Chương 85: Bằng Chứng Và Giải Cứu
Bức thư đến vào giờ Dần, khi phủ còn tối và Phúc Bá vừa mới nổi lửa nấu nước. Người mang thư không phải học trò, không phải dân buôn, mà là một bà bán đậu phụ đội nón lá rộng vành, khệ nệ gánh hai thùng gỗ ướt nước qua cổng sau Hầu phủ. Bà dừng lại ở bếp, đặt gánh xuống, lấy từ trong thùng gỗ ra bốn bìa đậu phụ bọc lá chuối và một gói nhỏ bằng hai đốt ngón tay, gói giấy dầu buộc chỉ đỏ, kiểu gói thuốc bắc nhưng bên trong không có thuốc. Bà đưa cho Tiểu Hà, nói rằng đậu phụ tươi, bốn bìa ba đồng, còn gói nhỏ thì "chồng tôi bảo gửi cho Phúc lão". Nói xong bà gánh gánh đi ra, dép kéo trên đá ướt, lẹp bẹp, bình thường đến mức nếu có ai nhìn qua cổng cũng chỉ thấy một bà bán hàng rong giao sớm.
Tiểu Hà cầm gói nhỏ lên gác, đưa cho Phúc Bá. Lão mở ra, đọc, mặt không đổi, rồi xuống thư phòng gõ cửa.
Lan Chu đang ngồi đọc lại sổ ghi chép, đèn dầu cháy thấp, bát cháo nguội trên góc bàn chưa đụng đến. Anh ngẩng lên nhìn Phúc Bá và lão không nói gì, chỉ đặt mảnh giấy nhỏ lên bàn rồi đứng lùi ra.
Anh đọc. Nét chữ nhỏ và cứng, viết bằng mực loãng trên giấy bản mỏng, kiểu chữ của người quen viết sổ sách nhiều năm mà tay chai không cầm bút lông cho mềm được. Nội dung ngắn về Trần Mậu, thư lại Hộ bộ, mất chức ba tháng trước vì dính vào vụ chuyển ngân sách sai sổ cho phủ Ngũ Hoàng Tử. Người này bị đẩy ra ngoài không còn dùng được nữa, hiện đang uống rượu mỗi tối ở quán rượu ngõ Tây gần cổng chợ phía nam. Người viết thêm một dòng ở cuối:
"Hắn ta giữ thư từ cũ, không dám đốt, giấu trong ống tre bọc vải dưới giường."
Người viết là ai, Phúc Bá không cần nói và anh không cần hỏi. Đó là người bán đậu phụ kia, mà nói chính xác hơn thì là chồng bà ta, người từng là lính dưới quyền Hầu gia mười lăm năm trước, giải ngũ về nhà rèn cuốc, người mà Phúc Bá mang rượu Tết mười lăm năm không bỏ sót năm nào. Vợ ông ta rèn bán đậu phụ ở chợ sáng, quen mặt mọi người qua lại, trong đó có một viên thư lại Hộ bộ hay mua đậu phụ về nhắm rượu mỗi tối mà mặt ngày càng xanh và miệng ngày càng nhiều lời.
Người say thì nói mà người nói thì lộ, và người lộ mà không biết mình đang lộ thì nguy hiểm nhất cho chính họ.
Anh đặt mảnh giấy xuống, gõ ngón tay chậm lên bàn, một hai ba bốn. Trần Mậu, cái tên anh đã ghi từ nhiều tháng trước, từ đêm ở hoàng cung khi anh nhận ra tên thư lại Hộ bộ lọt vào danh sách Lễ bộ trong đúng ba ngày giữa hai phiên đàm phán với Ca Lặc. Hồi đó anh chỉ có cái tên và một suy đoán. Bây giờ anh có địa chỉ quán rượu, có ống tre bọc vải dưới giường, và có một người đã bị chủ vứt bỏ mà không đủ can đảm vứt bỏ bằng chứng.
"Phúc Bá."
Anh nói, không ngẩng đầu.
"Quán rượu ngõ Tây cổng chợ phía nam, lão có biết không?"
"Biết. Quán Trương béo, bán tới canh hai mới đóng cửa."
"Tối nay lão đi mua rượu ở đó. Mua thật, uống thật, ngồi lâu thật. Xem cái người hay ngồi góc trong uống một mình mặt xanh ấy có ở không, ngồi bàn nào, uống đến khi nào, đi về hướng nào, nhà ở ngõ nào. Đừng nói chuyện với hắn ta."
Phúc Bá gật đầu, quay đi.
"Phúc Bá."
Anh gọi lại.
