Chương 83: Dồn Vào Góc
Tin Lục Kính Đường bị tống giam đến Hầu phủ vào buổi sáng, qua miệng một cậu học trò mười sáu tuổi chạy từ trường học đến. Mặt cậu ta đỏ, thở hổn hển, dép rơi một chiếc trên đường mà không quay lại nhặt.
Lan Chu đang ngồi ở thư phòng đọc bản ghi chép lương thảo tháng này khi Tiểu Hà dẫn cậu học trò vào. Cậu đứng ở cửa, tay nắm chặt vạt áo, mắt đỏ, và nói bằng giọng vừa sợ vừa cố gắng không sợ. Câu kể rằng anh trai cậu là lính cấm vệ, vừa chứng kiến đội trưởng Lục Kính Đường bị phó tướng dẫn lính đến bắt ngay tại phòng trực đêm qua. Tội danh là "thông đồng ngoại tặc, phản di chiếu" và Lục Kính Đường không chống cự, chỉ đứng yên để lính trói. Ông ta nhìn phó tướng bằng đôi mắt mà anh trai cậu kể lại là "nhìn mà không nói gì, nhưng ai cũng quay mặt đi".
Lan Chu nghe xong không nói gì ngay. Anh rót cho cậu học trò một chén nước và bảo cậu uống, bảo cậu ngồi xuống, rồi hỏi rất chậm, từng câu một như bắt ở đâu, giam ở đâu, ai ra lệnh, phó tướng nói gì trước mặt lính, có bao nhiêu lính cấm vệ chứng kiến, mặt họ thế nào khi thấy đội trưởng bị trói.
Cậu học trò trả lời từng câu, run nhưng rõ ràng, vì cậu là học trò của anh và anh đã dạy cậu cách kể chuyện: kể xong rồi mới sợ, đừng sợ trước khi kể xong.
Lục Kính Đường bị giam ở ngục Hình bộ, không phải ngục cấm vệ. Ngũ Hoàng Tử ra lệnh, phó tướng thi hành. Phó tướng nói trước mặt lính rằng đây là lệnh từ phụ chính đại thần, ai không phục thì tự nộp giáo, và không ai nộp nhưng cũng không ai nói gì. Tất cả chỉ đứng im theo kiểu đứng im của người không biết phải làm gì khi người mình theo mười mấy năm bị dẫn đi trước mặt mà mình không có quyền ngăn cản.
Anh ghi nhận hết. Rồi anh dặn cậu học trò về nhà, nói anh trai cứ ở yên tâm nghe lệnh phó tướng, đừng làm gì khác biệt, đừng nói chuyện với ai về việc đến đây. Cậu học trò gật đầu, uống hết chén nước, rồi đứng dậy cúi chào và đi ra.
Tiểu Hà đứng ngoài cửa nhìn cậu học trò rời đi, rồi nhìn vào phòng nhìn anh. Cô bé không hỏi, vì cô đã học được rằng khi mặt anh bình thản nhất thì chuyện đang xảy ra nặng nhất. Lúc này mặt anh bình thản đến mức cô muốn đi pha trà cho anh nhưng tay cô vân vê góc tạp dề mãi không bước đi.
"Tiểu Hà."
Anh nói nhẹ.
"Pha cho tôi chén trà, rồi lên phòng Hầu gia nói Phúc Bá xuống đây."
Cô đi ngay, nhanh hơn bình thường, kiểu nhanh của người vui vì cuối cùng có việc để làm thay vì đứng nhìn.
Phúc Bá xuống thư phòng, rồi đóng cửa, ngồi đối diện anh. Lan Chu kể lại tin Lục Kính Đường bằng ba câu ngắn, không thêm bớt, rồi im lặng.
Phúc Bá nghe xong mặt không đổi, vì lão đã sống qua ba đời Hầu phủ, đã thấy người trung thành bị bắt nhiều hơn anh đếm được. Lão biết rằng mỗi lần một người tốt bị giam thì việc duy nhất nên làm là tính cách để cứu chứ không phải ngồi buồn.
"Cô gia tính sao?"
