Lạc Hồng Kiếm Ấn

Quyển 1: Thức Tỉnh: Đoản Kiếm Tỉnh Mộng

Chương 11: Một Bậc Anh Thơ

Đăng: 31/08/2026 00:09 4,089 từ 1 lượt đọc

Mặt trời chưa ló khỏi ngọn tre, sương muối phả từ lòng sông Nhị vào đặc quánh, phủ một lớp màng ươn ướt lên những phiến đá xanh trước cổng Tam Quan.

Khánh cắm cúi quét lớp lá bồ đề rụng dày sau trận gió bấc đêm qua. Cây chổi tre trên tay quét một nhịp dài, mũi chân trần bấm nhẹ xuống kẽ đá trơn để giữ thăng bằng. Cách đó ba bước, thằng Mót kéo lê chiếc chổi con, tay nứt nẻ quẹt mũi, miệng phả từng ngụm khói mỏng.

Từ dưới con dốc lát đá dẫn lên cổng chùa, tiếng vó sắt bỗng nện dồn dập, xé toạc sự tĩnh mịch của sớm mùa đông. Bảy thớt chiến mã phủ giáp nhẹ màu tro lao vút qua ngưỡng cửa Tam Quan, cuốn tung đống lá khô vừa gom. Mùi da thuộc quét dầu thông quyện trong hơi thở phì phò của bầy ngựa, xộc thẳng vào mũi.

Thằng Mót giật mình, chân líu vào cán chổi, ngã sấp giữa lối đi. Con ngựa xám đi đầu chồm hai vó trước, hí vang vì bị ngáng đường. Tên kỵ binh ghìm cương không kịp, mặt đanh lại. Thấy đứa trẻ rách rưới chắn ngay đường ngựa phi nước đại, gã vung ngược ngọn roi da bịt đồng, nhắm gáy thằng Mót quất xuống.

Ngọn roi xé gió rít lên một tiếng lạnh buốt.

Chát!

Khánh không lao tới xô người. Cậu quăng cây chổi sang ngang, chân trái bấm mạnh xuống kẽ đá, nghiêng cả nửa thân người về phía trước để che lấy thằng Mót. Cán chổi tre già dựng lên theo phản xạ, chắn ngang giữa đường roi quất xuống.

Chát!

Ngọn roi bịt đồng quất thẳng vào thân chổi, lực cuộn làm cậu giật lùi nửa bước, hổ khẩu tê rần. Nhưng tay trái cậu đã kịp níu lấy vai thằng Mót, lôi nó lùi về sau hai bước, thoát khỏi tầm roi. Thằng nhỏ ngã ngồi xuống đất, mặt trắng bệch, quần áo lấm lem bùn, nhưng vẫn còn sống.

Khánh không kêu đau. Cậu chỉ hít nhẹ qua kẽ răng, ngón tay vẫn siết chặt cán chổi đã nứt một đoạn, mắt không rời khỏi tên kỵ binh đang trợn mắt phía trên. Gã đã rút đao, bước tới một bước.

Cậu vẫn đứng im, lưng che cho thằng Mót, không nói gì. Trong đầu cậu lúc này chỉ có một cách tính: nếu gã vung đao, cậu sẽ hất chổi vào mắt gã, rồi đẩy Mót chạy về phía bụi trúc gần đấy. Nhưng chân cậu không nhúc nhích, chỉ đứng chờ.

"Cất đao!"

Một giọng nói trong trẻo nhưng lạnh và đanh như thép tôi vang lên từ phía sau.

Đoàn kỵ mã dạt sang hai bên. Một con hắc mã cao lớn tiến lên trước thềm đá, mỗi bước nện xuống nền đá xanh đều tăm tắp, chẳng hề vội vã.

Người ngồi trên lưng ngựa là một thiếu nữ mặc áo chẽn bó sát màu lam thẫm, vải thô nẹp da hai bên sườn, thắt lưng da bò ôm gọn vòng eo. Tóc nàng cột cao sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ mun giản dị, để lộ vầng trán cao và đôi mày lưỡi mác sắc sảo. Bên hông nàng đeo một thanh đoản đao bọc da cá nhám, chuôi đao mòn bóng vì bàn tay đã cầm nó qua nhiều trận mạc.