"Mua rượu ngon, lão uống hết, mai viết cho tôi cái biên lai, tôi tính vào chi phí Hầu phủ."
Lão nhìn anh, nhận ra anh đang đùa, và mặt lão giãn ra nửa phân, kiểu giãn của người vui vì con rể Hầu phủ vẫn còn biết nói đùa trong lúc trời đất tối tăm nhất. Lão nói "vâng" rồi đi ra.
Ba ngày sau, Lan Chu ngồi trong quán rượu ngõ Tây, bàn góc phải, đối diện Trần Mậu.
Anh không đến với tư cách con rể Trấn Bắc Hầu. Anh mặc áo vải thường, đội khăn, trông như một thư sinh ngoại tỉnh lên kinh thành tìm việc mà tìm mãi chưa thấy, kiểu người ngồi quán rượu rẻ tiền không phải vì thích mà vì hết chỗ để đi. Phúc Bá đã xác nhận Trần Mậu ngồi bàn này mỗi tối từ giờ Dậu đến giữa canh hai, uống ba bình rượu, không nói chuyện với ai. Nhưng đến bình thứ ba thì Trần mậu bắt đầu lầm bầm, và người say mà lầm bầm thì chỉ cần ai đó ngồi xuống cạnh mà lắng nghe là sẽ nói ra hết.
Anh ngồi xuống cạnh, gọi rượu, không nhìn sang mà để Trần Mậu tự mở miệng.
Hắn mở miệng vào bình thứ ba. Ban đầu là chuyện thời tiết, rồi chuyện giá gạo tăng, rồi chuyện viên quan nào đó ở Hộ bộ mới lên chức mà "giỏi gì đâu, chỉ giỏi quỳ". Anh nghe, gật đầu, rót thêm rượu cho hắn, anh không hỏi, chỉ rót rượu, vì người cần nói thì không cần ai hỏi, chỉ cần ai lắng nghe.
Đến nửa bình thứ tư, hắn nhìn anh bằng mắt đỏ, hỏi:
"Anh là ai?"
"Thư sinh."
Anh nói.
"Lên kinh thi mà thi trượt, đang chờ khoa sau."
"Thi trượt à?"
Hắn cười, tiếng cười có vị rượu và vị cay đắng.
"Thi đỗ cũng vậy thôi. Đỗ rồi đi làm, làm rồi bị vứt. Mấy ông lớn dùng xong thì vứt, như vứt giẻ rách."
Anh rót thêm rượu và im lặng. Hắn uống, lau miệng, rồi nói tiếp, giọng thấp hơn, kiểu nói của người đã giữ lâu quá mà không có ai để nói:
"Tôi ở Hộ bộ mười hai năm. Mười hai năm đấy, sổ sách nào qua tay tôi cũng thẳng hàng. Rồi một ngày có người bảo chuyển khoản này sang sổ kia, ghi tên này thay tên kia, tôi làm vì tôi nghĩ đó là lệnh. Lệnh từ trên xuống thì thư lại chỉ có thể nghe theo. Xong rồi thì tôi thành người thừa, vì người biết quá nhiều thì giữ ở đâu cũng không yên, mà giết thì phiền, nên đẩy ra ngoài, cho ngồi đây uống rượu chờ chết."
Anh không nói gì. Anh không cần nói, vì hắn đang tự nói, và mỗi câu hắn nói đều khớp với những mảnh ghép anh đã xếp từ nhiều tháng trước: Hộ bộ chuyển ngân sách cho Ngũ Hoàng Tử, sổ sách bị sửa, và thư lại thực hiện đã bị vứt bỏ khi không còn giá trị sử dụng.
Nhưng chưa đủ, lời nói của kẻ say trong quán rượu không phải bằng chứng đưa lên triều đường. Anh cần thứ nằm trong ống tre bọc vải dưới giường Trần Mậu, thứ mà hắn không dám đốt, không dám giữ, nhưng cũng không dám vứt vì đó là thứ duy nhất chứng minh hắn không phải người duy nhất có tội.
Anh chờ đến khi Trần Mậu gục xuống bàn, ngáy nhẹ, rồi trả tiền rượu cho cả hai, đứng dậy, bước ra ngoài. Đêm kinh thành lạnh, gió mùa đông sắp đến luồn vào cổ áo, và anh đi bộ về Hầu phủ bằng đường vòng qua ba ngõ khác nhau để tránh người theo dõi. Mặc dù anh không chắc có ai theo dõi hay không, nhưng thận trọng thì sống, chủ quan thì chết, đó là bài học hắn dạy anh từ lâu rồi.
