn co rút cứng đờ dưới lớp quần bò, bàn chân xỏ trong chiếc giày da ướt sũng cứ giật giật từng nhịp, hắn cố gập gối để nhấc chân lên nhưng cả cẳng chân trơ ra không thể điều khiển.
Khải bước tới, dùng một thanh gỗ thông khô gạt chiếc cờ-lê sắt và đoạn dây xích nằm gần đó ra xa khỏi tầm với của Sâm.
Nam tiến lên, mở còng số tám có bọc lớp nhựa bảo vệ ở khớp nối, khóa chặt hai cổ tay Sâm ra sau lưng.
"Đặng Hữu Sâm," Khải đứng trước mặt hắn, giọng đều và đanh. "Anh bị lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp về hành vi vi phạm quy định an toàn lao động và hủy hoại công trình bảo vệ đê điều."
Sâm nằm nghiêng trên bao tải mùn cưa, mắt nhìn trân trân vào lớp màng trắng đang tan dần thành những vệt nước nhờn trên tang cuốn máy tời:
"Nó... nó vừa truyền qua vệt nước đọng... Tôi... tôi tưởng đứng trên bệ máy khô là không bị..."
Khải không đáp lời Sâm. Anh cúi xuống nhặt chiếc ba lô du lịch và hai chiếc hộp kim loại đựng ổ cứng máy tính đặt cẩn thận lên mặt bàn gỗ khô trong cabin.
"Anh trông giữ đối tượng trên ván khô," Khải dặn Nam. "Tôi kiểm tra khoang máy."
Khải cầm đèn pin và sào cách điện bước vào sâu bên trong khoang tời.
Cụm máy tời thủy lực này mang nhãn hiệu cũ từ những năm chín mươi, nhưng phần trục tang cuốn có dấu vết can thiệp cơ học rất rõ ràng. Các bu-lông chân đế nguyên bản đã bị cắt bỏ bằng mỏ hàn gió đá, thay vào đó là những thanh giằng thép dày dặn hàn đè trực tiếp vào khung sườn chịu lực của xà lan.
Ở điểm đấu nối giữa đế máy tời và lườn tàu, Khải phát hiện một đoạn cáp thép bện to bản. Đoạn cáp này không dùng để kéo neo thông thường; nó được bắt vít cố định bằng đai kẹp đồng, chạy xuyên qua lỗ khoét dưới đáy vỏ tàu để cắm thẳng xuống lòng bùn đáy lạch.
Khải soi đèn pin dọc theo thân hộp số điều khiển.
Vỏ hộp số bằng gang đúc dày cộp có những vết xước sâu còn mới tinh. Trên nắp hộp số, một chiếc khóa đồng số hiệu mười bốn bị cắt dở dang. Then khóa bằng đồng thau đã bị lưỡi cưa sắt cưa đứt hơn một nửa, để lại những mạt đồng li ti rơi vãi trên rãnh nắp.
Tuy nhiên, then cài vẫn bị giữ chặt bởi một sợi dây chì niêm phong cũ mèm, xỉn màu xám đục. Trên viên chì niêm phong dập nổi hình ngôi sao và dòng chữ hoa sắc nét: BAN CHỈ HUY ĐÊ ĐIỀU 1994.
Dưới vết cưa của chốt khóa đồng, khe hở hé lộ một phần khoảng trống bên trong hộp số. Bên trong là một khối vật liệu sẫm màu bám chặt vào trục quay, kết cấu hoàn toàn xa lạ với một cụm tời truyền động cơ khí.
Khải nhìn vết cưa mới trên then khóa đồng rồi quay lại nhìn Sâm:
"Lưỡi cưa sắt này là của anh?"
Sâm ngửa đầu tựa vào bao mùn cưa, hai mắt co rút lại khi ánh đèn pin rọi qua chiếc khóa số mười bốn. Hắn vội vã lảng ánh nhìn sang khoảng tối ngoài mép nước:
"Của... của thợ sửa tàu cũ để lại từ trước... Tôi không biết gì bên trong cái hộp đó cả..."
"Chiếc khóa này mang số hiệu mười bốn, khớp với niêm phong công trình cừ ngầm năm chín tư," Khải nói chậm rãi. "Anh trốn ra đây giữa đêm mang theo máy tính và hồ sơ nạo vét. Sao việc đầu tiên anh làm lại là cưa chiếc khóa này?"
Sâm mím chặt môi, hai bả vai run lên dưới lớp áo khoác gió ướt nước. Hắn nghiêng đầu áp sát vào vách gỗ ép, mắt nhắm nghiền lại, tuyệt đối không hé thêm một lời nào.
"Giữ nguyên niêm phong cụm hộp số này," Khải quay sang bảo Nam. "Không cạy phá nắp hộp. Cố định vị trí tang cuốn và đoạn cáp cắm đáy tàu để đội kỹ thuật sang khám nghiệm toàn diện."
Nam mở cuốn sổ tay nghiệp vụ, ghi lại số hiệu khóa đồng, tình trạng vết cắt trên then khóa và vẽ sơ đồ vị trí đoạn cáp cắm xuyên đáy tàu xà lan GP-09.
Khải bước ra mép mạn tàu, rọi ba chớp đèn pin ngắn về phía bờ đê.
Chiếc thuyền gỗ của đội tuần tra liên ngành nổ máy rù rù rẽ sóng tiến ra giữa dòng lạch, đèn pha quét một vệt sáng thẳng vào đuôi tàu GP-09. Giữa lòng lạch mặn, chiếc xà lan sắt vẫn nằm im lìm trên doi cát, đoạn cáp neo cắm sâu vào dòng nước đục dưới chân tàu.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.