Chương 82: Đánh Bằng Cái Đầu
Sau trận đánh sáng hôm đó, Chinh Vũ không thắng nhưng cô cũng không thua. Cô đánh đúng như Vương Hắc lo, đánh vì giận mà không nói ra được, đánh bằng toàn bộ lực lượng kỵ binh xông thẳng vào cánh phải quân Ca Lặc. Lần này cô mạnh hơn mọi lần trước vì cô không sợ chết, và người không sợ chết thì đánh nhanh hơn người còn đang cân nhắc. Hung Nô cánh phải vỡ, lùi bốn dặm, nhưng Ca Lặc không hoảng. Hắn rút trung quân về phía sau, để cánh trái khép lại chặn đường truy kích, và khi cô nhận ra mình đang xông quá sâu vào đội hình hắn đã chuẩn bị sẵn thì cô phải dừng và thu quân quay về đồn.
Đánh xong, cô ngồi trong lều chỉ huy, trước mặt là bản đồ, bên cạnh là bát cháo mà lính hậu cần bê vào đã nguội. Cô nhìn bản đồ, nhìn các vị trí quân Hung Nô đóng sau trận, và nhận ra một chuyện mà cô đã bắt đầu nhận ra từ trận thua ở thung lũng Bạch Lộ nhưng hôm nay mới thấy rõ hoàn toàn: cô không thể thắng Ca Lặc bằng kiếm.
Không phải vì kiếm cô không đủ sắc mà vì hắn ta đã đọc được kiếm cô. Hắn biết cô đánh trực diện, biết cô mạnh ở kỵ binh, biết cô hay xông cánh phải, biết cô dũng cảm đến mức liều lĩnh và liều lĩnh đến mức có thể bị dụ. Hắn không đánh cô, hắn đợi cô đánh rồi đón ở chỗ cô sẽ đến. Mỗi lần cô xông lên là mỗi lần cô chạy vào thế cờ hắn đã bày sẵn. Cô giỏi hơn hắn ở chiến trường trực diện, nhưng hắn giỏi hơn cô ở mọi thứ xung quanh chiến trường như thông tin, thời điểm, vị trí, và khả năng đọc đối thủ.
Cô nhớ câu cha mình nói ngày xưa, đêm sau trận đánh thung lũng phía tây, lúc cô mười sáu tuổi: "Đánh giỏi khác với đánh thắng". Hồi đó cô không hiểu, vì hồi đó cô đánh trận nào cũng thắng. Bây giờ cô đã hiểu.
Rồi cô nhớ bức thư của anh.
"Liên minh bộ lạc Hung Nô dựa trên sợ hãi và lợi ích, không phải trung thành. Loại liên minh đó chỉ vững khi thủ lĩnh đang thắng. Nếu có bộ lạc nào thấy lợi ở phía bên kia, liên minh sẽ nứt từ rìa vào. Nàng đừng chỉ đánh hắn, hãy đánh vào chỗ hắn không kiểm soát được."
Cô đã đọc đoạn đó nhiều lần kể từ khi nhận thư, đọc đi đọc lại trên lưng ngựa, trong lều, trước bản đồ, nhưng đọc theo cách cô vẫn đọc mọi thứ anh viết: hiểu nghĩa nhưng chưa biết dùng. Vì cô là người cầm kiếm, và kiếm thì chỉ có một cách dùng là chém. Nhưng tối nay, sau hai trận mà cô không thua cũng không thắng, sau khi nhìn Ca Lặc rút quân gọn gàng như thể hắn đã tính trước cô sẽ dừng ở đâu, cô đọc lại đoạn đó lần nữa và lần đầu tiên thấy nó không phải lời khuyên nữa mà là bản đồ.
Đánh vào chỗ hắn không kiểm soát được. Chỗ đó ở đâu?
Cô đứng dậy, ra khỏi lều, gọi viên trinh sát trưởng. Viên trinh sát trưởng tên Lý Hữu, người gầy, mắt nhỏ, dáng như nông dân hơn lính. Đó chính là lý do cô dùng cậu ta vì cậu lẫn vào đám đông mà không ai nhớ mặt. Cậu theo cha trấn giữ biên cương từ nhỏ, nói được tiếng Hung Nô bập bõm, đủ để hỏi đường và mua sữa ngựa từ thương nhân thảo nguyên mà không bị nghi ngờ.