Về đến thư phòng, anh mở sổ ghi chép, viết lại mọi thứ Trần Mậu nói, từng câu, đúng từ, không thêm bớt. Rồi anh ngồi nhìn bản đồ chính trị trải trên bàn, nối thêm một đường từ Trần Mậu đến Hộ bộ, từ Hộ bộ đến Ngũ Hoàng Tử, và từ Ngũ Hoàng Tử ra ngoài biên giới đến Ca Lặc.
Đường nối đó mỏng, chỉ bằng một lời kể của kẻ say. Nhưng nếu ống tre dưới giường hắn có thứ anh nghĩ nó có, thì đường nối đó sẽ dày lên đủ để một tờ giấy có thể lật ngược cả bàn cờ.
Anh quay lại quán rượu ngõ Tây hai lần nữa, cách nhau ba ngày.
Lần thứ hai, Trần Mậu nhận ra anh, gọi "tên thư sinh thi trượt" bằng giọng nửa thân thiện nửa mỉa mai, rồi tự rót rượu mời vì lần trước anh trả tiền hộ. Anh uống ít vì anh không quen rượu và cũng không cần quen, chỉ cần đủ để Trần Mậu thấy anh uống cùng.
Lần này hắn nói nhiều hơn, nói về những bức thư đi từ bộ Hộ ra ngoài biên giới qua đường thương nhân tư, ghi là "giao dịch lương thảo tuyến bắc" nhưng bên trong có thứ khác. Hắn không hiểu hết, nhưng biết không phải lương thảo, vì lương thảo không cần ghi vị trí doanh trại và số quân đóng ở từng đồn. Hắn nói rằng hắn đã sao lại một bản, vì bản năng của người làm sổ sách mười hai năm là không bao giờ để tài liệu qua tay mà không giữ bản sao, "phòng khi có ngày cần". Hắn không biết "ngày cần" đó là ngày nào cho đến khi bị vứt ra ngoài. Lúc đó hắn mới hiểu bản sao là thứ duy nhất giữ hắn sống: nếu họ biết hắn có thì họ phải cân nhắc trước khi giết, mà nếu họ không biết thì hắn vẫn có thứ để thương lượng khi họ quay lại tìm.
Anh nghe, tim đập nhanh hơn bình thường nhưng mặt không đổi, vì anh đã tập kỹ năng này từ ba năm đầu trong Hầu phủ khi cô nhìn qua anh mà không thấy và anh phải giữ mặt bình thản để không ai đọc được anh đang nghĩ gì.
Lần thứ ba, anh đến sớm hơn và ngồi chờ. Trần Mậu đến muộn hơn bình thường, mặt hốc hác, mắt quầng thâm, kiểu mặt của người không ngủ được nhiều đêm liên tiếp. Hắn ngồi xuống, không gọi rượu ngay, nhìn anh lâu.
"Anh không phải thư sinh thi trượt."
Hắn nói, giọng tỉnh hơn mọi khi.
Anh nhìn hắn, và quyết định không nói dối nữa, vì hắn đã nghi thì nói dối chỉ mất người, mà anh cần hắn tin chứ không cần hắn sợ.
"Tôi là Tiết Lan Chu."
Anh nói nhẹ.
"Con rể nhà Trấn Bắc Hầu."
Trần Mậu giật mình, ghế xê dịch, mắt nhìn ra cửa quán như tính đường chạy. Nhưng hắn không chạy, vì chạy thì chạy đi đâu, về nhà thì một mình, ra đường thì không có ai quen, và cả kinh thành này hắn không có lấy một người để gõ cửa lúc nửa đêm.
"Ngồi yên."
Anh nói, giọng vẫn nhẹ, không ra lệnh, không đe dọa.
"Tôi không phải người Ngũ Hoàng Tử gửi đến. Nếu hắn biết anh giữ bản sao, anh đã không ngồi đây uống rượu mỗi tối."
Trần Mậu ngồi lại chậm chạp, tay nắm chặt mép bàn. Hắn nhìn anh bằng mắt người đã quen bị phản bội, quen bị dùng, và đang cân nhắc xem lần này có khác không.
"Anh cần gì?"
Hắn hỏi.
"Bản sao."
Anh nói.
"Bức thư từ Hộ bộ gửi ra biên giới có thông tin vị trí doanh trại. Tôi cần xem."
"Rồi sao?"
"Rồi anh không phải ngồi đây uống rượu chờ chết nữa."
Trần Mậu im lặng. Quán rượu ồn ào xung quanh nhưng bàn này yên tĩnh đến mức anh nghe được tiếng Trần Mậu nuốt nước bọt. Hắn nhìn anh thật lâu, kiểu nhìn của người đang tìm trong mắt đối phương thứ gì đó đáng tin mà không biết thứ đó trông như thế nào. Rồi hắn nói:
"Tôi về lấy. Anh đợi."