Đi sát sườn nàng là một tráng hán ngoài bốn mươi, mặt vuông chữ điền phủ râu quai nón lấm tấm bạc, khoác giáp da trâu đen tuyền, sau lưng đeo một thanh trọng đao nẹp thép dài tới bốn thước. Đôi mắt lão trầm như nước giếng cạn.

Hai người không nhìn tên lính vừa bị gạt đòn. Ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía Khánh.

Khánh vẫn đứng che trước mặt thằng Mót, không quỳ, không né. Trương Thiết nheo mắt nhìn vết chai non trên hổ khẩu tay Khánh, nhìn cách cậu giấu mũi chổi tre sau gót chân để mượn lực. Lão khẽ gật đầu một cái thật nhẹ, không nói gì.

Mai Trân thu ánh nhìn lại, kéo nhẹ dây cương:

"Trước cửa Tam Quan không phải chỗ cho các ngươi giương oai. Lui ra."

Tên kỵ mã nghiến răng tra đao vào bao, lùi ngựa về hàng.

Cánh cửa Giám Viện lúc này bật mở. Thích Thanh Đạt hai tay lần chuỗi tràng hạt trầm hương vội bước ra, nụ cười đon đả nhưng vạt áo cà sa bay phần phật vì bước chân luống cuống:

"A Di Đà Phật. Mai tiểu thư và Trương giáo đầu đường xa vất vả. Sao không báo trước một tiếng để bần tăng sai người chuẩn bị trà nóng nghênh giá?"

Mai Trân không xuống ngựa, ngọn roi trong tay khẽ gõ lên báng yên:

"Khỏi trà nước. Ba thuyền quặng đồng đỏ từ Lộ Đà Giang xuôi về kinh, qua khúc Bãi Cọc thì bặt tăm hai chiếc. Bốn mươi lính thú áp tải bị cắt đứt họng vứt trôi sông. Bọn thủy tặc Vọng Giang Lâu dám cướp quặng triều đình ngay cửa ngõ kinh thành, nếu không có bến bãi ngầm tiếp ứng, chúng giấu hai thuyền quặng vào đâu?"

Thanh Đạt khựng lại, ngón tay lần hạt trầm hơi dừng:

"Tiểu thư nói vậy oan cho sơn môn quá! Nước sông mùa cạn chảy xiết, cướp sông hoành hành, nhà chùa quanh năm chỉ biết tụng kinh niệm Phật..."

"Oan hay không, lát nữa quét lòng lạch sau chùa là rõ." Mai Trân quay ngoắt đầu ngựa, giọng không mang nửa tia nhân nhượng. "Lệnh của Đô Thống phủ: bắt được quặng lậu hay cướp sông quanh đất này, chém trước tâu sau."

Dứt lời, nàng cùng Trương Thiết thúc ngựa dẫn toán kỵ binh rẽ về hướng đường đê mé tây.

Khánh cúi nhặt cây chổi tre đưa lại cho thằng Mót. Thằng nhóc vẫn còn run, môi mấp máy định hỏi thì Khánh đã trừng mắt, hất cằm ra hiệu im lặng. Mót nuốt câu hỏi xuống cổ, cắm cúi quét tiếp.

Với một thằng nhóc bến bãi đang nợ bốn quan sáu trăm văn, chuyện quan quân Tướng phủ hay bọn cướp mỏ quặng xa xôi như chuyện trên trời.

Quét xong tiền đình, Khánh lủi về chái củi Hậu viện.

Ba mươi súc gỗ lim già nằm ngổn ngang dưới vách đá, thớ gỗ xoắn bện cứng như đá hộc. Khánh ngồi xổm, nhớ lời Lão Vô Ngôn, dùng sống búa gõ nhẹ vào từng mặt cắt, lắng tiếng coong... cốp trầm đục để tìm vết rạn ngầm tự nhiên.