Lão hỏi, giọng y hệt giọng lão hỏi đêm Hầu gia nguy kịch: ngắn gọn, không vòng vo, sẵn sàng làm ngay.
"Chưa."
Anh gõ ngón tay lên bàn, một hai ba bốn rồi dừng.
"Lục Kính Đường bị giam ở ngục Hình bộ, không phải ngục cấm vệ. Nghĩa là Ngũ Hoàng Tử không muốn lính cấm vệ canh đội trưởng cũ, sợ lòng quân dao động. Hắn giam ông ấy ở chỗ xa, dùng lính Hình bộ canh."
Anh nhìn Phúc Bá.
"Phúc Bá, trong số người quen của lão, có ai ở Hình bộ không?"
Phúc Bá nghĩ một lúc.
"Không. Nhưng lão có một người quen ở Công bộ, ngày xưa từng là lính cấm vệ, giải ngũ sau khi bị thương ở chân, giờ làm văn thư ở Công bộ. Công bộ và Hình bộ chung hành lang phía đông."
"Chung hành lang thì biết ai canh ngục, biết lịch đổi gác?"
"Có thể. Lão hỏi được."
Anh gật đầu ghi nhận. Chưa đủ, nhưng đó là mảnh đầu tiên. Anh mở sổ tay, trang có bản đồ chính trị vẽ bằng tay từ ba năm trước, giờ đã dày đặc thêm tên người và đường nối. Anh viết thêm hai dòng ở góc: tên Lục Kính Đường, vị trí ngục Hình bộ. Rồi anh thêm một dấu chấm nối đến tên cậu học trò vừa chạy đến, rồi từ cậu nối đến anh trai, rồi từ anh trai nối đến một dấu hỏi lớn: bao nhiêu lính cấm vệ sẵn sàng quay về nếu đội trưởng xuất hiện.
Rồi anh lật sang trang Chu Đình Nghiêu. Mảnh giấy lão tướng quốc gửi qua hiệu sách tuần trước vẫn nằm trong đầu anh, bốn cái tên đại thần trung thành và dòng "lão chưa chết, thằng nhóc cũng đừng chết". Anh ghi thêm bên cạnh: "siết chặt hơn, cần di chuyển".
"Phúc Bá."
Anh nói tiếp, mắt vẫn nhìn bản đồ.
"Tin từ người canh ngõ nhà Chu tướng quốc tuần này thế nào?"
"Tệ hơn."
Lão đáp gọn.
"Hai tuần trước là bốn người canh, giờ là tám. Gia nhân ra ngoài bị theo dõi, đường đi chợ buổi sáng cũng có người đi sau. Tuần trước gia nhân mang sách đi đổi ở trường, về đến nhà bị khám người, may là mảnh giấy lão tướng quốc kẹp trong cuốn sách trả lại chứ không phải cuốn mang đi."
Anh nghe và im lặng. Tám người canh nghĩa là Ngũ Hoàng Tử đang siết chặt, và siết tốc độ này thì không lâu nữa hắn sẽ không chỉ canh chừng mà sẽ ra tay. Vì giữ một lão thần sáu mươi ba tuổi nổi tiếng cứng đầu trong nhà quá lâu thì rủi ro lớn hơn lợi ích. Hắn sẽ vu thêm tội, đưa ông ra Hình bộ, hoặc tệ hơn, để ông "đột ngột bệnh nặng" trong đêm. Kiểu kịch bản đó anh đã thấy đủ nhiều ở cả hai kiếp để biết nó không phải chuyện đùa.
"Phúc Bá cần tìm một chỗ ngoài thành."
Anh nói.
"Nhà dân, không liên quan đến Hầu phủ, không liên quan đến trường học, không liên quan đến bất kỳ ai mà Ngũ Hoàng Tử biết tên. Chỗ đủ kín để giấu một người, có thể hai."
Phúc Bá nhìn anh, hiểu "một người, có thể hai" nghĩa là gì, lão gật đầu.
