Chương 81: Hầu Gia
Ngự y Trần Hoài An đến phòng Hầu gia đúng giờ mão mỗi sáng, không sớm hơn cũng không muộn hơn, đúng giờ theo cách của người muốn tỏ ra chuyên nghiệp nhưng thực ra đang giữ một lịch trình cố định để quan sát được nhiều nhất. Ông ta bắt mạch, ghi sổ, hỏi Phúc Bá về giấc ngủ đêm qua, hỏi Hầu gia có ăn được gì không, rồi kê thêm một thang thuốc bổ mà Lan Chu đã đọc qua và nhận ra không sai nhưng cũng không giúp gì nhiều, kiểu kê thuốc của người muốn giữ bệnh nhân ở nguyên trạng thái hiện tại thay vì cố chữa trị.
Mỗi lần Trần Hoài An rời phòng, ông ta đi chậm qua hành lang, mắt lướt qua cửa thư phòng của Lan Chu nếu cửa đang mở, lướt qua sân trước xem có khách nào đến, lướt qua khu bếp nơi Tiểu Hà đang sắp xếp bữa sáng. Tất cả những cái lướt đó đều tự nhiên đến mức nếu không biết thì không ai nghĩ ông ta đang làm gì khác ngoài đi dạo. Nhưng Lan Chu biết, vì anh đã dặn Tiểu Hà ghi lại lộ trình ngự y đi trong phủ mỗi ngày từ tuần đầu, và lộ trình đó đều đặn đến mức chỉ có thể là có chủ đích.
Sáng nay Hầu gia không mở mắt khi ngự y bắt mạch. Ông nằm yên, hơi thở mỏng, mặt xám hơn hôm qua. Trần Hoài An ghi vào sổ lâu hơn thường lệ, nét bút hơi chậm lại ở đoạn cuối, kiểu chậm của người đang cân nhắc viết gì cho đúng với cả hai phía ông ta phải báo cáo. Rồi ông ta cúi chào Phúc Bá, nói rằng Hầu gia cần nghỉ ngơi thêm, thuốc vẫn dùng theo đơn cũ và rời đi.
Khi bước qua hành lang, ông ta ngoái lại nhìn cửa phòng Hầu gia một lần, rồi đi thẳng về phòng riêng.
Lan Chu đứng ở góc sân, tay cầm chén trà đã nguội, nhìn theo bóng ông ta khuất sau cửa, rồi nhấp một ngụm trà lạnh và đi vào phòng cha vợ.
Hầu gia mở mắt khi nghe tiếng bước chân anh, dù anh đi rất nhẹ. Lão tướng ba mươi năm ngủ trong doanh trại thì dù nằm trên giường bệnh cũng phân biệt được bước chân từng người trong phủ. Bước chân con rể thì ông nhận ra từ lâu, bước chân nhẹ và đều, không vội, kiểu đi của người quen quan sát trước khi hành động.
"Ông ta đi rồi à?"
Ông hỏi, giọng khàn nhưng mắt tỉnh táo.
"Dạ, ngự y vừa về phòng."
Lan Chu ngồi xuống ghế cạnh giường, chỗ Phúc Bá ngồi lúc nãy nhưng lão đã ra ngoài pha trà mới.
"Nhạc phụ hôm nay cảm thấy thế nào?"
"Ta hỏi con trước."
Ông không trả lời câu hỏi mà nhìn thẳng vào mắt anh.
"Sáng nay có chuyện gì ngoài triều."
Đó không phải câu hỏi. Đó là lệnh, nhẹ nhàng nhưng vẫn là lệnh, vì Trấn Bắc Hầu dù nằm liệt giường vẫn giữ thói quen chỉ huy: không hỏi "có chuyện gì không" mà hỏi "có chuyện gì" vì ông biết luôn luôn có chuyện, chỉ là nặng nhẹ khác nhau.
Lan Chu cân nhắc một giây rồi quyết định nói thật một phần, vì ông đọc được mặt người giỏi hơn anh nói dối và dối ông chỉ khiến ông lo thêm.