"Liên minh Ca Lặc có bao nhiêu bộ lạc?"
Cô hỏi.
"Dạ, theo tin trinh sát, có bảy bộ lạc lớn, mười mấy bộ lạc nhỏ."
Lý Hữu đáp.
"Bảy bộ lạc lớn theo Ca Lặc vì hắn thắng, mười mấy bộ lạc nhỏ theo vì sợ."
"Bộ lạc nào ở rìa phía đông?"
Lý Hữu nhìn cô, hơi ngạc nhiên vì tướng quân chưa bao giờ hỏi về cấu trúc liên minh Hung Nô, chỉ hỏi quân số và vị trí. Cậu nghĩ một lúc rồi đáp:
"Phía đông có bộ lạc nhỏ là Khiết Đan, khoảng hai nghìn chiến binh. Họ ở xa nhất, đóng gần suối Tỏa Dương, cách đại quân Ca Lặc hai ngày ngựa. Thủ lĩnh tên Đạt Lỗ, nghe nói là người hiền lành, thích buôn ngựa hơn đánh trận."
"Thích buôn ngựa hơn đánh trận."
Cô lặp lại chậm.
Lý Hữu gật đầu.
"Trước khi Ca Lặc thống nhất liên minh, Khiết Đan vẫn giao thương với đồn Thanh Phong, đổi ngựa lấy muối và vải. Sau đó Ca Lặc cấm, nhưng nghe nói họ vẫn lén đổi qua thương nhân trung gian."
Cô im lặng. Tay cô đặt trên mặt bàn, vô thức gõ nhẹ, một hai ba bốn rồi dừng. Cô nhận ra thói quen đó không phải của cô nhưng cô không rút tay lại, vì lần này cô hiểu tại sao anh gõ. Nhịp bốn là cách não sắp xếp mảnh ghép, và lúc này trong đầu cô có nhiều mảnh cần xếp.
"Cho ta gặp một thương nhân biết đường đến Khiết Đan."
Cô nói.
Lý Hữu nhìn cô thêm một lúc, rồi cúi đầu đi ra.
Cô không ngủ đêm đó. Không phải vì lo lắng, cô quen thức đêm ở chiến trường, mà vì cô đang làm một việc mà cô chưa bao giờ làm trong đời: ngồi trước bản đồ và nghĩ bằng đầu thay vì bằng tay.
Cô nhìn vào vị trí bộ lạc Khiết Đan ở phía đông, nhìn vào khoảng cách hai ngày ngựa giữa họ và đại quân Ca Lặc và tự hỏi: nếu mình là Đạt Lỗ, người thích buôn ngựa hơn đánh trận, mình cần gì để rời liên minh? Không phải tiền, vì tiền thì Ca Lặc cũng có. Không phải lời hứa, vì lời hứa của người Đại Tần với người thảo nguyên chưa bao giờ đáng giá đủ để tin tưởng. Cần một thứ mà Ca Lặc không cho được và Đại Tần cho được: sự yên ổn để buôn bán.
Cô không quen nghĩ kiểu này. Cô quen nhìn bản đồ và thấy đường xông trận, chỗ phục kích, hướng gió cho cung thủ. Nhưng anh nhìn vào cùng tấm bản đồ đó và đọc ra đường buôn muối, mùa đông không có vải, cái giá của chiến tranh tính bằng thứ không ai vẽ lên giấy. Va cô đã sống với anh đủ lâu để bắt đầu hiểu rằng bản đồ không chỉ có một cách đọc.
Cô lấy giấy ra và viết. Chữ cô to và thưa, không đẹp như chữ anh nhưng rõ ràng.
Cô viết một bức thư gửi cho thủ lĩnh Đạt Lỗ của bộ lạc Khiết Đan. Cô không viết bằng giọng tướng quân, vì tướng quân viết cho thủ lĩnh bộ lạc nhỏ thì nghe như ra lệnh, và không ai theo lệnh của kẻ thù. Cô viết bằng giọng khác, giọng mà cô đã học được từ anh dù cô không nhận ra lúc nào mình học. Đó là giọng của người đặt câu hỏi thay vì đưa ra kết luận.
