Lạc Hồng Kiếm Ấn

Quyển 1: Thức Tỉnh: Đoản Kiếm Tỉnh Mộng

Chương 9: Cổ Tự Phù Vân, Bát Cơm Nguội Nơi Hậu Viện

Đăng: 25/08/2026 19:24 5,675 từ 1 lượt đọc

Khánh mở mắt nhìn lên trần nhà.

Những thanh đòn tay bằng gỗ xoan ngâm xám xịt chạy song song nâng đỡ lớp ngói mũi hài đóng rêu xỉn màu. Một vệt nắng mai chiếu xiên qua kẽ ngói vỡ, rọi xuống khoảng không gian đầy những hạt bụi bặm lơ lửng. Mùi dầu tràm nồng nặc quyện với mùi lá ngải cứu sao dấm, mùi máu tanh đã khô và mùi mốc của tấm chiếu cói bốc lên ngột ngạt.

Khánh hít vào một hơi, vết thương bên mạn sườn trái lập tức nhói buốt như có dải sắt nung áp vào da thịt. Cậu đưa tay sờ xuống. Lớp vải gai thô cuốn quanh bụng đã khô cứng lại vì dịch mủ và máu, những mũi khâu bằng chỉ gai thô ráp kéo căng mép da non.

Bọc vải chàm bọc thanh kiếm gãy không còn bên mình. Chiếc túi da cá chứa lá bùa trước ngực cũng biến mất. Cậu đưa lưỡi rà lên vòm họng; viên ngọc Tích Thủy Châu nhỏ bằng hạt sen vẫn nằm lọt thỏm trong kẽ răng hàm dưới, phả ra từng đợt hơi lạnh dịu nhẹ như sương sớm, giữ cho cuống họng không bị thiêu rụi bởi cơn sốt rét.

Khánh chống khuỷu tay định nhổm dậy thì cánh cửa liếp kêu lên một tiếng cọt kẹt. Một bóng người từ ngoài hiên bước vào.

Đó là một chú tiểu chừng mười ba, mười bốn tuổi, đầu cạo ba chỏm, mặc chiếc áo nâu vá hai miếng vuông ở bả vai. Trên tay chú bưng một âu sành bốc khói nghi ngút, miệng lẩm bẩm đếm bước chân. Thấy Khánh cựa mình, chú tiểu vội đặt âu thuốc xuống chiếc chõng tre con kê sát vách đất, chạy lại đỡ lấy vai cậu:

"Nằm yên, nằm yên! Rách chỉ khâu bây giờ. Thầy Tuệ Hải bảo vết thương này sâu chạm tới xương sườn, động mạnh một cái là máu lại phụt ra đấy."

Khánh tựa lưng vào vách nứa, giọng khàn đặc:

"Đây là đâu? Ai đưa tôi tới đây?"

"Đại Tự Pháp Vân ngoài cửa ngõ phía tây kinh thành," chú tiểu kéo chiếc ghế gỗ con ngồi xuống, lấy muôi gỗ khuấy âu thuốc đen ngòm. "Ba đêm trước, lúc trời còn tối om, người ta thấy anh nằm bất tỉnh trước bậc thềm cổng tam quan. Quần áo ướt sũng, bùn sông Hồng bám từ đầu đến chân, máu chảy ướt đẫm cả gạch son. Mấy sư huynh đi tuần tưởng ma nước dạt vào, suýt nữa lấy gậy xua đi, may mà thấy còn thở nên mới khênh vào Y Viện này."

"Đồ đạc... những thứ trên người tôi đâu?" Khánh hỏi dồn.

Chú tiểu ngẩng đầu lên, vẻ mặt thật thà:

"Mấy thứ bọc vải, túi da đeo trên người anh đều bị chuyển lên phòng Tăng ty trên Thượng điện rồi. Quy củ nhà chùa nghiêm lắm, đồ của người ngoài mang vào có dính máu me hay binh khí đao kiếm đều phải giao cho thầy Giám tự lập biên bản cất vào Tàng Khố. Tôi chỉ là đứa chạy việc sắc thuốc ở Dược Đường, không rõ đâu."

Nói đoạn, chú tiểu múc một bát thuốc đen đặc, chìa ra trước mặt Khánh:

"Uống đi cho ấm bụng. Thuốc này có rễ xuyên khung với huyết giác, đắng ngắt đấy nhưng trục được hàn khí dưới sông."

Khánh đón lấy bát sành, nhấp từng ngụm nhỏ. Nước thuốc đắng chát xộc thẳng lên mũi, nhưng trôi xuống đến đâu thì lồng ngực đang tắc nghẽn như giãn ra đến đó.

Ba ngày tiếp theo trôi qua trong sự tù túng.

Khánh nằm dưỡng thương trong một gian phòng nhỏ của Y Viện – khu nhà ngang nằm tách biệt ở mé tây đại tự.