"Phe Ngũ Hoàng Tử bắt đầu siết Chu tướng quốc. Ông ấy bị quản thúc chặt hơn, con nghe nói có người canh cả ngõ sau."
Anh nói bình thản, như đang kể chuyện thời tiết.
"Và hôm qua có tấu chương đề nghị triều đình thu hồi phần di chiếu giao phó cho con, lý do là tiên hoàng lúc ban chiếu đã không còn minh mẫn."
Hầu gia nghe, mắt không đổi, nhưng bàn tay đặt trên chăn khẽ nắm lại rồi buông ra, một phản xạ nhỏ mà ông không kiểm soát được và Lan Chu giả vờ không thấy.
"Con tính sao?"
Ông hỏi.
"Tiểu tế chưa tính gì cả."
Anh cười nhẹ, nụ cười quen thuộc, hiền lành và vô hại.
"Hắn vội. con không vội."
Ông nhìn anh thêm một lúc, rồi khẽ thở ra, hơi thở nặng hơn bình thường, kéo theo một tiếng ho nhỏ mà ông kìm lại được nửa chừng. Anh với tay lấy khăn đặt sẵn trên đầu giường đưa cho ông, ông lắc đầu không cần.
"Con bé sao rồi?"
Ông hỏi, giọng khác đi, nhẹ hơn, bớt đi cái sắc của tướng quân, thêm vào cái gì đó mà Lan Chu chỉ nghe thấy khi ông nhắc đến Chinh Vũ.
"Nàng vẫn viết thư cho con."
Anh đáp.
"Bức gần nhất là tuần trước. Vẫn khỏe."
Anh không nói cô thua trận, không nói Vương Hắc bị thương, không nói Ca Lặc biết quân số và lịch tuần tra, vì những thứ đó ông nghe xong chỉ thêm lo mà không thể làm gì. Ngoài ra cái giá của nỗi lo đó bây giờ tính bằng nhịp tim của ông.
"Vẫn khỏe."
Ông lặp lại chậm hai chữ đó như đang tự nhắc mình. Rồi ông nhắm mắt lại, và Lan Chu ngồi thêm một lúc cho đến khi hơi thở ông đều trở lại, mỏng nhưng đều, rồi anh đứng dậy, kéo chăn lên cao hơn một chút, và ra ngoài.
Cơn nguy kịch đến vào canh ba đêm đó, không báo trước, không từ từ, chỉ đột ngột như cách một con đê vỡ, im lặng rất lâu rồi sập một lúc.
Lan Chu đang ngồi ở thư phòng đọc lại bản ghi chép về luồng lương thảo phía bắc kinh thành thì nghe tiếng Phúc Bá gọi, không to nhưng gấp, kiểu gấp mà lão không bao giờ để lọt ra ngoài trừ khi thật sự cần. Anh bỏ bút xuống và chạy sang.
Hầu gia nằm nghiêng ho, nhưng không phải tiếng ho khan mỗi ngày mà là tiếng ho ướt và nặng, kéo theo máu. Phúc Bá đỡ ông, tay lão run, khăn trắng trong tay đã đỏ một mảng, và lão nhìn lên khi Lan Chu bước vào bằng đôi mắt mà anh chưa bao giờ thấy ở lão. Đôi mắt của người đã phục vụ ba đời Hầu phủ và hiểu rằng đây có thể là đêm cuối cùng ông chủ mình ở trên đời.
Lan Chu không dừng lại để sợ. Anh ngồi xuống bên giường, đặt tay lên lưng ông, ấn nhẹ để ông nghiêng người nhiều hơn cho máu chảy ra ngoài thay vì tắc lại trong cổ họng. Kiếp trước anh đã làm điều này cho mẹ không biết bao nhiêu lần khi bà nôn ra máu lúc nửa đêm. Tay anh nhớ cách cấp cứu trước khi đầu anh kịp nghĩ đến. Tay kia anh lấy khăn sạch từ Phúc Bá lau miệng ông, kiểm tra màu máu, nghe nhịp thở, tất cả những thứ mà một giáo viên lịch sử không nên biết nhưng một đứa con chăm mẹ bệnh mãn tính mười mấy năm thì biết rõ hơn cả sách.