"Ta nghe nói người Khiết Đan giỏi nuôi ngựa nhất thảo nguyên. Trước khi có chiến tranh, ngựa Khiết Đan đổi muối Đại Tần ở đồn Thanh Phong, hai bên đều có lợi. Chiến tranh này không phải của Khiết Đan. Ngựa Khiết Đan không cần uống máu, chỉ cần uống nước suối Tỏa Dương. Nếu Đạt Lỗ thủ lĩnh muốn nói chuyện, ta sẵn sàng lắng nghe."
Cô đọc lại, cảm thấy câu chữ không giỏi bằng anh, nhưng đủ rõ. Cô không hứa hẹn gì, không đe dọa gì, chỉ mở một cánh cửa và đứng đợi xem có ai bước qua không.
Gấp thư lại, cô ngồi nhìn nó trên mặt bàn và nghĩ rằng nếu anh ở đây thì anh sẽ sửa lại vài chỗ, thêm một hai câu mềm mại hơn, bớt đi cái thẳng thừng mà cô không bỏ được dù đã cố gắng. Nhưng anh không ở đây và cô phải viết bằng giọng của mình, vì giọng mượn thì người nghe là nhận ra ngay.
Sáng hôm sau cô gọi Lý Hữu vào lều để đưa thư, cô dặn cậu tìm thương nhân quen đường đến Khiết Đan, nhờ chuyển thư và không nói ai gửi, chỉ nói "người ở đồn Bạch Lộ muốn nói chuyện". Lý Hữu nhận thư và không hỏi thêm, vì cậu đã học được từ tướng quân rằng khi cô ra lệnh mà không giải thích thì không nên hỏi, và khi cô giải thích mà không ra lệnh thì nên nghe cho kỹ.
Rồi cô gọi phó tướng và ba viên tướng nhỏ chỉ huy các cánh quân, trải bản đồ ra bàn. Lần đầu tiên cô nói với họ về thứ mà cô chưa bao giờ nói trong bất kỳ cuộc họp quân sự nào trước đó.
"Ca Lặc có ba vạn kỵ binh, nhưng không phải ba vạn cùng một khối."
Cô nói, tay chỉ vào bản đồ.
"Hắn có bảy bộ lạc lớn ở trung tâm, mười mấy bộ lạc nhỏ ở rìa. Bộ lạc lớn theo hắn vì hắn thắng. Bộ lạc nhỏ theo vì sợ. Bộ lạc nào ở xa nhất, ít lợi nhất, bị ép nhiều nhất thì theo lỏng lẻo nhất."
Phó tướng nhìn cô và im lặng, vì ông chưa bao giờ nghe tướng quân phân tích cấu trúc chính trị của đối phương, trước nay cô chỉ nói "đánh đâu, đánh lúc nào, đánh bằng gì".
"Từ giờ trinh sát không chỉ theo dõi quân số và vị trí."
Cô nói tiếp.
"Ta muốn biết bộ lạc nào đóng quân gần nhau, bộ lạc nào đóng riêng, bộ lạc nào cãi nhau với bộ lạc nào, thủ lĩnh nào bất mãn, ai muốn đi ai muốn ở. Trinh sát nào nói được tiếng Hung Nô thì cho lẫn vào đám thương nhân, ra chợ biên giới nghe ngóng."
Viên tướng trẻ phía cánh trái, người mới lên chức sau trận đầu tiên vì tướng cũ bị thương, ngập ngừng hỏi:
"Tướng quân, chúng ta đánh hay đợi?"
Cô nhìn cậu ta, nhìn cái vẻ bối rối thành thật trên mặt một người lính quen được bảo đánh đâu chém đó mà bây giờ bị bảo đi nghe ngóng chuyện thương nhân. Cô hiểu cảm giác đó, vì mấy tuần trước cô cũng bối rối y như vậy.
"Đánh."
Cô nói.
"Nhưng không phải đánh kiểu cũ."
Mười ngày sau, Lý Hữu mang tin về. Thủ lĩnh Đạt Lỗ không trả lời bằng thư. Ông ta trả lời bằng cách gửi lại thương nhân cùng một bao muối nhỏ, loại muối mà Khiết Đan từng đổi ở Thanh Phong trước chiến tranh, và một sợi dây da buộc quanh miệng bao có thắt ba nút.