Từ bậc cửa gian phòng, quy mô đồ sộ của ngôi quốc tự thời Lý hiện lên rõ nét theo từng tầng không gian nối tiếp nhau. Khu trung tâm là Chánh điện và Pháp đường với những hàng cột gỗ lim to hai người ôm, mái đao cong vút chạm nổi hình rồng giun uốn lượn mềm mại, lợp ngói men xanh ngọc. Nối liền các điện thờ lớn là những dãy hành lang dài hun hút lát gạch Bát Tràng viền đá xanh, mái lợp thấp hơn, tạo thành một khung chữ "Quốc" vuông vức bao bọc lấy các khoảng sân trời trồng đầy hoa đại và cây thiên tuế.

Nhưng càng lùi về phía sau và hai bên sườn, kiến trúc càng thấp dần và thô mộc.

Phía sau dãy Hữu Vu là khu Dược Đường và Y Viện, gồm những dãy nhà lợp ngói mũi hài cũ kỹ, tường trát đất trộn rơm. Xa hơn nữa về phía hậu viện là khu nhà kho chứa nông cụ, xưởng đúc đồng, chuồng trâu và những dãy lán bằng tre nứa – nơi ăn chốn ở của hàng trăm điền tăng, thợ phụ và tá điền làm việc cho ruộng chùa. Mùi trầm hương thanh tịnh nơi Phật điện phía trước hoàn toàn bị chặn lại bởi những bức tường gạch dày, nhường chỗ cho mùi rơm mục, mùi phân gia súc và mùi mồ hôi của sự lao dịch nặng nề.

Sáng ngày thứ tư, vết thương bên sườn Khánh đã bắt đầu se miệng, chỉ còn đau âm ỉ.

Cửa phòng bật mở. Một lão tăng lưng hơi còng, mặc chiếc áo nâu sồng bạc phếch xắn ngang khuỷu tay bước vào. Lão có khuôn mặt gầy guộc như khúc củi khô, chòm râu dê lưa thưa nhuộm màu khói thuốc, một bên mắt hơi xếch lên đầy vẻ cộc cằn.

Đó là Thầy Tuệ Hải – Trưởng Dược Đường.

Lão chẳng thèm nhìn vào mặt Khánh, đi thẳng tới mép giường, thò bàn tay chai sạn như vỏ cây xé toạc lớp băng gạc trên mạn sườn cậu ra mà không hề báo trước.

Xoẹt!

Vết da non bị giật mạnh làm Khánh co rúm người lại, hai hàm răng nghiến chặt phát ra tiếng ken két, mồ hôi lạnh toát ra đầm đìa nhưng không thốt ra nửa lời rên rỉ.

Tuệ Hải cúi xuống, ngón tay thô ráp ấn mạnh vào mép vết thương thịt đỏ hỏn. Cơn đau thấu xương dội lên, nhưng mắt lão tăng vẫn lạnh tanh. Lão nhổ toẹt một bãi nước trầu qua cửa sổ xuống bồn hoa ngải cứu bên ngoài, cất giọng khàn đặc, cộc lốc:

"Khá đấy. Da thịt săn, chịu đòn tốt. Tưởng cái ngữ trôi sông trôi bến như mày hôm sau là trương sình lên khênh ra bãi tha ma rồi chứ."

Lão thò tay vào túi vải móc ra một nắm lá ngải cứu sao vàng trộn vôi bột, đập một phát vào vết thương của Khánh, rồi dùng dải vải thô siết chặt lại.

"Đau thì cắn lưỡi mà chịu," Tuệ Hải vừa quấn băng vừa nói ráo hoảnh. "Mày sống được là nhờ cái mạng mày dai, chứ chẳng phải do chùa này linh thiêng gì đâu. Mấy ngày nay tốn của ông già này hết nửa hũ cao quy bản với ba thang huyết giác loại một."

Lão ngừng tay một chút, dùng mu bàn tay quệt mồ hôi trên trán, rồi liếc nhanh ra ngoài hành lang vắng lặng, hạ giọng xuống thật thấp:

"Nhớ lấy: xương sườn mày vừa gãy nứt mới liền màng, trong vòng hai ngày tới mà vác nặng quá ba mươi cân thì đứt mạch máu trong bụng, thần tiên cũng chẳng cứu nổi. Tao chỉ cứu được người còn sống, không cứu được kẻ chết. Muốn giữ mạng thì tự mình biết mà liệu."

Dứt lời, lão quẩy túi thuốc quay lưng bước thẳng ra hành lang, đôi guốc gỗ gõ côm cốp xuống nền gạch cũ mà không thèm ngoái đầu nhìn lại.

Giờ Thìn ngày hôm đó.

Khánh vừa gượng chống tay lần theo mép vách nứa bước ra hiên hít chút dưỡng khí thì ngoài hành lang lát gạch son vang lên tiếng bước chân dồn dập. Tiếng guốc gỗ nện xuống nền đá từng nhịp đanh gọn, không nhanh không chậm.