"Không gọi ngự y."
Anh nói với Phúc Bá, giọng nhẹ nhưng rõ, không cho phép bàn cãi.
Phúc Bá nhìn anh, lão hiểu và gật đầu.
Cơn ho kéo dài có lẽ nửa canh giờ, có lẽ lâu hơn, Lan Chu không đếm vì đếm cũng vô ích. Anh chỉ giữ ông ở tư thế nghiêng, lau máu, thay khăn, và nói chuyện nhỏ bên tai ông mỗi khi ông tỉnh giữa hai cơn ho. Anh nói những thứ không quan trọng, kiểu "Phúc Bá pha trà mới rồi, lát Hầu gia uống một ngụm", kiểu nói mà mục đích duy nhất là cho ông biết có người ở đây, ông không ho một mình trong đêm.
Kiếp trước mẹ anh cũng ho như vậy, cũng nửa đêm, cũng máu, cũng không có ai ngoài anh. Khác ở chỗ hồi đó anh mười bảy, tay run, khóc và gọi cấp cứu mà mãi không thấy xe đến. Bây giờ anh không run, không khóc, nhưng cảm giác ướt và nóng của máu trên ngón tay thì giống hệt. Anh nghĩ rằng có những thứ mình tưởng đã quên nhưng thực ra chỉ cất vào một ngăn nào đó trong đầu, đợi đến lúc cần thì mở ra thì nó vẫn nguyên vẹn như mới hôm qua.
Máu ngừng chảy dần. Hơi thở Hầu gia yếu đi nhưng đều lại, mỏng như sợi tơ mà vẫn không đứt. Lan Chu thay gối, thay khăn trải giường, đặt ông nằm ngửa, kê đầu cao hơn bình thường để đường thở thông hơn, rồi ngồi lại bên giường, tay vẫn đặt trên mu bàn tay ông, cảm nhận nhịp mạch qua da.
Phúc Bá đứng ở cuối giường, lưng vẫn thẳng nhưng vai hơi rũ, tay nắm chặt chiếc khăn đẫm máu mà lão quên chưa bỏ đi. Căn phòng im lặng, chỉ có tiếng thở của Hầu gia và tiếng gió ngoài cửa sổ, và đâu đó ngoài hành lang tiếng trở mình của ngự y Trần Hoài An trong phòng riêng. Ông ta vẫn ngủ và không biết gì.
Hầu gia tỉnh lại khi trời gần sáng, ánh đèn dầu đã cạn nhưng chưa tắt hẳn. Điều đầu tiên ông nhìn thấy là bàn tay Lan Chu vẫn đặt trên tay ông, bàn tay gầy và dài của thư sinh, ngón thanh, có vết mực ở đầu ngón trỏ, và có vết máu đã khô ở kẽ ngón mà anh chưa kịp rửa.
Ông nhìn bàn tay đó một lúc, rồi nhìn lên mặt anh. Lan Chu không ngủ, mắt có quầng nhưng tỉnh, và khi thấy ông mở mắt thì anh cười nhẹ, kiểu cười mà anh vẫn cười mỗi khi muốn nói "không sao đâu" mà không cần nói.
Ông không cười lại. Ông nhìn anh một lúc lâu bằng đôi mắt đã mờ đi nhiều so với mấy tháng trước nhưng lúc này lại sáng một cách lạ thường, kiểu sáng của người vừa đi qua một chỗ rất tối và quay lại được.
"Hiền tế à."
Ông nói, giọng khàn đến mức gần như không ra tiếng, nhưng từng chữ rõ ràng.
"Ta đã không mua nhầm."
Ba chữ "không mua nhầm", anh nghe và hiểu rằng đây là tất cả những gì ông biết nói khi muốn nói cảm ơn. Ông là người cả đời giao dịch, mua bán, đổi chác các lợi ích giữa quan trường và ngôn ngữ thương mại là thứ duy nhất ông có cho tình cảm. Điều đó vừa buồn cười vừa buồn thật, đúng kiểu buồn mà anh đã quen.