Lý Hữu không hiểu ba nút nghĩa gì, nhưng cô hiểu, vì cha cô đã dạy cô về tục thảo nguyên từ hồi còn sống. Ba nút trên dây da là cách người du mục nói "ta nghe rồi, ta chưa quyết, nhưng ta không đóng cửa". Không phải đồng ý, không phải từ chối, chỉ là để ngỏ, và ở thảo nguyên nơi lời nói bay theo gió, để ngỏ đã là rất nhiều.
Cô cầm bao muối, cầm sợi dây da, ngồi trong lều một mình. Rồi cô mở rương ở góc lều, lấy ra bọc vải nhỏ mà anh nhét vào đáy rương trước ngày cô đi, bọc mà cô phát hiện khi dọn đồ ở doanh trại đầu tiên và chưa bao giờ nói với anh là cô biết. Bên trong là một gói trà khô, loại trà mà anh hay uống buổi sáng, và một mảnh giấy nhỏ viết: "Trà này pha với nước suối biên cương chắc dở lắm, nhưng uống đi cho ấm". Cô đã uống hết trà từ tháng trước, nhưng mảnh giấy thì cô giữ, gấp lại nhét cùng chỗ với thư anh, trong túi áo gần ngực.
Cô không lấy mảnh giấy ra đọc lại, vì cô thuộc lòng rồi. Cô chỉ đặt bao muối của Đạt Lỗ lên bàn, cạnh bản đồ, và nhìn hai thứ đó nằm cạnh nhau. Bao muối của thảo nguyên và bản đồ của Đại Tần, và lần đầu tiên cô thấy mình đang đánh một trận mà không cần rút kiếm.
Cảm giác lạ, không phải lạ kiểu khó chịu, mà lạ kiểu lần đầu dùng tay trái viết chữ sau cả đời dùng tay phải, vụng về nhưng biết rằng nếu tập đủ lâu thì sẽ quen.
Cô viết thư thứ hai cho Đạt Lỗ. Lần này cụ thể hơn.
"Nếu chiến tranh kết thúc, ta mở lại chợ biên giới ở đồn Thanh Phong. Ngựa Khiết Đan đổi muối, vải, trà, nông cụ sắt. Không thuế quá nặng. Ta không cần Khiết Đan đánh Ca Lặc. Ta chỉ cần Khiết Đan không đánh ta."
Nội dung ngắn gọn rõ ràng, không hứa hẹn viển vông. Cô đọc lại và nghĩ rằng anh sẽ gật đầu nếu đọc bức thư này, không phải vì cô viết hay mà vì cô đã hiểu một chuyện mà anh hiểu từ lâu. Người ta không cần lời hứa lớn, người ta cần lợi ích cụ thể. Muối cụ thể hơn hòa bình. Vải cụ thể hơn tình hữu nghị. Và "không đánh ta" dễ chấp nhận hơn "đánh Ca Lặc" vì nó không yêu cầu ai phản bội ai, chỉ yêu cầu đứng sang một bên.
Cô gửi thư qua Lý Hữu, kèm theo một bao muối nhỏ gửi lại, cùng kích thước, như cách người thảo nguyên đáp lễ.
Trong lúc chờ Đạt Lỗ trả lời, cô không ngồi yên. Cô cho trinh sát ra ngoài, rải vào các chợ nhỏ dọc biên giới, nghe chuyện, ghi chép, và mang về những mảnh tin mà trước đây cô sẽ bỏ qua vì chúng không liên quan đến quân sự. Ví dụ như bộ lạc nào đang thiếu muối, bộ lạc nào cãi nhau vì chia chiến lợi phẩm không đều, thủ lĩnh nào uống rượu than thở rằng theo Ca Lặc mấy tháng mà chưa được gì ngoài lệnh đánh và lệnh đợi. Cô xếp những mảnh tin đó lên bàn rồi nhìn chúng, và bắt đầu thấy một bức tranh mà kiếm không vẽ được. Đó là liên minh Ca Lặc không phải bức tường đá, mà là bức tường gạch xếp chồng, mỗi viên gạch có kẽ hở, và nếu rút đúng viên thì bức tường sẽ lung lay.