Ba bóng người lướt qua rèm trúc. Đi đầu là một vị sư trung niên vóc dáng đẫy đà, khoác chiếc áo cà sa vải lụa nâu bóng loáng, cổ đeo tràng hạt tiện bằng gỗ trầm đen nhánh. Gương mặt ông ta trắng trẻo, cằm vuông nở nang, khóe miệng luôn giữ một nụ cười hòa nhã. Đi phía sau là hai tăng nhân trẻ tuổi vạm vỡ, áo chẽn xắn cao để lộ bắp tay gân guốc, một người ôm cuốn sổ bồi giấy bản dày cộp, người kia kẹp chiếc bàn tính bằng gỗ mun và cây thước sơn then bóng nhẫy.

Vị sư dừng lại trước ngưỡng cửa, chắp hai tay trước ngực, khẽ cúi đầu:

"A Di Đà Phật. Bần tăng là Thích Thanh Đạt, Giám tự Tăng ty coi sóc tài vật và trật tự của Đại Tự Pháp Vân. Nghe tiểu tăng Dược Đường báo lại thí chủ đã qua cơn nguy kịch, quả thật là phúc duyên sâu dày, được hồng ân Tam Bảo che chở."

Khánh đưa tay ôm nhẹ mạn sườn, khẽ cúi người đáp lễ:

"Đa tạ Đại đức và nhà chùa đã rủ lòng cứu mạng."

Thanh Đạt mỉm cười, bước vào kéo chiếc ghế gỗ duy nhất kê sát cửa sổ ngồi xuống. Ông ta không vội bàn việc, mà thong thả đưa hai bàn tay mập mạp vuốt phẳng nếp áo lụa trên đùi, rồi đặt chuỗi tràng hạt trầm hương lên gối, chậm rãi lần từng hạt một.

Cạch... cạch...

Tiếng những hạt gỗ va vào nhau khô khốc. Thanh Đạt ngồi im như pho tượng, mắt khép hờ, để mặc cho sự im lặng nặng nề bao trùm khắp gian phòng chật hẹp.

Một lúc lâu sau, ông ta mới ngước mắt lên nhìn cậu thiếu niên đang đứng nép bên mép chõng tre:

"Thí chủ, bần tăng hỏi thật một lời: Thí chủ từ đâu trôi dạt đến? Ở các phường phố trong thành Thăng Long này, có thân nhân hay người quen nào nương tựa được chăng?"

Khánh hơi cụp mắt xuống, giọng thoáng chút rụt rè của một đứa trẻ mồ côi nơi bến bãi:

"Tôi... từ xóm chài ven sông Đáy chạy loạn lên. Thân nhân trên kinh thành không còn một ai."

"À..." Đôi lông mày của Thanh Đạt khẽ nhướng lên, ngón tay dừng lại trên một hạt trầm. "Thân nhân không có, vậy ngân lượng mang theo bên người... hẳn cũng chẳng còn bao lăm?"

"Tôi không có tiền." Khánh lí nhí đáp, hai bàn tay vô thức bấu chặt vào mép áo nâu thô ráp.

Thanh Đạt khẽ thở dài một tiếng thật nhẹ, vẻ mặt như đã lường trước tất cả. Ông ta vẫy nhẹ ngón tay. Tên thị giả phía sau lập tức bước lên, đặt cuốn sổ bản lên bàn rồi mở phắt chiếc bàn tính gỗ mun ra.

Lách cách... Lách cách...

Những hạt tính va vào nhau đanh gọn. Thanh Đạt lật từng trang giấy, ngón tay trỏ lướt trên những hàng mực nho ngay ngắn, cất giọng điểm từng khoản một:

"Một là, ba thang thuốc Nam đại bổ trục hàn khí: sâm rừng mạn ngược, huyết giác, ngải nhung kèm nửa hũ cao quy bản: hai quan tiền đồng."

Ngón tay ông ta gạt mạnh một hàng hạt tính.

"Hai là, tiền công Tăng y phẫu thuật mổ rút đầu tên sắt bọc độc, khâu nối da thịt suốt một đêm ròng: một quan tiền."

Tách!

"Ba là, tiền phòng Y Viện ba ngày ba đêm, củi lửa xông phòng trục độc và cháo hoa dưỡng tạng: sáu trăm văn."

"Bốn là, chi phí đàn tràng tiêu tai giải nạn do ban kinh sư tụng trì Mật chú khi khiêng thân thể đầy máu của thí chủ qua cổng tam quan: một quan tiền nữa."

Thanh Đạt dừng tay, ngón tay béo múp gạt dứt khoát hạt tính cuối cùng lên thanh ngang.

Tách!

"Tổng cộng là bốn quan sáu trăm văn tiền đồng niên hiệu Thuận Thiên."

Khánh sững sờ. Con số bốn quan sáu trăm văn như một tảng đá ngàn cân rơi thẳng xuống đỉnh đầu. Một thiếu niên mồ côi quanh năm chỉ biết con cá mớ rau ngoài bến lậu, cả đời chưa từng thấy nổi một quan tiền xâu thành chuỗi, lấy đâu ra số bạc khổng lồ dường ấy?

