Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 84: Ca Lặc Đọc Được Chinh Vũ

Đăng: 15/08/2026 00:18 2,581 từ 1 lượt đọc

Đầu thủ lĩnh Đạt Lỗ đến trước tin báo. Lý Hữu mang nó về trong một chiếc hộp gỗ nhỏ không đậy nắp, hộp đặt trên lưng ngựa. Khi cậu ta bước vào lều chỉ huy thì mặt cậu trắng hơn vải tang, tay cầm hộp run, nhưng cậu vẫn cúi đầu trình bằng hai tay.

Chinh Vũ nhìn vào hộp. Mặt Đạt Lỗ già hơn cô tưởng, nếp nhăn quanh mắt sâu, da rám nắng kiểu người sống cả đời ngoài trời. Miệng ông hơi mở như đang định nói gì đó mà chưa kịp nói. Cô nhận ra khuôn mặt đó dù chưa gặp, vì gã cháu họ đến đàm phán tuần trước có cùng đường xương hàm, cùng cái nhìn thẳng không né.

Trong hộp, ngoài đầu của Đạt Lỗ ra còn có một sợi dây da buộc ba nút, cùng sợi dây cô đã nhận qua bao muối lần đầu. Ca Lặc gửi lại sợi dây đó để cô biết rằng hắn đã biết.

Cô đặt hộp xuống bàn nhẹ rồi ra lệnh cho Lý Hữu:

"Gọi phó tướng vào, rồi đi rửa tay."

Lý Hữu cúi đầu đi ra. Cô ngồi một mình trong lều với cái đầu của người mà cô đã viết thư gửi cùng bao muối, người mà cô hứa sẽ cho lý do để đứng ngoài. Bây giờ lý do duy nhất ông đứng ngoài là vì ông không còn đứng được nữa.

Cô không nhìn lại hộp. Cô nhìn vào bản đồ trên bàn, chỗ có ba vòng tròn vụng về mà cô vẽ bằng bút và hai chữ "kẽ nứt" nhỏ xíu bên cạnh. Vòng tròn lớn nhất, vòng quanh vị trí Khiết Đan, bây giờ chỉ còn là mực trên giấy.

Cô lấy bút, gạch chéo vòng tròn đó. Tay cô không run, vì run không giúp gì, nhưng nét gạch chéo sâu hơn cần thiết, ấn mạnh đến mức mực thấm qua giấy.

Tin chi tiết đến sau đó nửa ngày, qua thương nhân chạy từ biên giới phía đông. Ca Lặc đã gửi ba trăm kỵ binh đến lãnh địa Khiết Đan ba ngày trước. Bọn chúng không đánh, không vây, chỉ cưỡi ngựa chạy quanh doanh trại Khiết Đan một vòng rồi dừng lại. Ca Lặc đích thân đi cùng. Hắn vào lều Đạt Lỗ, ngồi xuống, uống trà do chính tay Đạt Lỗ rót, nói chuyện nhẹ nhàng, hỏi thăm ngựa, hỏi thăm gia đình, hỏi thăm sức khỏe, rồi hỏi tại sao tuần trước có thương nhân Đại Tần mang thư đi vào lãnh địa Khiết Đan mà thủ lĩnh không báo cáo.

Đạt Lỗ nói không có thư nào. Ca Lặc cười, nói rằng ta biết có, ngươi biết có, hai người đều biết có mà một người nói không thì người nói không phải chịu hậu quả. Liên minh có luật và luật nói rằng ai liên lạc với kẻ thù mà không báo thì là phản bội.

Đạt Lỗ im lặng. Rồi ông nói, chậm, bằng giọng của người đã chăn ngựa cả đời và biết rằng ngựa hoang thì thuần được nhưng sói đói thì không:

"Ta không phản bội ai. Ta chỉ muốn buôn muối."

Ca Lặc gật đầu, nói rằng ta hiểu, rồi rút kiếm.

Thương nhân kể rằng hắn giết Đạt Lỗ ngay trong lều, trước mặt vợ con ông, ra tay nhanh, một nhát duy nhất. Sau đó hắn đứng trước toàn bộ chiến binh Khiết Đan, kiếm còn dính máu, nói bằng giọng bình thản rằng thủ lĩnh mới của Khiết Đan sẽ do hắn chỉ định. Bất kỳ ai muốn buôn muối với Đại Tần thì cứ tự do, chỉ cần mang đầu đi đổi.