Cô nhớ đêm trong xe ngựa ở kinh thành, đêm sau tiệc Hồng Lô Tự, cô nói với anh rằng Ca Lặc phân loại cô là kiếm và anh là đầu. Hắn nghĩ như vậy là hiểu đủ. Hồi đó anh không nói gì, chỉ nhìn cô và ghi nhận. Bây giờ cô hiểu anh ghi nhận cái gì: hắn sai ở chỗ nghĩ kiếm mãi mãi chỉ là kiếm.
Cô vẫn là kiếm nhưng kiếm biết chọn chỗ đâm thì nguy hiểm hơn kiếm chỉ biết chém.
Tin từ hậu phương đến vào ngày thứ mười hai. Vương Hắc viết thư cho cô, chữ ông ta to và xấu, nét bút run vì viết bằng tay trái do chân bị thương nên ngồi không vững phải tựa lưng. Vương Hắc viết kiểu ông ta vẫn nói, kiểu nói thẳng, không vòng vo, không lễ phép.
"Tướng quân, chân ta lành rồi, chỉ đi hơi khập khiễng, Đào Nương bảo phải chống gậy nhưng ta không chống vì gậy là đồ cho ông già. Ta nghe nói tướng quân đánh hai trận, không thua, cũng không thắng. Ta có một chuyện muốn kể: hồi lão phu hai mươi, theo Hầu gia đánh trận đầu tiên, Hầu gia cũng không thắng, về doanh trại ngồi im ba ngày. Ta tưởng ông ấy buồn, hóa ra ông ấy đang suy nghĩ. Sau ba ngày ông ấy thay đổi cách đánh, và từ đó không thua trận nào trong mười năm liên tiếp. Ta không biết tướng quân đang nghĩ gì, nhưng ta nhưng lão biết con cháu Tầm gia thì không khác cha mình được."
Cô đọc thư, đọc đến câu "không khác cha mình" thì dừng lại rất lâu. Vương Hắc viết câu đó nhẹ tênh, kiểu người già kể chuyện xưa, nhưng cô nghe ra thứ ông ta không nói. Ông ta đang nói rằng cha cô cũng từng thua, cũng từng ngồi im trước bản đồ không đọc ra gì, cũng từng phải học cách đánh khác. Cô không cô đơn trong việc này. Trước cô đã có Hầu gia.
Cô gấp thư, cất vào túi áo ngay chỗ cũ.
Đạt Lỗ trả lời lần thứ hai sau tám ngày. Lần này không phải bao muối, mà là một người.
Lý Hữu dẫn về một gã trung niên, mặt rám nắng, tay đầy vết chai của người cầm dây cương cả đời, mặc đồ thương nhân nhưng mắt nhìn xung quanh theo kiểu lính chứ không phải kiểu buôn. Gã nói tiếng Đại Tần lơ lớ, tự giới thiệu là cháu họ của Đạt Lỗ, được gửi đến "nói chuyện muối".
Chinh Vũ tiếp gã trong lều chỉ huy, không mang kiếm, vì mang kiếm khi tiếp người đi buôn thì giống đe dọa hơn đàm phán. Cô không quen bỏ kiếm, tay cô vẫn vô thức đặt ở hông chỗ chuôi kiếm hay nằm, nhưng cô ép mình ngồi yên, tay đặt trên bàn, và nói chuyện.
Gã nói thẳng: Đạt Lỗ không muốn đánh Đại Tần, nhưng lão cũng không dám rời liên minh vì Ca Lặc sẽ giết lão trước khi lão kịp lên ngựa. Khiết Đan ở xa, nhưng không xa đủ. Nếu La Sát muốn Khiết Đan đứng ngoài, La Sát phải cho Khiết Đan lý do đứng ngoài mà Ca Lặc không thể trừng phạt, nghĩa là Ca Lặc phải đang bận đến mức không rảnh quay sang phía đông xử lý một bộ lạc nhỏ.
Cô nghe và gật đầu. Gã nói tiếp: ngoài Khiết Đan, còn hai bộ lạc nhỏ ở phía đông nam cũng không muốn đánh nhưng không dám nói, vì Ca Lặc đã giết thủ lĩnh một bộ lạc ở phía tây tháng trước vì tội "do dự". Ai cũng sợ mình trở thành cái xác tiếp theo.
"Ta hiểu."
Cô nói.