Thấy Khánh đứng chết lặng, Thanh Đạt khẽ tựa lưng vào thành ghế. Nụ cười trên môi ông ta nhạt dần, thanh âm trầm xuống, rít nhẹ qua kẽ răng như tiếng gió luồn qua khe cửa hẹp:

"Thí chủ... một đồng lận lưng cũng không có, thân thích chốn kinh kỳ lại bằng không. Vậy thí chủ định lấy thứ gì để bù đắp vào kho tàng của Tam Bảo đây?"

Khánh siết chặt nắm tay, sự bối rối ban đầu hiện rõ trên gương mặt tái nhợt.

Thanh Đạt nhìn thấu vẻ lúng túng đó, giọng càng thêm sắc lạnh:

"Cái bọc vải chàm chứa khúc đoản kiếm đồng gãy của thí chủ, bần tăng đã xem qua rồi. Mũi kiếm gãy nham nhở, hoa văn quái lạ nhuốm đầy huyết sát. Thứ đồ ấy mang đầy oán khí, bần tăng đã cho niêm phong cất kỹ nơi Tàng Khố. Đất Thăng Long dạo này lắm kẻ gian phi, quan binh Mật Thám Ty lùng sục ngày đêm. Nếu bần tăng chỉ cần mang khúc kiếm ấy nộp lên nha môn, khép vào diện đạo tặc bến sông... thí chủ nghĩ xem cái thân tàn này liệu có bước nổi ra khỏi cổng chùa?"

Nghe đến hai chữ "khúc kiếm", tia rụt rè cuối cùng trong mắt Khánh bỗng chốc tan biến sạch sẽ.

Cậu không lùi bước. Ngược lại, cậu từ từ ngẩng thẳng đầu lên.

Đôi mắt một mí vốn trầm lặng của đứa trẻ xóm chài bỗng sáng rực lên một cách kỳ lạ – đó là thứ ánh sáng sắc lẻm, lì lợm của loài sói hoang khi bị dồn vào chân tường. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của vị Giám tự, không hề chớp lấy một lần, giọng nói cất lên rành rọt và cứng cỏi lạ thường:

"Bốn quan sáu trăm văn tiền thuốc cứu mạng, tôi nhận. Tôi không có bạc trắng, nhưng có sức người. Tôi ở lại chùa làm lụng, nợ bao nhiêu sẽ trừ dần bấy nhiêu, quyết không quỵt của nhà chùa một đồng!"

Thanh Đạt thoáng khựng lại trước ánh mắt rực lửa của thằng nhóc mười sáu tuổi. Nhưng rất nhanh, một tia đắc ý kín đáo lướt qua đáy mắt ông ta. Ông ta vỗ nhẹ hai bàn tay vào nhau, khóe miệng nở rộng một nụ cười khoan thai:

"Lành thay! Thí chủ đã tự mình mở lời như vậy, bần tăng há lại hẹp hòi? Cửa Phật từ bi, thấy người có lòng hướng thiện tất phải mở lối."

Thanh Đạt đứng dậy, xốc lại tà áo lụa bóng, bước lại gần Khánh, ánh mắt đảo một vòng từ đầu đến chân cậu:

"Đã là thí chủ tự nguyện đem sức chuộc nợ, vậy cứ theo quy củ Hậu viện mà làm: Mỗi ngày công lao dịch nặng, bần tăng hào phóng tính cho thí chủ mười lăm văn. Trừ đi năm văn tiền hai bữa cơm hẩm và chỗ ngủ ở Hậu viện, còn mười văn trừ thẳng vào sổ nợ. Đúng bốn trăm sáu mươi ngày công, nợ tiêu sạch, bần tăng sẽ mở Tàng Khố trao trả lại khúc kiếm gãy cho thí chủ xuống núi."

Ông ta hơi dừng lại, làm ra vẻ trầm ngâm rồi thở dài một tiếng đầy độ lượng:

"Tuy nhiên, nhà chùa lấy đức hiếu sinh làm gốc, tuyệt không nỡ ép người vào đường cùng. Thầy Tuệ Hải bên Dược Đường có nói qua thể trạng của thí chủ vừa qua cơn thập tử nhất sinh, khí huyết còn hư tổn. Bần tăng đặc cách cho thí chủ được tịnh dưỡng thêm hai ngày nữa tại chái Hậu xá, cơm cháo hai bữa nhà chùa vẫn chu cấp đầy đủ mà không tính vào tiền nợ. Hết hai ngày, vết thương se miệng, khi ấy bắt đầu làm việc gán nợ cũng chưa muộn."

Thanh Đạt nghiêng đầu, nụ cười trên gương mặt đẫy đà càng thêm đôn hậu và từ bi:

"Thu xếp như thế... chính là vừa thuận theo ý thí chủ, lại trọn vẹn lòng từ bi của cửa Phật rồi nhé?"