Hít một hơi sâu, cậu vận khẩu quyết Minh Tâm. Luồng hàn khí từ viên ngọc dưới chân răng trôi xuống đan điền, đánh thức dòng nhiệt ấm chạy dọc sống lưng, lan vào từng thớ cơ hai vai. Cậu vung búa lên, không ghì bằng sức bắp tay mà mượn thế rớt tự nhiên của đầu búa, đúng khoảnh khắc chạm gỗ thì xoay nhẹ cổ tay, dồn lực từ gót chân qua hông.

Phập! Toác!

Khúc gỗ lim nứt toác làm đôi ngọt xớt.

Nhưng đến súc gỗ thứ hai mươi, bụng dưới Khánh bỗng sôi lên một tiếng dài. Cơn đau quặn từng đợt như có ai cầm kéo cắt ruột. Đêm qua đói quá, cậu vừa ngốn củ ấu nướng cháy khét của Lão Vô Ngôn, vừa nhai sống củ sắn non nhiều nhựa thằng Mót mang cho — thứ bột sống ấy gặp nước lạnh bắt đầu lên men dữ dội trong dạ dày.

Khánh cắn chặt răng, mồ hôi túa trán, cố bửa cho xong súc gỗ cuối thì cánh cửa liếp bị đẩy toang.

Viên Thông trùm khăn kín cổ lẹp kẹp bước vào, ném hai sợi chão xuống đất:

"Xong rồi thì gùi củi ra bến Vầu ngay! Đổi sáu bó củi gộc này lấy bốn bao than đá về cho lò rèn Dược Đường. Nhanh chân, trễ thuyền thì tối nay nhịn cơm!"

Khánh gom sáu súc gỗ lim bó thành hai gùi lớn móc vào đòn gánh tre già, vừa bấm bụng gồng mình chịu trận vừa cắm đầu rảo bước ra bờ sông.

Bến Vầu là một con lạch cụt sâu hoắm, lau sậy mọc lút đầu người, thuyền bè ngoài sông lớn nhìn vào chỉ thấy một màu xanh ngắt hoang rậm.

Một chiếc thuyền đinh đáy bằng đen sì đang rẽ sương trôi vào mép nước. Mười mấy tên đàn ông cởi trần lộ hình xăm chàm vảy rồng, tay lăm lăm móc sắt và câu liêm — lũ cướp sông Vọng Giang Lâu sau khi cướp thuyền chở đầy quặng đồng đỏ đã ép thuyền vào đây để sang mạn tuồn lên phía Bắc.

Thuyền vừa chạm mép bùn, tên cầm lái giơ tay ra hiệu thì một mũi tên bọc vải đen từ rặng tre gai cắm phập vào mu bàn tay tên giữ dây néo. Hắn tru lên một tiếng đau đớn, máu phun thành vệt dài trên mặt nước lạnh.

"Có mai phục!"

Tiếng hô chưa dứt, từ sau những lùm lau sậy rậm rạp hai bên bờ lạch, hàng chục bóng người áo nâu sẫm đồng loạt bật dậy. Đó là quân phủ của Đô Thống – những kẻ đã nằm phục từ lúc sương còn dày, tay cầm đoản đao, tay cầm nỏ thép, mặt ai cũng lạnh tanh như nước sông mùa cạn.

Vút... vút... vút!

Loạt nỏ thép bắn ra như mưa rào. Ba tên thủy tặc đứng gần mép thuyền trúng tên, ngã gục xuống lòng lạch, nước sông nhuộm đỏ loang lổ. Bọn còn lại gầm lên, hất mái chèo, xoay thuyền toan lui ra giữa dòng.

Nhưng thuyền đã bị móc sắt ngoạm chặt.

Từ hai bên bờ, quân phủ đồng loạt lao xuống. Bùn lầy dưới chân bắn tung tóe, tiếng bước chân huỳnh huỵch hòa với tiếng binh khí va vào nhau loảng xoảng. Đoản đao chém vào xác thịt, câu liêm móc vào giáp da, máu bắn lên mặt người. Có kẻ bị chém đứt gân tay, rú lên rồi ngã vật xuống mép nước. Có kẻ bị móc sắt kéo ngược xuống lòng thuyền, nước sông nuốt chửng trước khi kịp kêu.