"Nhạc phụ ngủ tiếp đi."
Anh nói nhẹ.
"Sáng rồi. Con đi nấu cháo."
Ông nhìn anh thêm một lúc, rồi nhắm mắt. Hơi thở mỏng dần, nhưng không tắt, mỏng kiểu ngủ chứ không phải kiểu rời đi. Lan Chu ngồi thêm vài phút cho chắc, rồi đứng dậy, và khi quay người thì nhìn thấy chén trà trên đầu giường mà Phúc Bá đặt từ tối qua. Trà đã lạnh ngắt, mặt nước không gợn, ông không uống nổi một ngụm suốt cả đêm. Anh nhìn chén trà đó một lúc, rồi nhấc lên mang ra ngoài.
Phúc Bá đứng ở hành lang, lưng quay về phía anh, mặt quay ra sân. Lão đứng rất thẳng, như mọi khi, nhưng vai lão rung nhẹ, gần như không thấy, và tay lão đang đưa lên mặt rồi hạ xuống nhanh, kiểu người không muốn bị bắt gặp đang lau nước mắt.
Lan Chu dừng ở cửa, tay vẫn cầm chén trà lạnh, không bước thêm, không lên tiếng, đợi cho lão xong rồi mới ho nhẹ một tiếng báo hiệu mình đi ra. Phúc Bá quay lại, mắt hơi đỏ nhưng giọng bình thường, hỏi anh có cần gì không.
"Phúc Bá."
Anh nói, cũng giọng bình thường, đặt chén trà lạnh xuống bậu cửa.
"Pha cho tôi chén trà mới. Rồi ngồi lại đây, tôi có chuyện muốn bàn."
Hai người ngồi ở góc hành lang, xa phòng Hầu gia, xa phòng ngự y, xa cả phòng Tiểu Hà. Trời mới hửng sáng, sân trống, gió sớm lạnh, chén trà bốc khói mỏng.
Lan Chu gõ nhẹ ngón tay lên đầu gối, một hai ba bốn, nhịp cũ từ kiếp trước mà anh không bỏ được, rồi nói với Phúc Bá rằng Hầu gia vẫn có thể sống, nhưng không phải bằng cách đang chữa.
Anh không giải thích nhiều. Anh rút từ trong tay áo ra tờ giấy viết đêm qua, gấp gọn, chữ nhỏ, đưa cho lão.
Phúc Bá đón lấy, mở ra đọc chậm. Vệ sinh tay trước khi chạm vào vết thương. Dùng nước muối loãng thay vì rượu mạnh. Thay băng hai lần mỗi ngày. Giữ phòng thông thoáng nhưng không lạnh. Cháo nấu với xương hầm lấy chất thay vì cháo trắng với đường. Mỗi ngày cho ông ngồi dậy nửa canh giờ rồi tăng dần. Cách kiểm tra vết thương nhiễm trùng bằng mùi và màu.
Phúc Bá đọc xong, ngẩng lên nhìn anh. Lão Không hỏi anh học ở đâu, vì lão đã theo dõi anh từ ngày đầu bước vào phủ, đã thấy anh biết những thứ mà thư sinh không nên biết, đã thấy anh nấu ăn giỏi hơn đầu bếp, đã thấy anh vá áo bằng mũi khâu lạ mà không ai dạy. Từ đó lão đã tự đặt cho mình một nguyên tắc rất đơn giản: không hỏi tại sao, chỉ nhìn kết quả.
"Lão nấu thuốc thay ngự y."
Lan Chu nói.
"Tôi sẽ nói với Trần Hoài An rằng Hầu gia quen uống thuốc do người nhà nấu, nhạc phụ nhất định không chịu uống của người lạ, tính ông vậy mà, ngự y đại nhân thông cảm."
Anh cười nhẹ.
"Nói kiểu đó thì ông ta không có lý do từ chối, vì ông ta vẫn được bắt mạch, vẫn được ghi sổ, vẫn báo cáo được rằng Hầu gia yếu lắm, sắp đi rồi."