Khánh nhìn sâu vào nụ cười hòa nhã ấy. Cậu nhớ lại câu dặn dò cộc cằn của lão tăng Tuệ Hải lúc sáng về chuyện xương sườn chưa liền và nguy cơ đứt mạch máu, hiểu rằng hai ngày tịnh dưỡng này là do lão thầy thuốc đã cố ý nói đỡ. Nhưng cậu cũng biết, Thanh Đạt chẳng phải kẻ dễ dàng mở lòng từ bi, gã đồng ý cho thêm hai ngày chẳng qua vì nếu con nợ chết sớm thì chẳng ai trả nổi bốn quan sáu trăm văn.

Nhưng có thêm hai ngày thở dốc giữa chốn này đã là một món hời lớn.

Khánh khẽ cúi đầu, ánh mắt lạnh ngắt:

"Đa tạ lòng từ bi của thầy Giám tự."

"Rất tốt." Thanh Đạt khẽ phất tay áo, quay người bước ra cửa. "Viên Thông, dẫn người xuống Hậu xá nhận chỗ!"

Hai ngày dưỡng thương trôi qua trong gian chái nhà kho ẩm thấp cạnh chuồng trâu Hậu xá.

Đó là hai ngày lặng lẽ nhưng vô cùng quý giá đối với Khánh. Cậu không bước chân ra ngoài, chỉ nằm trên phản tre rách, lắng nghe tiếng trâu thở phì phò và tiếng nước sông Hồng xa xăm vọng lại. Mỗi ngày hai bữa, chú tiểu Dược Đường mang đến cho cậu một bát cháo hoa loãng rắc chút muối hột và một bát thuốc Nam đắng ngắt.

Khánh tận dụng từng khắc từng phút ngồi xếp bằng, vận chuyển khẩu quyết Minh Tâm. Luồng hàn khí thanh khiết từ viên Tích Thủy Châu dưới chân răng phối hợp cùng tàn dư dương khí ấm áp của lá bùa Địa Linh Phù đã ngấm sâu vào da thịt đêm ngâm bùn, âm thầm luân chuyển dọc theo kinh lạc. Vết thương mạn sườn trái dần kéo vảy cứng cáp, lớp cơ thịt bị rách bắt đầu đan bện lại, hình thành một khối dẻo dai.

Đến sáng ngày thứ ba, kỳ hạn dưỡng thương kết thúc.

Trời vừa hửng sáng, sương muối còn giăng trắng xóa trên các rặng tre quanh chùa thì cánh cửa gỗ ghép đã bị đạp tung rầm một tiếng.

Viên Thông – gã tăng nhân giám sát Hậu viện có vết sẹo dài trên trán – bước vào, quẳng chiếc đòn gánh tre già đã mòn vẹt hai đầu và hai chiếc thùng gỗ lim nặng trịch xuống nền bùn ướt, hất hàm:

"Hết hạn nằm ườn rồi! Dậy! Chiều nay, múc nước từ giếng đá ong đổ đầy sáu cái lu trên Dược Đường. Làm không xong trước khi mặt trời lặn thì tối nay nhịn cơm!"

Khánh không đáp, lẳng lặng từ trên phản tre bước xuống, cúi mình nhặt chiếc đòn gánh lên.

Mặt tre trơn nhẫy và lạnh ngắt, thấm đẫm mồ hôi chua chát của biết bao kẻ bần hàn từng oằn lưng gánh nợ nơi này. Cậu đặt đòn gánh lên vai, vết thương bên sườn khẽ co giật đau nhói. Cậu bước từng bước tập tễnh về phía giếng đá sâu hun hút trong bóng sương mai đang tan dần trên vách đá rêu phong.

Giếng đá ong nằm lọt thỏm dưới chân một bờ ta-luy thoải, rêu bám xanh rì từ thành giếng xuống tận đáy nước sâu chừng ba trượng. Mặt nước phẳng lặng như gương, in bóng vòm lá dâu da cổ thụ xơ xác vì gió bấc.

Khánh cúi người, thả chiếc gàu bằng mo cau bọc khung tre xuống. Tiếng tõm vang lên đùng đục, gàu chìm nghỉm, sợi dây thừng bện bằng vỏ cây gai cứa vào lòng bàn tay cậu ráp như đá mài. Cậu nghiến răng kéo lên. Một gàu, hai gàu, ba gàu... Nước giếng đá ong trong vắt nhưng buốt lạnh thấu xương, mỗi lần múc đầy một thùng gỗ lim nặng hơn ba mươi cân là một lần bắp tay cậu run lên bần bật.

Khi hai thùng nước đã đầy ắp, Khánh lồng hai quai chão vào móc sắt ở hai đầu đòn gánh.

Cậu hạ thấp trọng tâm, đặt thanh tre già đã lên nước bóng lộn lên bờ vai trái – bên vai chưa bị thương.