"Không."
Anh lắc đầu.
"Anh không mang ra đây. Nửa đêm nay, đặt ở quầy hàng bà Lý bán đậu phụ ở chợ phía nam, trong gói lá chuối, kẹp giữa hai bìa đậu phụ. Sáng mai bà ấy giao hàng về Hầu phủ, tôi nhận."
Trần Mậu nhìn anh. Trong ánh đèn dầu quán rượu rẻ tiền, anh thấy trong mắt hắn thứ gì đó thay đổi, từ sợ sang hiểu, vì hắn nhận ra rằng người ngồi trước mặt hắn đã biết bà bán đậu phụ là ai, biết đường giao hàng đi như thế nào, biết cả ống tre dưới giường hắn trước khi hắn tự kể. Và Trần Mậu hiểu ra rằng hắn không phải người được chọn ngẫu nhiên mà là mảnh ghép cuối cùng trong một bức tranh đã vẽ gần xong từ lâu.
"Anh bảo vệ được tôi không?"
Hắn hỏi, câu hỏi cuối cùng, câu hỏi thật sự. Anh nhìn hắn và nghĩ đến Phúc Bá mười lăm năm mang rượu Tết, nghĩ đến cậu học trò chạy mất dép, nghĩ đến Hầu gia đứng dậy được lần đầu trong ba tháng vì anh nhờ. Anh cũng nghĩ đến Chu Đình Nghiêu gửi bốn cái tên qua cuốn sách kẹp giấy. Tất cả những người đó tin anh và nếu anh không bảo vệ được Trần Mậu thì anh cũng không bảo vệ được ai trong số họ.
"Tôi bảo vệ được."
Anh nói, không giải thích thêm, vì lời hứa không cần dài. Trần Mậu gật đầu một cái rồi đứng dậy, để lại chén rượu còn nửa trên bàn, lần đầu tiên trong nhiều tháng bỏ dở giữa chừng mà không phải vì say.
Anh ngồi lại một mình, nhìn chén rượu nửa vơi của Trần Mậu, rồi nhìn ra cửa quán, nơi bóng hắn đã mất hút trong đêm. Anh uống nốt chén rượu của mình, cảm giác đắng, rồi trả tiền, bước ra ngoài, đi về Hầu phủ bằng đường vòng qua ngõ khác lần trước.
Sáng hôm sau, bà bán đậu phụ gánh gánh vào cổng sau Hầu phủ, bốn bìa đậu phụ bọc lá chuối, ba đồng. Trong bìa thứ ba, kẹp giữa hai lớp lá, một mảnh vải cuộn nhỏ bằng ngón tay, bên trong là hai tờ giấy gấp mỏng.
Tiểu Hà mang lên, anh nhận, đóng cửa thư phòng. Sau đó anh mở ra.
Tờ thứ nhất là bản sao thư gửi từ Hộ bộ ra ngoài biên giới, ghi ngày, ghi tên thương nhân vận chuyển, ghi nội dung là "phối hợp lương thảo tuyến bắc". Nhưng bên trong, giữa những dòng ghi về số lượng gạo và muối, có ba dòng viết bằng mật mã đơn giản mà Trần Mậu đã giải ra và chú thích bên lề bằng chữ nhỏ: vị trí đồn Bạch Lộ, số quân đóng tại hai trạm tiền tiêu, và lịch tuần tra thay đổi theo tháng. Thông tin quân sự nằm xen giữa số liệu lương thảo, kiểu giấu kim trong bông mà chỉ người biết tìm mới thấy được.
Tờ thứ hai là bản sao bút phê của người ra lệnh, ghi chú bên lề tờ trình mà Trần Mậu đã sao lại trước khi nộp bản gốc. Nét chữ trên bút phê, anh nhận ra ngay đấy không phải chữ Trần Mậu, không phải chữ quan Hộ bộ thường, mà là nét chữ hắn đã thấy trên tấu chương ở triều đường. Đó là nét chữ nghiêng sang phải đặc trưng mà hắn đã ghi nhận từ nhiều tháng trước khi đứng hàng sau cùng chờ thụ phong và nhìn viên quan phía trước đọc văn bản. Chữ của Ngũ Hoàng Tử, bút phê ghi:
"Theo đúng danh sách. Gửi qua Liễu gia, không lưu sổ."
Mệnh lệnh không lưu sổ nhưng Trần Mậu đã lưu.