Hai bộ lạc nhỏ phía đông nam nghe tin, không ai nói gì nữa. Dây da ba nút trở thành thứ không ai dám nhắc.

Phó tướng vào lều, nhìn cái hộp trên bàn, mặt tái đi một nhịp rồi lấy lại bình thường. Cô bảo ông ta mang hộp đi chôn cất đàng hoàng vì người trong hộp đó không phải kẻ thù. Rồi cô trải bản đồ ra, nhìn lại toàn cảnh.

Ca Lặc đã bịt kẽ nứt phía đông nhanh hơn cô tính. Hắn không chỉ giết Đạt Lỗ mà giết luôn cái ý tưởng rằng bất kỳ bộ lạc nào có thể đứng ngoài mà không trả giá. Hắn dùng một cái đầu để nói với cả liên minh rằng ta biết ai nói chuyện với ai, ta biết trước khi các ngươi kịp nghĩ đến chuyện phản và ta không chờ.

Cô nhìn bản đồ và hiểu rằng Ca Lặc không chỉ đọc được nước cờ ngoại giao của cô mà đọc được cả cách cô nghĩ. Hắn biết cô đang học cách đánh mới, và thay vì chờ cô hoàn thiện cách đánh đó, hắn phá ngay khi cô mới bắt đầu, đúng kiểu người chơi cờ giỏi. Hắn không đợi đối thủ xây xong thế trận rồi mới phá, mà phá từ lúc đối thủ mới đặt quân đầu tiên.

Hồi ở kinh thành, trong xe ngựa sau tiệc Hồng Lô Tự, cô nói với anh rằng Ca Lặc phân loại cô là kiếm. Bây giờ cô biết hắn đã cập nhật: hắn biết cô không chỉ là kiếm nữa, hắn biết cô đang cố thêm đầu óc vào kiếm, và hắn quyết định chặt phần đầu trước khi nó phát triển đủ lớn.

Cô ngồi trước bản đồ rất lâu, lâu đến mức trời tối mà cô không nhận ra cho đến khi phó tướng vào thắp đèn dầu. Cô nhìn đèn cháy, nhìn ánh lửa nhảy trên mặt giấy, và suy nghĩ.

Cô đã mất Đạt Lỗ, mất Khiết Đan, mất hai bộ lạc đông nam. Nước cờ ngoại giao duy nhất cô chơi, nước cờ đầu tiên cô chơi bằng đầu thay vì bằng tay, đã bị Ca Lặc xóa sạch trong một buổi chiều bằng một nhát kiếm.

Nhưng cô không quay lại kiểu cũ. Cô không thể quay lại kiểu cũ, vì kiểu cũ đã thua ở thung lũng Bạch Lộ, đã hòa ở hai trận sau, và sẽ tiếp tục thua nếu cô cứ chỉ vung kiếm mà không suy nghĩ. Đạt Lỗ chết không phải vì cô sai, mà vì Ca Lặc nhanh hơn, và nhanh hơn thì phải bị đánh bằng cách khác, không phải bằng cách bỏ cuộc.

Cô lật bản đồ sang mặt sau, lấy bút và bắt đầu viết. Không phải viết thư, không phải vẽ vòng tròn, mà viết ra tất cả những gì cô biết về Ca Lặc. Từ cách hắn xếp quân, cách hắn chọn thời điểm, cách hắn phản ứng khi bị tấn công bất ngờ, cách hắn xử lý Đạt Lỗ, và từ tất cả những mảnh đó cô cố ghép ra một bức tranh hoàn chỉnh về cách hắn ta suy nghĩ.

Hắn luôn đánh vào chỗ đau nhất nhanh nhất. Hắn không cho đối thủ thời gian chuẩn bị. Hắn dùng sợ hãi làm vũ khí trước khi dùng kiếm. Và hắn chỉ đánh khi hắn chắc thắng, không bao giờ liều.

Cô dừng bút ở điểm cuối. Không bao giờ liều, đó là sức mạnh của hắn, nhưng cũng là giới hạn. Hắn chỉ đánh khi chắc thắng nghĩa là hắn sẽ không đánh khi không chắc. Nếu cô tạo ra một tình huống mà hắn không tính được kết quả thì hắn sẽ chờ và chờ thì hắn mất thế chủ động.