Két... rắc...

Thanh tre uốn cong thành hình cánh cung, phát ra một tiếng rên rỉ khô khốc. Sức nặng của hơn sáu mươi cân nước cùng hai thùng gỗ lim dày cộp lập tức đè nghiến xuống xương bả vai mỏng dính của cậu thiếu niên mười sáu tuổi.

Khánh khựng lại nửa nhịp, hai đầu gối chùng xuống, bàn chân trần bấm chặt vào lớp bùn nhão dưới chân giếng để khỏi ngã sấp mặt.

Cơn đau từ mạn sườn trái lập tức bị kéo căng. Nhờ hai ngày dưỡng thương nằm ép kinh mạch, lớp da non không bị bục ra như dự tính, nhưng áp lực của lồng ngực đang phải căng phồng để hít thở vẫn khiến từng thớ thịt nhức nhối như bị kim châm. Cậu cắn chặt môi, cảm nhận vị tanh nồng của máu rỉ ra nơi khóe miệng, rồi từ từ duỗi thẳng lưng, nhấc chân bước lên bậc đá ong đầu tiên.

Con đường từ giếng nước dẫn lên Dược Đường dài chừng hơn trăm trượng, dốc thoai thoải theo triền đồi nhưng rải đầy những phiến đá ong gồ ghề bị rêu phong phủ trơn trượt.

Khánh chưa từng học võ công chính thống, nhưng mười năm lăn lộn trên những chiếc thuyền nan chao đảo ngoài sông Đáy đã dạy cho đôi chân cậu một bản năng tự nhiên. Khi gánh nước trèo dốc, hai thùng nước nặng trịch đung đưa theo nhịp bước chân tạo thành một lực lắc lư cực kỳ nguy hiểm; nếu gồng cứng người chống lại nó, sức nặng sẽ bẻ gãy khớp vai. Cậu hơi chùng gối, nương theo nhịp nẩy lên nẩy xuống của thanh tre già, chân bước theo hình chữ bát để xé nhỏ lực dội từ sườn dốc lên hông.

Mỗi bước đi là một lần thanh tre cọ xát vào lớp da thịt mỏng trên vai. Mồ hôi túa ra như tắm, chảy ròng ròng qua trán, cay xè hai khóe mắt.

Đến lu nước thứ nhất đặt trước hiên Dược Đường, Khánh run rẩy nhấc thùng trút nước vào. Dòng nước mát lạnh đổ ào xuống lòng lu sành, bọt nước bắn tung tóe lên mặt cậu.

Cậu ngẩng đầu nhìn lại con dốc dài hun hút phía dưới, lồng ngực phập phồng dữ dội. Sáu lu nước, mỗi lu chứa được năm gánh. Cậu phải đi trọn vẹn ba mươi chuyến đi về như thế này.

Chuyến thứ ba, vai trái của Khánh rách toạc da, máu đỏ tươi thấm ướt một mảng áo nâu, dính bết vào thớ tre đòn gánh.

Chuyến thứ bảy, cậu buộc phải đổi đòn gánh sang vai phải. Sự chuyển dịch trọng tâm đè ép trực tiếp lên cơ liên sườn bên trái khiến vết rách do mũi tên nỏ giật lên từng cơn buốt nhói, mồ hôi quyện lẫn bụi đất làm rát bỏng từng mảng thịt.

Khánh ngã quỵ ở chuyến thứ mười hai.

Hai thùng nước đổ nhào, nước giếng tràn lênh láng cuốn trôi những vệt máu tươi trên mặt đá. Chiếc đòn gánh tre văng ra xa ba thước. Khánh nằm sóng soài trên nền đất dốc, hai bàn tay cào xước vào đất sỏi, trán đập mạnh vào mép đá ong nham nhở. Đầu óc cậu quay cuồng như có hàng ngàn tiếng ong vo ve, tầm mắt tối sầm lại.

Cách đó không xa, dưới bóng râm của mái hiên kho thóc, Viên Thông đang ngồi gác chân lên ghế đẩu nhai trầu. Gã liếc nhìn sang, khóe môi nhếch lên một nụ cười giễu cợt, nhưng không thèm bước lại, chỉ lạnh lùng buông một câu:

"Đổ một gánh, tính thêm một gánh. Chiều nay không đổ đầy sáu lu, tối nay ra chuồng trâu mà gặm rơm!"

Khánh nằm im trên nền đá lạnh ngắt suốt gần nửa khắc đồng hồ.

Trong khoang miệng, viên ngọc Tích Thủy Châu dưới chân răng dường như cảm ứng được sự kiệt quệ của chủ nhân, bắt đầu tỏa ra một luồng khí tức thanh hàn nhàn nhạt. Luồng hơi lạnh ấy luồn qua vòm họng, chảy chậm rãi dọc theo thực quản xuống chấn thủy, xoa dịu cơn co thắt dữ dội của buồng phổi.