Thủy tặc Vọng Giang Lâu không bỏ chạy. Chúng quen đánh trên nước. Một tên lặn sâu xuống lòng lạch, trồi lên sau lưng một quân phủ, hai tay bóp chặt cổ kẻ đó quật ngược xuống bùn. Tên khác vung câu liêm quét ngang, móc rách toạc bụng một quân phủ, ruột lòi ra ngoài bãi sậy.

Cuộc chiến diễn ra trong khoảng lạch hẹp chưa đầy ba trượng, nơi mùi máu tanh nồng trộn lẫn mùi bùn sông, mùi mồ hôi và mùi thuốc súng từ những mũi nỏ còn cháy dở.

Giữa lúc hai bên đang giằng co, từ trên bờ mương, Trương Thiết lao xuống như một khối đá tảng.

Thanh trọng đao vung ngang một vòng viên mãn, kình phong cuốn theo bùn nước rít lên chói tai. Mũi đao cắt qua sợi dây néo đang căng, thuyền chao mạnh, nước sông ập vào mạn trống. Ba tên cướp cầm nỏ chưa kịp giương dây đã bị sống đao nặng hai mươi cân đập vào ngực, gãy xương ức, rơi tõm xuống lòng lạch.

Lão không nói gì, chỉ thở ra một hơi dài, rồi lại nâng đao. Một tên thủy tặc lao tới từ sau lưng, câu liêm phóng thẳng vào gáy lão. Trương Thiết không quay đầu, chỉ nghiêng người nửa tấc, mũi câu liêm sượt qua vai. Lão vung trọng đao chém ngược, lưỡi đao bửa toác vai tên cướp, máu phun thành tia nóng hắt lên gò má lão.

Bóng áo lam của Mai Trân lướt qua vai lão như một cánh chim én sà thấp mặt nước.

Nàng không chém loạn. Đoản đao trong tay xoay nửa vòng cắt đứt cán câu liêm của tên đi đầu, mũi chân điểm nhẹ lên mép ván mượn lực xoay người, sống đao thúc thẳng vào yết hầu tên thứ hai. Cổ họng hắn vỡ toác, máu phun thành một tia đỏ nóng hắt lên má nàng.

Tên thủ lĩnh thủy tặc cao hơn sáu thước, ngực chằng chịt sẹo đao, gầm lên một tiếng bổ đôi móc sắt xuống đầu nàng. Mai Trân chùng gối trượt nghiêng người qua nách gã, đoản đao đâm ngược từ dưới lên cắt đứt gân tay cầm móc, rồi mượn phản lực xoay người tung một cú đạp gót sắt vào khớp gối tên trùm.

Rắc! Bịch!

Gã khổng lồ nặng gần hai tạ gãy gập khớp chân, văng qua rặng sậy, rơi huỵch xuống rãnh đất phía sau, bùn văng tung tóe. Tiếng rên của gã át cả tiếng gió thổi qua lau sậy.

Cũng vừa lúc ấy, Khánh quẳng đôi gùi củi sau gốc sung, chui tọt vào góc rậm nhất của bụi sậy để giải quyết nỗi thống khổ trong ruột gan.

Cậu ngồi xổm sau mép mương, hai đầu gối run bần bật vừa vì cơn đau bụng vừa vì mùi máu bốc lên ngoài bãi. Hé nửa khuôn mặt qua kẽ lá lác, cậu thấy ngoài kia đao kiếm bay loang loáng thì hồn vía đã lên mây.

Rầm!

Xác tên thủ lĩnh thủy tặc bay xuyên ngọn sậy, rớt uỳnh ngay sát mũi chân cậu.

Mai Trân lướt tới từ trên bờ, mũi đao cắm phập vào ngực tên cướp ghim chặt gã xuống đất. Cảm nhận hơi người sống ngay cạnh, cổ tay nàng giật ngược rút phắt mũi đao đẫm máu, đâm thẳng vào giữa trán kẻ nấp trong bụi rậm!