Phúc Bá nghe đến đây thì hiểu. Lão hiểu không chỉ phần y học mà cả phần đằng sau: nếu Hầu gia khỏe lại mà mọi người biết thì Ngũ Hoàng Tử sẽ ra tay ngay, vì một Trấn Bắc Hầu khỏe mạnh ngồi ở kinh thành là quân cờ mà Tiêu Thần Uyên không thể chấp nhận. Nhưng nếu Hầu gia khỏe lại mà không ai biết, nếu ngự y vẫn báo cáo rằng ông sắp chết, nếu cả kinh thành vẫn nghĩ ông nằm liệt, thì ông trở thành thứ mà Ngũ Hoàng Tử không bao giờ tính vào bàn cờ.
Giấu sức để người khác đánh giá thấp để chờ đúng lúc.
"Lão hiểu rồi."
Phúc Bá nói gọn.
"Cô gia nói thì lão làm."
"Không nói cho ai, kể cả Tiểu Hà."
Anh dặn thêm, nhẹ hơn.
"Cô ấy giấu không giỏi, mặt cô ấy dễ đọc quá."
Phúc Bá gật đầu, không bình luận, nhưng khóe miệng lão hơi nhích rất nhẹ, vì câu nhận xét về Tiểu Hà đúng đến mức đáng ra lão phải cười nhưng lão vừa khóc xong nên cười không nổi.
"Đọc xong thì đốt."
Lan Chu nói thêm, chỉ vào tờ giấy trong tay lão.
"Nhớ trong đầu là đủ."
Phúc Bá gấp tờ giấy lại, cất vào trong áo, gật đầu lần nữa. Lão đứng dậy, bê chén trà lạnh trên bậu cửa đi đổ, rồi vào bếp nấu cháo xương hầm theo đúng tờ giấy vừa đọc. Lan Chu nhìn theo bóng lão khuất sau cửa bếp, nhận ra bước chân lão nhanh hơn mấy tháng nay, kiểu nhanh của người có việc phải làm thay vì chỉ ngồi cạnh giường đếm nhịp thở ông chủ.
Tin Hầu gia nguy kịch truyền ra biên cương mười hai ngày sau, bằng đường dịch trạm thường, vì Lan Chu không dám gửi theo đường riêng do sợ bị chặn. Thư anh viết ngắn, mỗi câu cân nhắc kỹ vì anh biết thư có thể bị mở giữa đường:
"Hầu gia trọng bệnh, đã qua cơn nguy kịch nhưng chưa ổn. Nàng không cần về, phủ có người lo. Mì vẫn nấu sẵn."
Chinh Vũ nhận thư vào buổi chiều, trong lều chỉ huy, giữa lúc đang nghe phó tướng báo cáo tình hình tuần tra. Cô mở phong bì và đọc, mặt không đổi, sau đó gấp lại, nhét vào túi áo trong chỗ cũ, chỗ gần ngực nhất trên người một người lính.
"Tiếp tục."
Cô nói với phó tướng, giọng bình thường.
Phó tướng nhìn cô, thoáng ngập ngừng vì ông thấy bức thư, nhưng cô không giải thích và ông không hỏi, vì Tầm tướng quân không bao giờ giải thích chuyện riêng trước mặt thuộc hạ. Ông tiếp tục báo cáo, cô nghe, gật đầu, ra lệnh điều chỉnh tuyến tuần tra phía đông, rồi bảo mọi người ra ngoài.
Khi lều chỉ huy chỉ còn mình cô, cô mới lấy thư ra đọc lại, lần này chậm hơn. Cô dừng ở câu "đã qua cơn nguy kịch nhưng chưa ổn", vì anh là người không bao giờ nhắc đến chuyện đã xảy ra trừ khi nó đủ nghiêm trọng để nhắc. "Đã qua cơn nguy" nghĩa là có lúc suýt không qua, nghĩa là có một đêm nào đó ở kinh thành mà anh ngồi bên giường cha cô và không biết ông có thở tiếp được không. Anh không viết đêm đó ra, vì anh biết cô đang ở nơi không thể làm gì, và biết mà không thể làm gì thì tốt hơn đừng biết nhiều.