Cô chưa biết tình huống đó là gì nhưng cô biết nó tồn tại, vì không ai trên đời giỏi đến mức không có lỗ hổng. Lỗ hổng của Ca Lặc nằm ở chỗ hắn quá thông minh để liều.

Cô gấp bản đồ rồi cất đi và bước ra ngoài lều gọi phó tướng.

"Sáng mai đánh."

Cô nói.

"Nhưng lần này khác."

Trận sáng hôm sau, cô không xông trực diện. Cô chia quân thành bốn cánh nhỏ thay vì ba cánh lớn, rải rộng hơn bình thường, và ra lệnh cho mỗi cánh đánh rồi rút, rút rồi đánh, không giữ đất, không cố chọc thủng đội hình, chỉ quấy rối và kéo dài. Đánh kiểu mà cô ghét nhất vì nó không dứt khoát, nhưng đánh kiểu mà Ca Lặc không quen đối phó vì hắn đã xây chiến thuật trên giả định rằng cô sẽ luôn xông thẳng.

Ca Lặc phản ứng nhanh, hắn điều quân chặn từng cánh, nhưng bốn cánh nhỏ linh hoạt hơn ba cánh lớn. Mỗi lần hắn chặn xong một cánh thì cánh khác đã đánh vào chỗ trống. Trận kéo dài từ sáng đến chiều, không có đỉnh điểm, không có khoảnh khắc quyết định, cả hai bên đều mất quân mà không ai mất đủ nhiều để gọi là thua. Giữa chiều, cô cưỡi ngựa lên gò đất phía tây nhìn sang và thấy Ca Lặc trên gò đất phía bắc, cách cô chừng nửa dặm. Cô ngồi trên ngựa, không ra lệnh đuổi, chỉ nhìn hắn. Hai người nhìn nhau qua khoảng cách mà cung tên không tới và cô đọc được trong cái nhìn đó một thứ mà cô chưa thấy ở hắn trước đây. Hắn không chắc cô đang làm gì và không chắc thì hắn đứng yên.

Chiều tối, cô rút quân về đồn, Ca Lặc cũng rút. Trận chiến hòa trên giấy.

Nhưng trận hòa này khác ba trận trước. Ba trận trước cô hòa vì không thắng được hắn. Trận này cô hòa vì cô chọn hòa, vì cô đang thử, đang đọc hắn, đang tìm lỗ hổng. Lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh bắt đầu, cô cảm thấy mình đang đánh cờ với hắn thay vì đánh kiếm với hắn.

Tối đó, Vương Hắc gửi thư từ hậu phương. Thư vẫn ngắn như mọi khi. Chữ ông ta vẫn to và xấu, viết bằng tay trái vì chân đau nên ngồi không vững phải tựa vào:

"Tướng quân, ta nghe trận hôm nay hòa, nghe nói tướng quân chia bốn cánh đánh quấy rối thay vì ba cánh đánh thẳng. Ai dạy tướng quân đánh kiểu đó? Hầu gia không dạy vậy, lão phu cũng không dạy vậy. Nhưng trận hòa mà Ca Lặc không đuổi thì tốt hơn trận thắng mà Ca Lặc đã tính trước. Ta gửi kèm một hũ muối Đào Nương mang từ chợ biên giới, nghe nói trong đồn đang thiếu."

Cô đọc thư, dừng ở câu "trong đồn đang thiếu" và cảm giác cái lạnh trong lồng ngực.

Muối đang thiếu cũng như lương đang thiếu. Đợt tiếp tế từ kinh thành tháng này chậm hai tuần, đợt trước chậm một tuần. Nếu đợt sau không đến thì kho lương đồn Bạch Lộ chỉ đủ cho ba vạn quân thêm sáu tuần, có thể ít hơn nếu thời tiết xấu và ngựa cần thêm cỏ khô. Cô đã gửi công văn về kinh thành yêu cầu đẩy nhanh tiếp tế, nhưng công văn đi qua Hộ bộ, và bộ Hộ nằm trong tay Ngũ Hoàng Tử. Cô bắt đầu hiểu rằng cô không chỉ đang đánh Ca Lặc ở phía trước mà đang bị triều đình bỏ đói từ phía sau. Cha cô nằm ở kinh thành, có anh bên cạnh, nhưng nếu cả biên cương lẫn kinh thành đều mất thì không ai giữ được ai. Cô siết tay trên mép bàn rồi buông, rồi mở bản ghi chép kho lương ra đọc tiếp.