Khánh kinh hãi, vội chìa nửa cánh tay cầm nắm lá sen khô quơ lia lịa như vẫy cờ hàng, tay kia xoắn vội cạp quần thành một nút thắt lỏng, giọng khàn đặc gào lên:

"Khoan đã! Tôi bên Hậu viện chùa Pháp Vân... ra đổi than thôi! Đừng tới đây, dưới này đang dở việc, dơ lắm!"

Mũi đao dừng lại cách sống mũi cậu đúng nửa tấc. Giọt máu trên đầu đao rỏ tách một tiếng trúng mu bàn chân trần của Khánh.

Mai Trân cau mày nhìn xuống. Manh áo rách dính dăm gỗ, nắm lá sen khô vò nát và tư thế trần trụi dưới đất khiến sát khí trong nàng khựng lại nửa nhịp. Chân mày lá liễu giật nhẹ. Nàng liếc ra bờ mương — quả thực có đôi gùi củi lim bửa đều tăm tắp nằm cạnh đòn gánh tre già bên gốc sung.

Ngoài xa, tiếng còi đồng của Tăng binh bắt đầu rúc lên dồn dập. Mai Trân khẽ nghiêng đầu nhìn ra mé nước.

Chỉ chờ có nửa nhịp thở ấy, Khánh buông phắt nắm lá, một tay túm chặt cạp quần xốc lên ngang hông, co giò đạp mạnh vào thân sậy phóng vọt ra sau như một con rái cá trúng tên!

"Đứng lại!"

Mai Trân quát khẽ. Nàng phát kình dưới gót chân, tung người nhảy vọt lên một gò đất nhô cao sau bụi rậm, toan mượn điểm tựa ấy dậm một cước phóng qua đầu Khánh để chặn đường lui.

Kình lực từ đan điền cuộn trào dồn xuống gót chân.

Nào ngờ, gót ủng vừa chạm phải đúng cái bãi Khánh vừa trút ra lúc nãy. Lớp bùn nhão quyện bã củ ấu lên men trơn tuột, độ bám mất sạch trong tích tắc. Lực phát ra bao nhiêu trượt dài bấy nhiêu nghe một tiếng xoạch rợn người.

Điểm mượn lực sụp đổ, thân hình nàng mất thăng bằng giữa không trung. Mai Trân gập gối, xoay vai thu người, một tay chống xuống bùn để triệt tiêu thế ngã, nhưng cú trượt quá gắt khiến tà áo lam quét theo một vệt bùn dài trên đám cỏ lác. Đoản đao cắm ngập vào khúc rễ mục gãy rắc một tiếng.

Mùi khắm nồng bốc lên giữa gió sông lạnh ngắt.

Chỉ một cái xoáy cổ chân mượn lực từ mặt đất, Mai Trân đã bật thẳng người đứng dậy. Chiếc ủng da nai dính bết bùn, tà áo lam loang một vệt vàng xám từ mắt cá lên tận gấu — nhưng lưng nàng vẫn thẳng, cằm vẫn hất cao. Gương mặt trắng bệch rồi đỏ tía, môi cắn chặt đến gần bật máu.

Dưới chân nàng, nắm lá sen khô Khánh vừa buông vội nằm dẹp một nửa trong bùn. Mai Trân cúi nhặt lên, phủi nhẹ lớp bùn đất rồi nhét gọn vào trong vạt áo.

Cách đó hơn mười trượng bên kia mương nước, Khánh vừa chạy thục mạng vừa túm chặt cạp quần. Nghe tiếng rớt uỳnh phía sau, cậu ngoái cổ lại gào với một câu tỉnh rụi:

"Đã bảo là đau bụng chưa kịp kéo quần rồi mà cứ xông vào!"

Dứt lời, bóng thằng nhóc không dám hướng về phía chùa mà cắm đầu phóng thốc sang bãi bồi hoang rậm phía hạ lưu, lủi sâu vào giữa bạt ngàn lau sậy mọc lút đầu người rồi bặt vô âm tín.

Trương Thiết từ dưới lòng thuyền đinh bước lên bờ, đao đã tra vào bao da sau lưng.

Nhìn thấy cảnh tượng trước mắt, khóe môi dưới chòm râu quai nón của lão giật nhẹ. Lão vội quay nghiêng mặt sang hướng khác, húng hắng ho một tiếng thật dài để nén nụ cười.