Khánh hít một hơi thật sâu. Cậu chống hai cùi chỏ xuống đất, từ từ bò dậy.

Không kêu than, không ngẩng lên nhìn Viên Thông, cậu lẳng lặng nhặt chiếc đòn gánh dính máu, khập khiễng xách hai chiếc thùng gỗ quay trở lại giếng đá ong.

Hoàng hôn buông xuống Đại Tự Pháp Vân bằng một màu tím xám ảm đạm.

Gió từ mạn sông Hồng thốc qua những rặng tre già quanh chùa, mang theo hơi nước buốt lạnh của đợt sương muối cuối mùa. Tiếng chuông U Minh trên tòa tháp đá ngân lên từng hồi trầm đục, từng nhịp boong... boong... vang vọng khắp không gian, hòa cùng tiếng tụng kinh rầm rì như tiếng sóng vỗ từ Chánh điện phía xa.

Nhưng ở khu Hậu xá, tiếng chuông chùa hoàn toàn bị chìm lấp bởi tiếng bát đũa khua lách cách và tiếng húp xì xụp thô lỗ.

Đó là một gian nhà vách đất dài chừng mười trượng, không có bàn ghế, chỉ có hai dãy phản gỗ tạp chạy dài dọc theo tường. Hơn ba mươi điền tăng và tá điền áo rách tả tơi, người đầy mùi mồ hôi chua nồng và mùi bùn đất đang chen chúc nhau ngồi quanh những chiếc chậu sành lớn đặt giữa sàn.

Khánh bước vào, toàn thân rã rời như một bộ khung xương vừa được lắp ráp lại. Cậu đã gánh xong lu nước thứ sáu đúng lúc ánh mặt trời vừa khuất sau rặng núi xa, hai bàn chân sưng vù, lớp da trên hai vai bị đòn gánh lột sạch để lộ lớp thịt đỏ hỏn rớm máu.

Cậu tiến lại gần chiếc chõng tre ở góc nhà, nơi đặt một âu cơm bằng sành lớn.

Nhưng âu cơm đã gần như cạn sạch. Đám tá điền khỏe mạnh đã xới hết phần cơm trắng xốp bên trên, chỉ còn trơ lại một lớp cơm cháy dính chặt dưới đáy âu, cháy xém thành một màu vàng sẫm cứng quắc. Bên cạnh là một chiếc liễn da lươn đựng nước luộc rau muống dại nhạt thếch, nổi lềnh bềnh vài cọng rau già và một bát sành đựng muối hột xám xịt trộn ớt bột.

Khánh cầm chiếc muôi gỗ con, cạo lấy một mảng cơm cháy đáy nồi cho vào bát sành của mình. Cậu chan một muôi nước rau luộc, rắc lên trên một nhúm muối hột thô ráp.

"Thằng nhãi kia, tránh ra cho người khác lấy nước!"

Một gã điền tăng to béo, vai trần vạm vỡ gạt mạnh tay khiến Khánh loạng choạng lùi lại một bước. Gã chẳng thèm liếc nhìn cậu, thọc thẳng chiếc gáo dừa vào liễn múc cạn chút nước rau muống còn sót lại rồi quay về chỗ ngồi nhai nhồm nhoàm.

Không ai nói với Khánh một lời, cũng chẳng ai thèm hỏi han vết thương đang rỉ máu bên mạn sườn cậu.

Ở cái Hậu xá này, mỗi người đều là một con sâu cái kiến đang oằn mình trả nợ đời hoặc trốn tránh tai ương ngoài phố thị. Sự đồng cảm là thứ xa xỉ không thể mọc ra trên những mảnh ruộng cày thuê hay bên những đống củi lim cứng như đá. Kẻ nào yếu đuối, kẻ đó tự chìm xuống đáy bùn mà chết.

Khánh bưng bát sành, lẳng lặng đi ra bậc thềm đất ngoài cửa, ngồi bệt xuống một khúc gỗ mục.

Cậu dùng những ngón tay đen nhẻm bốc từng miếng cơm cháy nhét vào miệng. Cơm nguội ngắt, cứng như đá vụn cào xước vòm họng khô khốc. Hạt muối thô mặn chát làm xót buốt khóe môi nứt nẻ. Nhưng cậu cứ thế cắm đầu nhai, nhai kỹ từng hạt gạo cháy, nhai nuốt trọn vẹn từng chút tinh bột ít ỏi để biến nó thành sức lực cho cơ thể.

Cậu nhìn về phía những dãy hành lang rực rỡ ánh đèn lồng của Chánh điện phía xa. Ở nơi đó, khói trầm hương ngàn năm đang bay lên hư không, những lời kinh Mật tông đang cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho sự trường tồn của vương triều và sự giác ngộ của muôn loài.

Còn ở đây, dưới chân vách đá ẩm mốc này, cậu phải dùng từng mảng cơm cháy nhai lẫn máu tươi để giữ cho cái mạng mình không bị vứt ra bãi tha ma.