"Lão biết một gia đình ở ấp phía tây, ngoài cổng thành hai dặm. Ông chồng là thợ rèn, vợ bán đậu phụ ở chợ sáng, nhà có sân sau rộng, tường cao và kín. Con trai họ từng là lính dưới quyền Hầu gia mười lăm năm trước, giải ngũ về nhà rèn cuốc. Họ không nợ Hầu phủ gì, nhưng mỗi năm Tết lão vẫn mang cho họ một hũ rượu và hỏi thăm sức khỏe, mười lăm năm chưa bỏ năm nào."
Anh nghe câu cuối và hiểu tại sao Phúc Bá là người quan trọng nhất trong phủ này. Không phải vì lão giỏi, mà vì lão kiên nhẫn. Mười lăm năm mang rượu Tết cho một gia đình thợ rèn, không vì mưu tính gì, chỉ vì lão quen chăm sóc người. Bây giờ mười lăm năm sau hũ rượu đó trở thành chỗ giấu người an toàn nhất kinh thành.
Kiếp trước anh gọi thứ đó là "vốn xã hội". Kiếp này không có từ đó, nhưng Phúc Bá không cần từ ngữ chuyên dụng, lão chỉ cần nhớ mỗi năm mang rượu.
"Được."
Anh nói.
"Lão đi trước, nói chuyện với họ, chưa cần nói ai sẽ đến, chỉ hỏi nếu cần giúp thì họ có sẵn lòng không. Đừng ép họ."
Phúc Bá đứng dậy gật đầu, rồi dừng ở cửa, quay lại nhìn anh.
"Còn Hầu gia thì sao?"
Lão hỏi, giọng thấp hơn, vì phòng Hầu gia ở ngay trên đầu.
"Hầu gia vẫn nằm liệt."
Anh cười nhẹ.
"Trước mặt ngự y, trước mặt mọi người, ông vẫn nằm liệt. Cho đến khi tôi nói khác."
Phúc Bá nhìn anh thêm một nhịp, rồi gật đầu lần nữa và quay đi. Bước chân lão nhanh, kiểu nhanh mà anh nhận ra từ hôm lão bắt đầu nấu cháo xương hầm: bước của người có việc phải làm.
Buổi chiều hôm đó, tấu chương cấm Lan Chu dự triều đến Hầu phủ. Không phải chiếu chỉ, không phải lệnh chính thức từ ngai vàng, mà là một "kiến nghị" của mấy viên quan Lễ bộ, Hộ bộ và Binh bộ. Liên danh này tấu rằng Tiết Lan Chu hiện giữ chức Hàn Lâm biên tu, đang bị điều tra vì nghi ngờ liên quan đến "kết bè ngoại bang, thao túng triều chính" và trong thời gian điều tra nên tạm cấm dự triều để "đảm bảo công bằng". Ngũ Hoàng Tử phê chuẩn ngay trong ngày, nhanh đến mức bản mực trên tấu chương chưa kịp khô thì bản phê duyệt đã gửi đi.
Lan Chu đọc tấu chương đứng ở sân, nắng chiều hắt lên mặt giấy. Anh thấy bốn cái tên ký dưới đây quen thuộc: hai trong số đó từng ngồi ở hàng ghế giữa khi tiên hoàng còn sống, gật đầu mỗi khi Hầu gia phát biểu, ghé Hầu phủ uống trà. Giờ họ ký tên cấm con rể Hầu gia dự triều, và anh không ngạc nhiên vì anh biết từ lâu rằng trà thì ai mời cũng uống, nhưng lúc gió đổi chiều thì người ta đổi chỗ ngồi.
"Kết bè ngoại bang."
Anh đọc lại tội danh rồi gấp tấu chương lại, nhét vào tay áo. Tội danh này không chỉ nhắm vào anh mà nhắm vào cả Hầu phủ: "ngoại bang" ở đây ám chỉ Hung Nô, ám chỉ rằng Trấn Bắc Hầu, người cả đời đánh Hung Nô, giờ đang "kết bè" với chúng. Bằng chứng duy nhất họ cần là con gái ông đang ở biên cương đối mặt Ca Lặc mà chưa thắng. Trong logic của phe Ngũ Hoàng Tử, chưa thắng có thể bị xoay thành "không muốn thắng" và "không muốn thắng" có thể bị xoay thành "đang đàm phán bí mật".