"Nói với Đạt Lỗ rằng ta sẽ cho hắn lý do nhưng không phải bây giờ. Khi nào đúng lúc, ta sẽ gửi tin."
Gã nhìn cô, nhìn đôi mắt mà cả thảo nguyên gọi là La Sát, nhìn bàn tay đặt trên bàn thay vì trên chuôi kiếm, và gã gật đầu, kiểu gật của người chưa hoàn toàn tin nhưng thấy đủ để mang lời về cho chú mình.
Gã rời đi lúc trời chưa sáng, cưỡi ngựa đi qua đường mòn phía đông mà trinh sát Đại Tần đã kiểm tra sạch. Cô đứng ngoài lều nhìn theo bóng gã nhỏ dần trong ánh trăng cuối đêm.
Sau khi gã đi, cô quay vào lều, ngồi trước bản đồ, và lần đầu tiên cầm bút vẽ lên đó. Cô không vẽ giỏi, nét bút cô dày và vụng, nhưng cô vẽ đủ rõ ràng. Một vòng tròn quanh vị trí Khiết Đan ở phía đông, hai vòng tròn nhỏ hơn quanh hai bộ lạc đông nam mà gã Khiết Đan vừa nhắc. Giữa ba vòng tròn đó với đại quân Ca Lặc là một khoảng trống mà cô viết hai chữ bé xíu bên cạnh: "kẽ nứt".
Cô nhìn bản đồ đã vẽ thêm, nhìn những vòng tròn vụng về của mình nằm cạnh các ký hiệu quân sự sắc nét, và nghĩ rằng nếu ai nhìn thấy tấm bản đồ này thì sẽ tưởng có đứa trẻ vẽ bậy lên đồ quân sự. Nhưng đứa trẻ đó vừa học được cách đọc bản đồ thứ hai, cách mà cha cô đánh ba mươi năm chưa chắc đã dạy, cách mà một thư sinh ở kinh thành viết trong thư bằng vài dòng ngắn và cô mất hai mươi ngày mới hiểu.
Ngoài lều, trời bắt đầu sáng. Tiếng lính đổi gác vọng lại đều đặn, tiếng ngựa hí ở chuồng phía tây, tiếng bếp dã chiến bắt đầu nhóm lửa nấu cháo sáng. Ở đâu đó phía bắc thảo nguyên, Ca Lặc đang lên kế hoạch cho trận tiếp theo. Hắn đang tính toán dựa trên một giả định mà hắn đã giữ từ đêm ở sân Hồng Lô Tự: La Sát là kiếm, chỉ là kiếm, và kiếm thì chỉ có một cách dùng.
Cô cuộn bản đồ lại, buộc dây, đặt vào rương. Rồi cô ra ngoài lều, gọi lính mang cháo sáng vào, ngồi xuống ăn. Bát cháo nóng, hơi nhạt vì muối ở biên cương bao giờ cũng thiếu, nhưng cô ăn hết, vì cô cần sức, không phải cho trận đánh trước mặt mà cho trận dài hơn phía sau, trận mà cô vừa bắt đầu học cách đánh.
Ăn xong, cô đặt bát xuống, nhẹ hơn bình thường.
Lý Hữu vào lều lúc cô vừa đặt bát. Cậu ta cúi đầu, giọng hơi gấp hơn mức cần thiết.
"Tướng quân, trinh sát phía bắc vừa về báo. Ca Lặc điều một đội kỵ binh ba trăm người tách khỏi đại quân, đi về hướng đông."
Cô nhìn cậu. Hướng đông là chỗ Khiết Đan đóng.
"Bao giờ?"
"Hôm qua. Đi nhanh, đội nhẹ, không mang xe lương."
Không mang xe lương nghĩa là không đi đánh trận. Đội nhẹ ba trăm người đi nhanh về hướng một bộ lạc nhỏ chỉ có một mục đích: nhắc nhở ai đó rằng Ca Lặc vẫn đang nhìn.
Cô đứng dậy bước ra cửa lều, nhìn về phía đông nơi thảo nguyên phẳng lì đến tận chân trời. Bao muối của Đạt Lỗ vẫn nằm trên bàn trong lều, cạnh bản đồ có ba vòng tròn vụng về và hai chữ "kẽ nứt".
Kẽ nứt thì cũng có thể bị bịt lại.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.