Phật ở quá cao, Khánh nghĩ thầm trong đầu, nuốt ngụm nước rau muống cuối cùng xuống dạ dày rỗng tuếch. Muốn sống sót mà lấy lại thanh kiếm, chỉ có thể dựa vào hai bàn tay và sự lì lợm của chính mình.

Đêm xuống.

Khu chuồng trâu nằm tách biệt ở góc khuất nhất của Hậu xá, dựa lưng vào vách đá dựng đứng của sườn núi phía tây.

Mùi phân trâu nồng nặc quyện với mùi rơm rạ ẩm mục xộc lên ngột ngạt. Bốn con trâu mộng to lớn đang nằm phủ phục dưới nền đất nện, thỉnh thoảng lại thở ra những luồng hơi phì phì nặng nhọc, chiếc đuôi đập bôm bốp vào mông xua đuổi lũ muỗi rừng đói máu.

Chỗ ngủ của Khánh là một chiếc dát tre ọp ẹp kê sát vách nứa ngăn cách với chuồng trâu, bên trên trải một lớp rơm rạ khô đã ngả màu xám xịt. Không có chăn chiếu, chỉ có một manh bao tải gai rách bươm dùng để đắp ngang bụng.

Sương đêm buốt như kim châm luồn qua những kẽ nứa hở, phả rát da thịt.

Cơn sốt âm ỉ từ vết thương mạn sườn sau một ngày làm lụng cực nhọc bắt đầu bùng phát trở lại. Toàn thân Khánh run lên bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra tiếng kêu cắc cắc. Những khớp xương sau ba mươi chuyến gánh nước nặng bắt đầu đau nhức dữ dội, cảm giác như có hàng ngàn con kiến lửa đang gặm nhấm vào tủy xương.

Cậu nằm co quắp trên đống rơm rạ, hai tay ôm chặt lấy lồng ngực.

Trong cơn mê sảng nửa tỉnh nửa mê, hình ảnh ngọn lửa bốc cháy ngùn ngụt trên sông Hồng, tiếng nỏ rít xé gió, ánh mắt thèm khát của gã Ba Mắt Lươn và tiếng bàn tính lách cách của Thích Thanh Đạt cứ đan xen vào nhau, chực chờ kéo cậu chìm sâu vào bóng tối tuyệt vọng.

Không được buông xuôi...

Khánh cắn mạnh vào đầu lưỡi. Vị máu tươi mằn mặn làm thần trí cậu giật mình tỉnh táo trở lại.

Cậu gượng chống tay, khó khăn ngồi xếp bằng trên tấm dát tre rách.

Nhớ lại những đêm ngồi trên mũi thuyền nan giữa dòng sông Đáy nghe Bà Cháo giảng giải về hơi thở, Khánh bắt đầu nhắm nghiền hai mắt lại, buông lỏng hai bờ vai đang sưng tấy, ép lồng ngực không được thở dốc.

Cậu bắt đầu vận hành khẩu quyết Minh Tâm:

Hít vào: Dẫn một luồng khí lạnh từ viên ngọc Tích Thủy Châu dưới chân răng trôi chậm rãi qua cổ họng, đi qua chấn thủy, tụ lại nơi đan điền dưới rốn ba phân.

Thở ra: Ép toàn bộ thán khí nóng rực và tạp niệm sợ hãi ra ngoài qua hai cánh mũi, giữ cho tâm ý phẳng lặng như mặt nước giếng đá ong không gợn sóng.

Nhịp thở ban đầu còn ngắt quãng và đau đớn vì vết thương co kéo. Nhưng dần dần, theo từng chu kỳ hít sâu thở dài, nhịp tim của Khánh bắt đầu đập chậm lại, hòa cùng nhịp thở phì phò đều đặn của những con trâu mộng nằm bên cạnh.

Lá bùa Địa Linh Phù tuy đã bị tịch thu cất vào Tàng Khố, nhưng luồng chân khí thuần dương ấm áp ngấm sâu vào thớ thịt từ đêm ngâm mình dưới đáy bùn sông Hồng vẫn còn đọng lại quanh vết thương. Dưới sự dẫn dắt của khẩu quyết Minh Tâm, tàn dư hơi ấm ấy bắt đầu kết hợp nhịp nhàng với luồng hàn khí thanh khiết từ viên Tích Thủy Châu dưới chân răng, âm thầm luân chuyển dọc theo mạch Nhâm Đốc, xoa dịu những thớ cơ rách toạc và phong bế cơn sốt rét đang hoành hành.

Bên ngoài, tiếng sương đêm rơi lộp bộp trên mái rạ mục.

Khánh ngồi bất động như một pho tượng đá giữa chuồng trâu ẩm thấp, lẳng lặng nuốt trọn cái lạnh của đất trời vào trong lồng ngực, kiên nhẫn tích lũy từng chút sinh lực cho chuỗi ngày khổ ải phía trước.

HẾT CHƯƠNG 9

0