Kiếp trước anh dạy học sinh về Nhạc Phi bị mười hai đạo kim bài triệu hồi, tội danh "mưu phản" mà không cần chứng minh, chỉ cần đủ để đọc trên triều. Anh nói với học sinh rằng "lịch sử lặp lại vì con người không thay đổi" và bây giờ anh đang đứng trong phần lặp lại đó, chỉ khác là lần này anh không phải người chấm bài.
Anh nhìn ra cổng phủ, nơi hai người canh của Ngũ Hoàng Tử đã lén canh ở đó từ tuần trước. Họ mặc đồ thường dân nhưng đứng thẳng lưng quá mức và mắt nhìn cổng phủ đều đặn quá mức để giả làm người qua đường. Anh đã dặn Tiểu Hà ghi lại giờ họ đổi ca và anh biết họ đổi lúc giờ Ngọ và giờ Tuất, đều đặn như nhịp tim, kiểu đều đặn chỉ có ở người được huấn luyện.
Anh bị cấm triều và bị theo dõi, Hầu phủ bị theo giám sát, Lục Kính Đường nằm trong ngục Hình Bộ còn Chu Đình Nghiêu bị siết đến mức gia nhân ra chợ cũng có người đi sau. Thái Hậu và Thất Hoàng Tử bị canh giữ trong cung bởi người của Ngũ Hoàng Tử. Và vợ anh ở biên cương, cách mấy trăm dặm, đang đánh một trận mà anh không biết hôm nay cô còn sống hay không.
Anh đứng ở sân, nắng chiều rọi lên mặt, và nghĩ rằng nếu nhìn từ bên ngoài thì bây giờ anh đang bị dồn vào góc, mất quyền lên triều, mất liên lạc với cung, mất hai đồng minh quan trọng nhất, mạng lưới bị tỉa, và Hầu phủ chỉ còn là một cái vỏ có ông già nằm liệt bên trong. Ngũ Hoàng Tử nhìn vào bức tranh đó và thấy một thư sinh đã hết nước đi.
Nhưng Ngũ Hoàng Tử không biết cháo xương hầm, không biết nước muối loãng, không biết tờ giấy đã đốt trong tay Phúc Bá, và không biết rằng ông già nằm liệt trong phòng kia sáng nay đã tự ngồi dậy được mà không cần người đỡ, lần đầu tiên trong ba tháng.
Anh quay vào thư phòng, đóng cửa, ngồi xuống bàn, mở bản đồ chính trị ra, và bắt đầu vẽ.
Anh vẽ chậm, vì thứ anh đang vẽ không phải bản đồ địa lý mà là bản đồ người. Ở giữa là Ngũ Hoàng Tử, xung quanh là các mắt xích hắn đang nắm: phó tướng cấm vệ (kiểm soát cung), bốn viên quan vừa ký tấu chương (kiểm soát triều), lính Hộ bộ (kiểm soát tiền). Ơ xa nhất, đường nối mờ ra ngoài biên giới, Ca Lặc (kiểm soát áp lực quân sự).
Rồi anh vẽ bên kia: mình. Ở giữa là Hầu phủ, xung quanh là những mắt xích anh có: mạng lưới trường học (mỏng, bị tỉa, nhưng chưa đứt), Phúc Bá (mắt xích âm thầm nhất và bền nhất), Hầu gia (quân cờ giấu, đang hồi phục), Lục Kính Đường (trong ngục, cần cứu), Chu Đình Nghiêu (bị canh, cần di chuyển), Thái Hậu (bị cô lập, chưa liên lạc được). Và ở biên cương, Chinh Vũ (đang đánh, chưa biết tình hình kinh thành).
Anh nhìn hai bên bản đồ và thấy rõ: bên hắn dày, bên anh mỏng. Bên hắn nối liền, bên anh rời rạc. Hắn có quyền lực thật, anh có mạng lưới ngầm. Hắn đang thắng, anh đang thua.