"Không được cười!" Mai Trân nghiến răng, giọng rít qua kẽ môi.

Trương Thiết lập tức thu lại vẻ mặt, phẳng lặng như đá hộc:

"Mạt tướng không cười. Gió sông lạnh quá nên khô họng thôi."

Lão rút tấm khăn vải thô bên hông ném sang cho nàng, trầm giọng:

"Tiểu thư nên lấy ngựa về trạm dịch trước tránh dị nghị, chỗ này cứ để lão lo."

Nói đoạn, lão bước ngang qua gốc sung, ánh mắt dừng lại ở đôi gùi củi Khánh bỏ lại bên bờ mương.

Trương Thiết cúi người nhặt một khúc củi lim lên. Gỗ lim vốn xoắn thớ, cứng như đá hộc, nhưng vết nứt toác đôi lại chạy thẳng tắp dọc theo tim gỗ, mặt cắt phẳng phiu và ngọt xớt — không phải vết băm chặt của kẻ cậy sức trâu bừa bãi, mà là vết nứt tạo bởi một cú dập chuẩn xác mượn đúng trọng lực đà rơi, xoay dồn lực từ khớp cổ tay và hông. Ngón tay thô ráp của lão giáo đầu miết nhẹ lên vết nứt còn mới tinh, con mắt thâm trầm khẽ nheo lại.

Lão đặt khúc củi lại vào gùi, ném chiếc dây cương ngựa sang cho Mai Trân:

"Thằng nhóc đó chỉ là đứa làm thuê bị sai vặt, không phải người của Vọng Giang Lâu. Tiểu thư không cần bận tâm."

Mai Trân đón lấy tấm khăn, lau mạnh lên chiếc ủng da, ngón tay bấu chặt vải thô đến trắng bệch. Nàng nhìn chằm chằm khoảng rặng sậy mịt mùng nơi thằng nhóc vừa biến mất, hàm răng nghiến ken két:

"Ta nhớ mặt nó rồi."

Dứt lời, nàng xoay người nhảy lên lưng con hắc mã, giật phắt dây cương phóng vút lên triền đê, để lại màn sương muối mờ mịt sau lưng.

Gió bấc thổi thốc qua bãi bồi lạnh buốt xương.

Khánh nằm bẹp trong một rãnh cạn sâu hoắm giữa đồng lau, hai tay túm chặt cạp quần đã được xỏ tạm bằng một sợi dây leo dại. Cậu nằm im thin thít, nín thở lắng nghe từng động tĩnh ngoài bến.

Tiếng còi đồng của Tăng binh chùa Pháp Vân rúc lên từng chập, tiếng chân người huỳnh huỵch kéo ra bến lạch, rồi tiếng quát tháo, cãi cọ giữa Giám tự Thích Thanh Đạt với quân của Trương Thiết dội lại trong gió. Mãi đến khi mặt trời đứng bóng, toán lính áp tải mới phong tỏa xong hiện trường, kéo chiếc thuyền đinh cùng đám cướp bị trói gông xuôi về phía bến chính.

Con lạch Bến Vầu dần chìm vào tĩnh mịch, chỉ còn tiếng sóng vỗ ì oạp vào bờ đất.

Khánh lóp ngóp bò ra khỏi rãnh sậy, toàn thân lạnh ngắt và dính đầy bùn khô. Cậu len lén men theo mép nước, lủi về phía gốc sung già.

Đôi gùi củi lim và chiếc đòn gánh tre vẫn nằm nguyên chỗ cũ.

Khánh thở phào một hơi dài, vội vàng xốc đòn gánh lên vai. Cậu không dám quay về chùa ngay mà bấm bụng gánh củi men theo con đường mòn bến sông đi thêm hai dặm về phía bến Than. Tìm đúng chiếc thuyền nan chở than đá của phường rèn, Khánh chìa thẻ bài của Dược Đường ra đổi lấy bốn bao than đen trùi trũi, nặng trĩu hai đầu gùi.