Anh đặt hai tờ giấy xuống bàn, hai tay úp lên và ngồi im. Tay anh run nhưng không phải sợ. Tay anh run vì trong đầu anh đang tính toán về thông tin vị trí doanh trại này gửi đi từ tháng nào, Ca Lặc nhận được bao lâu sau đó, và trận nào ở biên cương trong sáu tháng qua xảy ra vì Ca Lặc biết trước quân Đại Tần đóng ở đâu. Anh nghĩ đến lá thư Chinh Vũ gửi về sau trận thung lũng Bạch Lộ, nội dung thư ngắn, giọng gọn gàng, nhưng anh đọc giữa các dòng và thấy cô mất quân ở đoạn đường mà theo lý không ai biết cô sẽ đi. Ca Lặc biết vì có người nói cho hắn biết, và người nói cho hắn biết vì có người ở kinh thành gửi ra. Mà người ở kinh thành gửi ra vì Ngũ Hoàng Tử ra lệnh và lệnh đó đi qua tay Trần Mậu, qua sổ sách Hộ bộ, qua thương nhân họ Liễu, và đến tận thảo nguyên.
Bao nhiêu binh lính chết vì ba dòng mật mã kẹp giữa số liệu lương thảo.
Anh nhấc tay lên, nhìn hai tờ giấy mỏng trên bàn, mỏng đến mức gió thổi bay được, nhưng nặng đến mức đủ để đè sập phủ đệ một vị hoàng tử.
Rồi anh gấp hai tờ giấy lại, bọc vào mảnh vải cũ và mở ngăn bàn khóa, rồi đặt vào cạnh mật chiếu tiên hoàng và tấm bản đồ chính trị. Ba thứ nằm cạnh nhau trong ngăn bàn là bản đồ anh vẽ trong ba năm, mật chiếu hoàng đế trao, và bằng chứng một viên thư lại say rượu giữ lại vì không dám đốt.
Ba thứ đó gộp lại, anh đã có đủ để lật bàn cờ nhưng chưa phải lúc. Ngũ Hoàng Tử đang kiểm soát triều đình, phó tướng cấm vệ canh gác hoàng cung. Quân của hắn dày hơn quân anh ở mọi mặt trận, và nếu anh tố bây giờ thì hắn sẽ gọi đó là "ngụy tạo", sẽ ra lệnh bắt người. Dĩ nhiên, không ai ở triều đường dám đứng lên nói "không" vì người dám nói thì đang nằm trong ngục hoặc đang bị nhốt trong nhà.
Anh cần cứu Lục Kính Đường trước, cần di chuyển Chu Đình Nghiêu trước, cần đặt quân cờ vào đúng vị trí trước khi lật bàn, vì lật bàn mà không có ai đỡ thì bàn đổ lên đầu mình.
Tiểu Hà mang trà chiều vào, đặt xuống góc bàn, nhìn mặt anh. Cô bé không hỏi gì mà đi ra.
Anh khóa ngăn bàn, cất chìa khóa, rồi gọi Phúc Bá.
Giải cứu Lục Kính Đường mất bảy ngày. Không phải bảy ngày hành động, mà là năm ngày chuẩn bị và hai ngày thực hiện, vì anh biết rằng trong chuyện này sai một bước thì mất tất cả. Mà "tất cả" không chỉ là kế hoạch mà là mạng người, mạng cậu học trò, mạng cha cậu ta, mạng Lục Kính Đường, và mạng chính anh.
Mạng lưới giải cứu bắt đầu từ cậu học trò mười sáu tuổi, cậu bé chạy mất dép hôm trước, cậu bé mà anh đã dặn "về nhà, đừng làm gì khác biệt". Bây giờ anh gọi cậu lại, gọi vào thư phòng, đóng cửa, và nói với cậu bằng giọng bình thường nhất có thể, vì anh không muốn cậu bé sợ:
"Thầy cần em làm một việc. Việc này nguy hiểm, em có quyền nói không."
Cậu học trò không nói không. Cậu bé hỏi:
"Anh trai con có sao không?"
"Anh trai em sẽ an toàn nếu em làm đúng những gì thầy nói."
Cậu học trò gật đầu, và anh thấy trong mắt cậu không phải sự liều lĩnh mà là sự tin tưởng, kiểu tin tưởng của học trò với thầy giáo của mình. Anh nghĩ rằng đây chính là lúc trường học của anh trả về thứ mà anh không tính khi mở trường: không phải mạng lưới tin tức, không phải uy tín, mà là lòng tin của những người mà anh đã dạy cách kể chuyện, cách đọc sách, cách nghĩ trước khi sợ.