Nhưng anh cũng thấy một chuyện: hắn đang vội.
Hắn cấm anh dự triều ngay trong ngày nhận tấu chương, không chờ điều tra, không giả vờ công bằng. Hắn giam Lục Kính Đường ban đêm, không đợi sáng, không qua thủ tục. Hắn siết Chu Đình Nghiêu từ bốn lính lên tám trong hai tuần. Tất cả những nước cờ đó đều mạnh, nhưng đều nhanh, và nhanh nghĩa là hắn đang chạy theo lịch trình, và lịch trình nghĩa là có deadline, và deadline nghĩa là có thứ gì đó hắn cần hoàn thành trước một thời điểm nhất định mà nếu quá thì hắn mất cơ hội.
Anh gõ ngón tay lên bàn, một hai ba bốn, chậm hơn bình thường. Thứ gì hắn cần hoàn thành? Kiểm soát hoàng cung đã xong. Kiểm soát triều đình cũng gần xong. Loại bỏ đối thủ chính trị thì đang làm. Còn gì nữa? Còn biên cương. Hắn cần Ca Lặc thắng, hoặc ít nhất cần Chinh Vũ thua đủ nặng để hắn có cớ nói "biên cương thất thủ vì tướng bất tài, con gái phản tặc, cần thay người". Và nếu Ca Lặc không thắng đủ nhanh, hắn sẽ phải tự tạo ra chiến thắng bằng cách khác, ví dụ chặn viện binh, cắt lương thảo, để Chinh Vũ thua vì đói chứ không phải vì yếu.
Anh dừng gõ và mở sổ ghi chép lương thảo, lật đến trang tháng trước. Luồng lương thảo từ kinh thành lên biên cương đã giảm hai đợt liên tiếp, lý do ghi trong sổ Hộ bộ là "thiếu ngân sách do chiến tranh". Nhưng anh biết ngân sách không thiếu mà chỉ bị chuyển hướng, vì một trong những cậu học trò của anh có cha làm thư lại ở kho lương phía nam kinh thành và cậu kể rằng kho vẫn đầy, chỉ là lệnh xuất kho không đến.
Anh viết vào sổ, bên cạnh dòng ghi lương thảo:
"Chặn viện binh bằng cách chặn lương thảo và chặn quân. Nếu Chinh Vũ hết lương, cô sẽ phải rút lui, và rút là thua."
Rồi anh gạch chân câu đó hai lần.
Kiếp trước anh dạy về chiến tranh trong sách vở. Kiếp này anh ngồi đây nhìn vợ mình bị bỏ đói từ xa bởi chính triều đình mà cô đang bảo vệ. Khoảng cách giữa hai kiếp không phải kiến thức mà là cái siết ở ngực mỗi khi anh nghĩ đến chuyện cô ở ngoài kia thiếu muối để ướp thịt trong khi kho lương kinh thành đầy ắp và chỉ chờ một chữ ký mà Ngũ Hoàng Tử sẽ không bao giờ ký.
Tối hôm đó, sau khi ngự y Trần Hoài An đã về phòng và Tiểu Hà đã đi ngủ, Lan Chu lên phòng Hầu gia.
Ông đang ngồi dựa lưng vào đầu giường, không nằm, và đó là thay đổi lớn nhất trong ba tháng qua mà không ai ngoài Phúc Bá và anh được thấy. Lưng ông vẫn cần gối đỡ, vai vẫn gầy hơn trước nhiều, nhưng mắt ông sáng, sáng hơn hẳn so với đêm ho ra máu. Tay ông đặt trên chăn không run, nắm rồi mở, nắm rồi mở, kiểu vận động mà anh đã viết trong tờ giấy tuần đầu tiên. Ông làm đều mỗi ngày mà không cần ai nhắc, vì ông là lính, và lính thì biết nghe lệnh khi lệnh có lý.
"Lục Kính Đường bị bắt."
Anh nói và ngồi xuống ghế cạnh giường, giọng nhẹ như kể chuyện thường ngày.
Ông nghe, mắt nheo lại, không nói gì ngay. Rồi ông hỏi, chỉ một câu:
"Lính cấm vệ thế nào?"