Đến khi bóng chiều tắt hẳn, sương đêm buông dày đặc mặt đê, bóng thằng nhóc gầy guộc mới còng lưng gánh than lủi qua cửa ngách sau Hậu viện.

Tối mịt hôm ấy, Khánh trút đôi sọt than đá xuống góc chái củi. Than đá va nhau lách cách, bụi đen bám ráp trên mười đầu ngón tay đầy vết dằm gỗ.

Cậu múc một gáo nước giếng dội thẳng lên bắp chân, chà lấy chà để cho trôi lớp bùn bến lạch. Nước lạnh buốt làm đầu óc tỉnh hẳn, nhưng cái mùi khẳm lợm giọng ban chiều hòa với mùi máu tanh nồng của trận chém giết vẫn bám rịt lấy tâm trí cậu, khiến lồng ngực cồn cào nghèn nghẹn.

Lão Vô Ngôn ngồi bên đống trấu âm ỉ đỏ, tay cụt ngón cầm que tre cời nhẹ một mẩu than. Con mắt chột kéo sẹo trắng dã liếc qua vạt áo rách bươm của Khánh, khịt mũi:

"Mùi máu ngoài bến Vầu tanh hơn mùi bùn đấy."

Khánh ngồi phệt xuống khúc gỗ mục, chùi hai bàn tay rát buốt vào gấu quần. Nghĩ tới những cái xác vỡ nát dưới đao hùm, cậu buông một câu cộc lốc:

"Tranh nhau mấy sọt đồng lậu, chém chết mấy chục mạng người ngoài bãi sậy... chỉ để đúc một quả chuông thôi à lão?"

Lão Vô Ngôn không ngẩng lên. Que tre trong tay gạt một mẩu than cháy dở sang bên:

"Mày tưởng tiếng chuông sớm tối chỉ để gọi lũ sư lười dậy ăn cơm hả?"

Lão ngước con mắt độc nhất nhìn về phía ngọn tháp đá sừng sững mờ ảo giữa trời đêm, im lặng một lúc lâu.

"Cái dải đất này nghèo," cuối cùng lão lên tiếng, giọng khàn đục như đá cọ vào nhau. "Người thấp bé, răng nhuộm đen, chân trần lội bùn. Một ngàn năm giặc phương Bắc đè đầu cưỡi cổ, ép đổi họ, cấm xăm mình, bắt học chữ Hán để nuốt sống cái giống người Nam này."

Lão dừng lại, khạc một bãi đờm đặc xuống đống trấu, xèo một tiếng nhỏ.

"Vậy mà đất này vẫn còn là đất của người răng đen. Biết nhờ đâu không?"

Khánh lắc đầu.

"Nhờ tiếng chuông chùa đấy." Que tre trong tay lão gõ nhẹ xuống nền đất nện, từng nhịp một, như đang gõ theo một hồi chuông tưởng tượng. "Sớm một tiếng, chiều một tiếng, ngân qua ngút ngàn luỹ tre. Đứa chăn trâu hay ông già cấy lúa không biết một chữ bẻ đôi, nghe tiếng ấy mới nhớ mình là người xứ này, chết có nơi nương tựa, sống có cái gốc mà giữ. Không có tiếng chuông neo lại... thì giặc chưa tràn qua cõi, lòng người đã tự tan thành tro bụi từ lâu rồi."

Khánh im lặng nhìn đống than đỏ.

Cậu nhìn xuống hai bàn tay đầy vết cứa rớm máu của mình. Khúc kiếm đồng gãy rỉ xanh chôn dưới hốc đá ven sông Đáy bỗng hiện lên trong tâm trí — nặng trịch, lạnh ngắt, im lìm dưới lớp đất ẩm bao năm nay không ai động tới.

Lão Vô Ngôn hất một củ ấu khô nướng nứt vỏ sang mép chân Khánh, giọng trở lại vẻ cộc lốc thường ngày:

"Ăn đi rồi cút về chuồng trâu mà ngủ. Chuyện chuông với gươm để mấy kẻ mặc giáp với khoác cà sa họ lo. Sáng mai gánh thiếu một chuyến nước, thằng Viên Thông nó lại lột da mày."

HẾT CHƯƠNG 11

0