Kế hoạch ngắn gọn, cậu học trò nhắn anh trai rằng đêm nào phiên trực canh ngục Hình Bộ có tên Đinh Quý thì báo cho cậu biết. Phúc Bá liên lạc ông thợ rèn, ông thợ rèn nhắn Đinh Quý rằng có người nhờ. Đinh Quý là người canh ngục hơn mười năm mà lương không đủ mua gạo cho vợ con, không nhận tiền mà chỉ hỏi một câu:
"Người đó là người của Hầu gia hả?"
Phúc Bá nói:
"Phải."
Đinh Quý không hỏi thêm, vì với người lính cũ, Hầu gia là Hầu gia, và ba chữ đó nặng hơn mọi lý do.
Đêm thứ sáu, phiên trực của Đinh Quý bắt đầu từ canh hai đến canh năm. Canh ba là lúc tối nhất và vắng nhất, lính đổi ca vừa xong, lính mới vào chưa tỉnh hẳn. Hành lang ngục Hình bộ phía đông, hành lang chung với Công bộ mà Phúc Bá đã hỏi ra từ tuần trước, có một cánh cửa phụ dẫn ra ngõ hẹp phía sau mà ban ngày dùng để đổ rác và ban đêm không ai qua.
Đinh Quý mở khóa xà lim Lục Kính Đường lúc đầu canh ba. Đinh Quý không nói tên mình, không nói ai gửi, chỉ nói:
"Theo tôi."
Lục Kính Đường đứng dậy, lưng vẫn thẳng dù đã ngồi trong xà lim hơn hai tuần. Mắt ông ta không né tránh mà nhìn Đinh Quý một lúc, rồi bước theo mà không hỏi, vì ông là một người lính và người lính biết phân biệt người cứu và người bẫy bằng cách nhìn mắt của họ. Ở đây, mắt Đinh Quý nhìn ông bằng cách binh lính nhìn đội trưởng cũ chứ không phải cách cai ngục nhìn tù nhân.
Ra cánh cửa phụ phía đông, ngoài ngõ hẹp, Phúc Bá đứng chờ, cạnh xe kéo một ngựa, trên xe phủ bạt, bên trong lót rơm. Lục Kính Đường leo lên, nằm xuống, Phúc Bá phủ bạt, đánh xe đi.
Không ai nói gì trong suốt đường đi. Xe qua cổng thành phía tây lúc trời chưa sáng, lính gác cổng thành nhìn qua bạt thấy rơm, thấy mặt lão già gầy guộc đánh xe, liền hỏi:
"Chở gì?"
Phúc Bá nói:
"Rơm cho bò. Nhà ở ấp phía tây, bò sắp đẻ, cần rơm lót."
Lính gác nhìn lão, thấy lão già quá để nghi ngờ nên vẫy tay cho đi.
Hai dặm ngoài cổng thành, nhà thợ rèn, sân sau rộng, tường cao và kín. Lục Kính Đường bước xuống xe rồi nhìn xung quanh và nhìn Phúc Bá. Phúc Bá cúi đầu nói:
"Công tử Lan Chu gửi lời. Lục tướng quân ở đây, nghỉ ngơi ăn uống, chờ tin."
Lục Kính Đường nhìn lão một lúc lâu rồi nói, giọng khàn vì hai tuần không nói gì trong ngục: "Tiết Lan Chu."
Ông nhắc lại cái tên, như thể đang xếp nó vào một chỗ nào đó trong đầu mà trước đây chưa có chỗ.
"Biên tu đứng hàng cuối ngày hôm đó."
"Dạ."
Phúc Bá gật đầu.
Lục Kính Đường không nói thêm. Ông ta bước vào nhà, ngồi xuống ghế trong sân sau, lưng thẳng. Vợ ông thợ rèn mang ra một bát cháo nóng mà ông ăn hết sạch không để lại một hạt, vì hai tuần trong ngục ông ăn ngày một bữa cơm nguội và ông không phàn nàn vì ông là lính và lính thì ăn gì cũng được. Nhưng cháo nóng có gừng thì khác, cháo nóng có gừng là thứ người bình thường nấu cho người bình thường, và trong ngục ông không phải người bình thường.
Việc giải cứu Chu Đình Nghiêu khó khăn hơn. Không phải vì lão thần bị canh kỹ hơn, mặc dù tám người canh thì kỹ hơn thật, mà là vì ông không phải kiểu người chịu nghe lời chạy trốn mà không hỏi tại sao, hỏi ai ra lệnh, và kế hoạch toàn cục là gì. Ông là Tả Tướng Quốc, ông ta không leo lên xe rơm giấu dưới bạt, ông cần biết mình đang bước vào bàn cờ nào trước khi bước.