Anh hiểu câu hỏi. Ông không hỏi về Lục Kính Đường, vì ông biết ông ta là người thế nào và sẽ chịu được đến đâu. Ông hỏi về lính, vì lính mới là quân cờ thật sự: nếu lính cấm vệ theo phó tướng mới thì Lục Kính Đường chỉ là một ông già trong ngục, nhưng nếu lính vẫn nhớ đội trưởng cũ thì ông ta là chìa khóa mở cổng cung.
"Không ai nộp giáo."
Anh đáp.
"Cũng không ai phản đối, chỉ đứng im."
Ông gật đầu chậm.
"Đứng im là tốt. Đứng im nghĩa là chờ."
Anh nhìn ông, nhìn đôi mắt lão tướng đã dẫn quân ba mươi năm và hiểu bản chất binh lính hơn bất kỳ ai. Đây là lý do ông không thể mất đi: không phải vì ông cầm kiếm giỏi, mà vì ông đọc được lòng người mà ông dẫn. Anh đọc được bản đồ, ông đọc được lính và hai thứ đó cộng lại mới đủ.
"Nhạc phụ."
Anh nói, hạ giọng thêm.
"Con cần cha đứng dậy. Không phải bây giờ nhưng sớm thôi."
Ông nhìn anh, nhìn lâu bằng đôi mắt đã nhìn qua nhiều trận đánh trong đời. Rồi ông nói, giọng khàn nhưng rõ:
"Bao giờ con nói thì ta sẽ đứng."
Anh cúi đầu, không phải cúi chào mà cúi vì cổ họng anh hơi nghẹn và anh không muốn ông thấy. Rồi anh ngẩng lên, cười nhẹ, kiểu cười cũ, hiền lành và vô hại.
"Vậy thì ngày mai nhạc phụ bắt đầu tập đi quanh giường. Phúc Bá đỡ. Phong đóng cửa. Ngự y đến thì đi nằm lại."
Ông khịt mũi, tiếng khịt mũi nhẹ của lão tướng thấy chuyện này quá nhỏ.
"Ngày nào ta cũng nằm giả chết cho cái thằng ngự y đó khám, cái giá của việc có con rể thông minh là cha vợ phải đóng kịch."
Anh cười thật lần đầu trong ngày, vì câu đó đúng là kiểu hài của Trấn Bắc Hầu: khô, gọn, và buồn cười đúng lúc không nên buồn cười.
Đêm khuya, Lan Chu ngồi một mình ở thư phòng, đèn dầu cháy thấp, bản đồ trải trên bàn.
Anh nhìn vào bản đồ người mà anh đã vẽ buổi chiều, nhìn vào bên anh, mỏng và rời rạc, và bắt đầu vẽ thêm những đường nối mới, những đường mà Ngũ Hoàng Tử không nhìn thấy vì hắn không biết chúng tồn tại.
Đường nối từ trường học đến cha một cậu học trò làm lính canh ngục Hình bộ. Đường nối từ Phúc Bá đến gia đình thợ rèn ngoài thành. Đường nối từ Hầu gia đến thân vệ cũ đã giải ngũ nhưng vẫn nhớ người đã dẫn mình đánh trận. Và một đường nối mà anh chưa vẽ nhưng đang nghĩ đến: từ Hầu phủ đến cung cấm, qua một con đường mà Phúc Bá biết vì lão đã sống ở đây từ thời Hầu gia còn trẻ, thời mà giữa Hầu phủ và cung cấm có một đường hầm liên lạc mà bây giờ không ai nhớ ngoài lão.
Anh chưa vẽ đường đó lên giấy, vì giấy thì tìm được. Anh chỉ ghi trong đầu: khi cần liên lạc Thái Hậu, Tiểu Hà sẽ đi đường đó. Vì cô bé nhỏ, nhanh, và quen Hầu phủ đến mức đi trong bóng tối cũng không vấp.