Câu "Nàng không cần về", cô đọc và hiểu ngay rằng nó có hai nghĩa: một là cô không cần về vì có người lo, hai là cô không được về vì ba vạn quân đang chờ cô chỉ huy và biên cương không cho phép cô bỏ đi. Anh viết "không cần" thay vì "không được" là vì anh không bao giờ ra lệnh cho cô, dù trong thư, dù cách xa mấy trăm dặm.
Bốn chữ cuối "mì vẫn nấu sẵn", cô đọc và không đọc lại, vì lần đọc đầu đã đủ, như mọi lần.
Cô ngồi im một lúc, tay đặt trên mặt bàn, bên cạnh bản đồ trận địa. Rồi cô đứng dậy, mở rương quân trang ở góc lều, lấy ra thanh kiếm cha cho cô ngày cô mười lăm tuổi, ngày đầu tiên cô theo ông ra chiến trường. Thanh kiếm cũ và nặng, đã mài nhiều lần nên lưỡi mỏng hơn ngày xưa, chuôi quấn da cũng sờn, nhưng cô không đổi vì đây là thanh kiếm duy nhất ông cho cô, và ông cho cô ít thứ trong đời, nhưng thứ nào cho thì đều nặng.
Cô ngồi cầm kiếm, nhìn lưỡi kiếm phản ánh ánh đèn dầu, và cô không khóc vì cô không biết khóc kiểu đó, kiểu ngồi một mình trong lều khóc vì nhớ nhà. Cô chỉ cảm thấy một thứ gì đó nằm ở đâu đó giữa ngực và cổ họng, nặng nhưng không đau. Hoặc đau, nhưng không giống bất kỳ vết thương nào cô từng chịu.
Cô cất kiếm lại và đứng dậy, rồi mặc giáp. Sau đó cô bước ra ngoài lều, gọi phó tướng, gọi trưởng đội kỵ binh, gọi trinh sát.
"Sáng mai ra trận."
Cô nói, giọng bình thản, mắt bình thản, tay đặt trên chuôi kiếm bình thản, và không ai đứng đó thấy có gì khác so với mọi lần cô ra lệnh trước trận.
Nhưng phó tướng sau đó kể lại với Vương Hắc rằng mắt tướng quân hôm đó khác, ông không biết mô tả thế nào, chỉ biết là khác. Vương Hắc nghe, ông ta nằm trên giường thương binh ở hậu phương, chân bó lại, lưng dựa vách lều, Đào Nương ngồi cạnh đan áo, và ông ta im lặng rất lâu sau khi phó tướng kể xong.
"Hầu gia sao rồi?"
Ông ta hỏi, vì ông ta là tướng theo Hầu gia ba mươi năm, ông hiểu trước khi phó tướng nói hết.
"Thư kinh thành nói trọng bệnh, đã qua cơn nguy."
Vương Hắc gật đầu, rồi nói chậm:
"Tướng quân mà đánh kiểu này thì nguy."
Đào Nương ngẩng lên nhìn lão, kim đan dừng lại.
"Không phải nguy cho cô ấy."
Ông ta nói thêm, nhìn ra ngoài lều, nhìn về phía bắc nơi thảo nguyên trải dài.
"Nguy cho Ca Lặc. La Sát đánh vì hào sảng thì vẫn biết tiến lùi. La Sát đánh vì giận mà không nói ra được thì không biết dừng."
Đào Nương không nói gì mà đan tiếp, nhưng bà nhìn theo hướng Vương Hắc nhìn thêm một lúc trước khi cúi xuống.
Ở kinh thành, buổi sáng hôm sau, Phúc Bá bê vào phòng Hầu gia một bát cháo xương hầm thay cho bát cháo trắng mỗi ngày. Khi ngự y Trần Hoài An hỏi sao đổi cháo thì lão đáp rằng Hầu gia nhắc nhớ cháo vợ nấu ngày xưa có xương, lão nấu theo cho ông vui, già rồi hay nhớ chuyện cũ, ngự y đại nhân đừng chấp.