Lan Chu gửi thư cho ông bằng cách cũ: gia nhân mang sách đi đổi ở trường, trong cuốn sách trả lại kẹp giấy nhỏ. Lần này thư dài hơn mảnh giấy trước, nhưng vẫn viết bằng chữ li ti phải soi dưới đèn mới đọc. Nội dung là Lục Kính Đường đã thoát ra, đang ở ngoài thành. Anh có bằng chứng Ngũ Hoàng Tử câu kết Ca Lặc. Anh có mật chiếu tiên hoàng. Anh cần ông ra khỏi phủ của mình trước khi Ngũ Hoàng Tử ra tay, vì nếu ông ở trong phủ mà hắn quyết định xử lý thì tám người canh sẽ thành tám tên đao phủ. Một lão thần "đột ngột bệnh nặng qua đời" trong thời loạn thì không ai điều tra. Chu Đình Nghiêu ra ngoài, tập hợp đại thần trung thành, chuẩn bị và chờ anh phát tín hiệu.
Thư kết bằng một dòng:
"Vãn bối không dám dạy Chu tướng quốc cách chơi cờ. Vãn bối chỉ xin tướng quốc cho thêm một quân trên bàn."
Thư trả lời đến hai ngày sau, cũng qua cuốn sách, cũng mảnh giấy li ti. Nội dung ngắn hơn thư anh gửi, vì Chu Đình Nghiêu là người nói ít viết ít:
"Lão phu đi. Bao giờ?"
Phúc Bá đã sắp xếp xong. Lão không dùng xe rơm lần này, vì dinh Chu Đình Nghiêu nằm trong nội thành, không có cổng sau ra ngõ hẹp. Ngoài ra, tám người canh gác phủ ông ta đổi ca đều đặn không có kẽ hở rõ ràng. Nhưng Phúc Bá tìm ra một kẽ hở mà không phải kẽ hở trong lịch canh mà là kẽ hở trong thói quen. Cứ ngày rằm đầu tháng, phủ Chu Đình Nghiêu mở cửa cho nhà chùa gần đó đến tụng kinh cho phu nhân đã mất. Chu Đình nghiêu đã giữ lệ này hai mươi năm không bỏ sót tháng nào, và Ngũ Hoàng Tử không cấm vì cấm nhà sư tụng kinh cho người chết thì mang tiếng, và mang tiếng thì mất lòng dân.
Ngày rằm, bốn nhà sư vào dinh, ba nhà sư ra. Người thứ tư ở lại "tụng kinh thêm cho phu nhân" theo lời xin của gia nhân. Lính canh gác ghi vào sổ là "bốn vào, ba ra, một ở lại", tất cả đúng số, không sai. Nhưng người ở lại tụng kinh không phải nhà sư thứ tư mà là Chu Đình Nghiêu mặc áo cà sa trùm đầu, và nhà sư thứ tư thật sự đã ở lại trong dinh, nằm trên giường ông, đắp chăn, giả bệnh. Nhà sư này là sư huynh của một cậu học trò khác trong trường Lan Chu dạy. Chùa đó hai mươi năm trước suýt bị thu đất, chính Chu Đình Nghiêu khi đó còn là thị lang đã chặn lệnh thu hồi bằng một bản tấu lên triều. Kết quả chùa giữ được đất, nhà sư giữ được chỗ tụng kinh. Hai mươi năm sau, khi cậu em trai học trò đến nói sư huynh rằng lão thần đó cần giúp, vị sư huynh gật đầu, ông ta không hỏi lý do mà vì lý do đã có từ hai mươi năm trước.
Một nhà sư trùm đầu bước ra cổng dinh lúc chiều muộn, lính canh không nhìn kỹ mặt vì nhà sư nào cũng giống nhau khi trùm áo, và người đó rẽ về phía chùa. Hai ngã rẽ sau, ông ta đi vào ngõ nhỏ. Ở cuối ngõ, Phúc Bá đứng chờ cạnh xe lừa chở rau.
Chu Đình Nghiêu cởi áo cà sa, gấp gọn, đặt lên xe, rồi ngồi cạnh lão quản gia, mặt như đá tảng không hề đổi sắc.
Xe qua cổng thành phía tây lúc chiều muộn, lính gác hỏi, Phúc Bá nói "bố vợ". Còn Chu Đình Nghiêu ngồi im trên xe lừa chở rau, mặt đá tảng, trông đúng như một ông bố vợ già mà không cần diễn. Vì ông là kiểu người ngồi đâu cũng như ngồi trên triều đường, và kiểu đó thì lính gác không nghi ngờ vì lính gác chỉ nghi ngờ người trông có vẻ sợ hãi, không nghi người trông như đang chấm thi cả thiên hạ.