Anh nhìn lại bản đồ. Bên hắn vẫn dày hơn, vẫn mạnh hơn, nhưng bên anh có một thứ mà bên hắn không có: mỗi đường nối của anh đều là người tự nguyện. Cậu học trò chạy đến vì tin anh. Phúc Bá mang rượu mười lăm năm vì thương người. Hầu gia đứng dậy vì anh nói. Chu Đình Nghiêu gửi tên bốn đại thần vì ông tin rằng thằng nhóc con rể Tầm gia sẽ biết dùng chúng. Không ai trong số họ theo anh vì sợ, vì tiền, vì quyền. Và điều đó anh nghĩ, vừa là sức mạnh vừa là điểm yếu: mạnh vì không ai mua được, yếu vì nếu anh sai một bước thì tất cả sẽ tan, vì người tự nguyện chỉ theo khi người dẫn đáng theo.
Anh tắt đèn, không ngủ ngay mà ngồi trong bóng tối nghe tiếng gió ngoài cửa sổ, tiếng ho nhẹ của Hầu gia ở phòng bên. Tiếng ho ít hơn trước, khoảng cách giữa các cơn xa hơn, cháo xương hầm và nước muối đang làm việc của chúng. Ở đâu đó ngoài cổng phủ, tiếng chân hai người canh đổi ca đúng giờ Tuất.
Rồi anh mở mắt trong bóng tối, nhìn lên trần nhà và nói rất nhẹ, gần như không ra tiếng, một câu mà không ai nghe:
"Hắn vội. Ta không vội."
Câu đó anh đã nói với Hầu gia nhiều tuần trước, khi ông hỏi anh tính sao với Ngũ Hoàng Tử. Hồi đó anh nói vì anh tin. Bây giờ anh nói lại vì anh cần tự nhắc mình, vì hôm nay là ngày tệ nhất kể từ khi chiến tranh bắt đầu, và người tệ nhất để nhắc nhở mình giữ bình tĩnh là chính mình, nhưng anh không có ai khác để nhắc hộ.
Ngoài kia, đêm kinh thành yên tĩnh. Ở ngục Hình bộ, Lục Kính Đường ngồi dựa tường, lưng thẳng như cây thương, mắt mở, nhìn vào bóng tối. Ở dinh Chu Đình Nghiêu, tám người lính canh đứng quanh tường, và bên trong lão thần ngồi uống trà một mình, mặt như đá tảng, không thèm nhìn ra cửa. Ở trong cung, Thái Hậu ngồi bên giường con trai mười tuổi đã ngủ, tay bà đặt trên lưng cậu bé, và ở cửa phòng phó tướng cấm vệ đứng canh, gọi là bảo vệ, thật ra là giam cầm.
Bốn góc kinh thành, bốn người bị dồn vào góc. Và ở giữa, Ngũ Hoàng Tử ngồi trong phủ riêng, dưới đèn sáng, đang đọc báo cáo ngự y về tình trạng Hầu gia: "tinh thần suy giảm, tiên lượng: vài tháng, có thể ít hơn". Hắn gật đầu hài lòng, rồi mở bức thư tiếp theo từ biên cương, báo cáo Ca Lặc đang siết vòng vây quanh đồn Bạch Lộ.
Hắn gấp thư, uống trà, và không nghĩ thêm về tên thư sinh bị cấm triều, vì trong bàn cờ của hắn, con cờ đó đã bị dồn vào góc và không còn nước đi.
Nhưng ở Hầu phủ, trong thư phòng tối, Lan Chu vẫn chưa ngủ. Anh đang nhẩm lại trong đầu bốn cái tên Chu Đình Nghiêu gửi, lịch đổi ca lính canh ngục Hình bộ, đường hầm cũ mà Phúc Bá biết, thời gian Hầu gia cần để đi được mười bước quanh giường. Từ bốn thứ rời rạc đó, anh bắt đầu thấy hình dạng của một kế hoạch mà hắn không bao giờ tính đến, vì hắn đã quen nghĩ rằng người bị dồn vào góc thì chỉ có thể chạy hoặc cam chịu. Hắn chưa bao giờ gặp người bị dồn vào góc mà ngồi im vẽ bản đồ cả.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.