Trận hòa hôm nay trông như một bước tiến, nhưng nếu tính cả hậu cần thì mỗi ngày hòa là mỗi ngày cô mất thêm lương thảo mà không lấy lại được. Ca Lặc không cần thắng, hắn chỉ cần kéo dài, vì hắn biết hoặc ai đó đã nói cho hắn biết, rằng kho lương Đại Tần đang cạn.

Cô gấp thư Vương Hắc lại cất vào túi áo chỗ cũ bên cạnh thư anh, cạnh mảnh giấy "trà này pha với nước suối biên cương chắc dở lắm". Túi áo bên ngực của cô đã dày hơn lúc cô rời kinh thành, dày vì giấy, vì chữ, vì những người ở xa gửi lời đến bằng mực thay vì bằng giọng nói.

Cô ra lệnh cho quân nhu kiểm kê lại toàn bộ kho lương, đếm từng bao gạo, từng hũ muối, từng bó cỏ khô. Mọi thứ ghi chép rõ ràng, đưa cho cô trước sáng mai. Viên quân nhu cúi đầu đi ra, và cô ngồi lại một mình, nhìn bản đồ mà không mở, vì cô không cần nhìn bản đồ để biết rằng thời gian đang ở phía Ca Lặc chứ không phải phía cô.

Cô nghĩ đến bao muối của Đạt Lỗ, bao muối mà ông gửi lại như một lời "ta nghe rồi, ta chưa quyết". Ông ta đã chết vì bao muối đó, vì cô đã gửi thư cho ông, vì cô đã mở một cánh cửa mà Ca Lặc không cho phép ai bước qua. Cô không hối hận vì nước cờ đó đúng, nhưng cô nhớ mặt ông trong hộp gỗ, nhớ cái miệng hơi mở như đang định nói. Cô nghĩ rằng chiến tranh khác với kiếm ở chỗ kiếm chỉ giết người trước mặt, nhưng chiến tranh giết cả người mình chưa kịp gặp.

Gió đêm thổi qua khe lều, lạnh hơn tuần trước, mùa đông đang đến gần, và trên thảo nguyên mùa đông là thứ giết người không cần kiếm. Ca Lặc biết điều đó, cô cũng biết, và cả hai đều đang đếm từng ngày.

Cô tắt đèn, nằm xuống, không ngủ ngay. Trong bóng tối cô nghe tiếng gió, tiếng ngựa hí ở chuồng xa, tiếng lính gác đổi ca. Cô nghĩ đến anh ở kinh thành, nghĩ rằng anh chắc cũng đang thức, cũng đang nhìn bản đồ, cũng đang tính. Cô ước rằng mình có thể gửi cho anh bức tranh cô vẽ về Ca Lặc, vì anh đọc người giỏi hơn cô và có thể anh sẽ thấy lỗ hổng mà cô chưa thấy.

Nhưng thư đi mất hai tuần, và hai tuần thì Ca Lặc đã thay đổi ba lần.

Cô nhắm mắt, ép mình ngủ, vì sáng mai phải đánh tiếp, và tướng quân không được phép mệt trước binh lính.

Trước khi ngủ, cô nghĩ thêm một điều: Đạt Lỗ chết, nhưng gã cháu họ ông chạy thoát. Trinh sát báo gã đã biến mất khỏi lãnh địa Khiết Đan trước khi Ca Lặc đến, cưỡi ngựa đi hướng đông, mất dấu. Cô không biết gã chạy đi đâu, không biết gã còn sống hay đã chết ở đâu đó trên thảo nguyên, nhưng cô biết một chuyện. Gã đã gặp cô, đã nghe cô hứa, và nếu gã còn sống thì trong đầu gã vẫn có lời cô nói, rằng ngựa Khiết Đan không cần uống máu, chỉ cần uống nước suối Tỏa Dương.

Hạt giống có thể bị cắt ngọn, nhưng nếu rễ chưa chết thì vẫn có ngày mọc lại. Cô không biết rễ đó có còn không, nhưng cô không gạch bỏ nó khỏi đầu.

Rồi cô ngủ.

0