Lính gác vẫy tay cho đi. Phúc Bá đánh xe lừa đến nhà bà góa bán thuốc bắc cách nhà thợ rèn nửa dặm, Chu Đình Nghiêu bước xuống, ngồi uống trà, mặt đá tảng như cũ. Trong đầu ông đang nhẩm lại bốn cái tên đại thần ông đã gửi cho Lan Chu qua cuốn sách kẹp giấy nhiều tuần trước.
"Thằng nhóc con rể Tầm gia."
Ông nói, giọng khàn nhưng rõ và Phúc Bá thuật sau đó lại đúng từng chữ với anh.
"Lão từng nghĩ hắn chỉ là thư sinh. Bây giờ lão nghĩ hắn là thư sinh biết đánh cờ."
Tối hôm đó, Lan Chu ngồi trong thư phòng, đèn dầu cháy thấp, cửa đóng.
Hai việc đã xong. Lục Kính Đường ở nhà thợ rèn ngoài thành. Chu Đình Nghiêu ở nhà bà góa bán thuốc bắc, cách đó nửa dặm. Hai người chưa gặp nhau, chưa cần gặp và sẽ gặp khi đúng lúc.
Bằng chứng trong ngăn bàn, quân cờ đã ở vị trí nhưng anh chưa thể đánh.
Anh mở sổ ghi chép, nhìn bản đồ chính trị đã vẽ đi vẽ lại nhiều lần trong ba năm, và bây giờ bên mình của bản đồ đã dày hơn tuần trước. Lục Kính Đường ở ngoài thành, Chu Đình Nghiêu ở ngoài thành, Hầu gia trong phòng đã tự đi được mười bước, Thái Hậu trong cung chưa liên lạc được nhưng đường hầm Phúc Bá biết vẫn còn. Và ở biên cương, Chinh Vũ đang đánh Ca Lặc, đang hòa, đang thiếu lương, đang đợi viện binh mà kinh thành không gửi.
Anh nghĩ đến cô ở đầu kia khoảng cách, mặc giáp đứng trên gò đất nhìn Ca Lặc qua nửa dặm. Anh nghĩ rằng hai vợ chồng đang đánh hai bàn cờ khác nhau ở hai đầu thiên hạ, cô đánh bằng kiếm và đầu, anh đánh bằng mực và giấy, và cả hai đều đang thua nhưng cả hai đều chưa từ bỏ.
Anh nhìn vào hộp gỗ trên bàn, chỗ cất thư cô gửi. Rồi anh mở ra, lấy bức gần nhất và đọc lại. Thư ngắn, giọng gọn, kết bằng một dòng:
"Đừng chết."
Anh gấp thư, cất lại, rồi viết thư trả lời. Anh viết về thời tiết kinh thành, về Hầu gia hôm nay ăn được bát cháo lớn hơn hôm qua, về Tiểu Hà mua được mấy cân đậu phụ ngon ở chợ sáng. Lan Chu không viết về Trần Mậu, không viết về ống tre dưới giường, không viết về Lục Kính Đường trong xe rơm, không viết về Chu Đình Nghiêu mặc áo cà sa. Tất cả anh không viết vì cô đang cầm kiếm ở biên cương và cô không cần biết thêm một gánh nặng nữa, cô chỉ cần biết anh vẫn ở đây, phía sau vẫn có người giữ vững trận địa cho cô.
Dòng cuối anh viết:
"Mì đã nấu sẵn. Nàng về lúc nào cũng có."
Rồi anh gấp thư laị và đóng phong, đặt lên góc bàn. Sau đó anh nằm xuống, kéo chăn lên ngực rồi nhắm mắt.
Trong bóng tối, anh nghe tiếng Hầu gia trở mình ở phòng bên, nghe gió luồn qua khe cửa sổ mang theo hơi lạnh đầu đông. Ở rất xa, ngoài tường phủ, tiếng trống canh đầu vọng vào nhẹ đến mức phải nín thở mới nghe thấy.
Anh nghĩ đến bức thư cô gửi, hai chữ cuối "đừng chết". Anh nghĩ rằng cô viết hai chữ đó cho anh nhưng người đang cần hai chữ đó hơn là cô.
Rồi anh mở mắt, nhìn sang góc phòng nơi Tiểu Hà để khay trà chiều chưa dọn, và nhẩm trong đầu quãng đường từ hầm cũ đến cổng cung mất bao lâu nếu đi lúc canh ba.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.