Trần Hoài An gật đầu, không hỏi thêm, chỉ ghi vào sổ rằng bệnh nhân bắt đầu có biểu hiện hoài niệm, tinh thần suy giảm, tiên lượng: vài tháng, có thể ít hơn.
Bản báo cáo đó theo đường ngựa trạm về tay Ngũ Hoàng Tử trước buổi trưa. Hắn đọc, gật đầu, xếp vào chồng công văn đã xử lý, và không nghĩ thêm về Trấn Bắc Hầu nữa, vì trong bàn cờ của hắn ông già đó đã là quân đã chết, chỉ chưa gạch tên.
Cùng lúc đó, ở góc phòng Hầu gia, Phúc Bá đang thay băng cho ông bằng nước muối loãng thay vì rượu, theo tờ giấy mà lão đã đọc ba lần rồi đốt đêm qua. Hầu gia nhăn mặt khi nước muối chạm vào vết loét nhưng không kêu, vì ông chịu đau quen rồi. Và cũng vì ông đã nghe Lan Chu nói với Phúc Bá lúc sáng sớm rằng "nếu nhạc phụ chịu nghe lời, con sẽ giúp người đứng dậy". Ông không biết thằng con rể thư sinh của mình làm được hay không, nhưng ông biết một chuyện: nó chưa bao giờ nói câu nào mà không tính trước.
Nắng sáng lọt qua khe rèm cửa, rơi lên sàn phòng, rơi lên chăn trắng, rơi lên bàn tay Phúc Bá đang cẩn thận quấn lại lớp băng mới. Ngoài hành lang, Lan Chu đang pha trà, và khi ngự y Trần Hoài An đi ngang, anh rót thêm một chén, mời ông ta uống, cười nói rằng hôm nay trời đẹp nhỉ.
Ông ta nhận chén trà, cảm ơn, uống một ngụm, khen trà ngon.
Anh cười, gật đầu, rồi quay vào thư phòng, ngồi xuống bàn, nhìn chồng tấu chương chưa đọc xong từ hôm qua. Anh nghĩ rằng kiếp trước chăm một người bệnh đã mệt, kiếp này chăm một người bệnh giữa lúc đang bị cả triều đình bao vây thì mệt gấp đôi, mà hồi đó ít nhất còn có bảo hiểm y tế, còn ở đây bảo hiểm duy nhất là một lão quản gia bảy mươi tuổi và một tờ giấy đã đốt.
Anh mở tấu chương ra đọc, nhưng mắt dừng ở dòng đầu mà không đọc tiếp, vì đầu anh đang ở chỗ khác. Anh nghĩ về bức thư vừa gửi cho cô, nghĩ về câu "nàng không cần về" mà anh viết, và tự hỏi nếu cô ở đây thì cô sẽ nắm tay cha mình hay nắm chuôi kiếm, sẽ khóc hay mài kiếm. Anh biết câu trả lời là cô sẽ mài kiếm, vì cô không biết cách nào khác, và anh cũng không biết cách nào khác ngoài nấu cháo và viết tờ giấy. Có lẽ hai người giống nhau ở chỗ đó: không ai biết khóc đúng lúc, nên cả hai đều làm thứ mình biết làm thay cho nước mắt.
Rồi anh gạt hết ra khỏi đầu, nhìn lại tấu chương, và bắt đầu đọc thật, vì ngoài kia Ngũ Hoàng Tử đang siết Chu Đình Nghiêu, Lục Kính Đường đang bị ép từng bước, mạng lưới đang bị tỉa. Do đó annh không có quyền ngồi nghĩ về vợ quá lâu khi cả bàn cờ đang chờ anh đi nước tiếp.
Tay anh gõ nhẹ lên mặt bàn, một hai ba bốn, rồi dừng, rồi lật trang.
Thảo luận
Bình luận chương
0 bình luận
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận chương này.