Nàng Mua Ta 500 Lượng, Ta Trả Nàng Giang Sơn

Chương 80: Bức Thư Giữa Chiến Tranh

Đăng: 10/08/2026 06:25 2,877 từ 2 lượt đọc

Cô viết thư vào canh ba trong lều chỉ huy, dưới ánh đèn dầu đã vặn nhỏ hết mức vì dầu cũng phải tiết kiệm như lương thảo.

Bút nhúng mực, giấy trải trên mặt bàn, bên cạnh tấm bản đồ cô đã nhìn suốt cả đêm mà vẫn chưa đọc ra được gì mới. Cô nhìn tờ giấy trắng một lúc, rồi bắt đầu viết theo cách cô vẫn viết từ bức thư đầu tiên gửi anh, từ đồn Thanh Phong mấy tháng trước, cách viết duy nhất cô biết.

"Đồn Bạch Lộ, ngày hai mươi ba. Tình hình như sau: trận đánh ngày hai mươi mốt tại thung lũng Bạch Lộ, quân ta rút về giữ đồn, tổn thất chưa kiểm đếm xong nhưng ước chừng nghìn rưỡi đến hai nghìn, bao gồm hơn một trăm kỵ binh mất trên đường mở lại tuyến Thanh Phong. Đường tiếp tế hiện tạm thông nhưng không chắc giữ được lâu. Vương tướng quân bị thương ở đùi trái, đã chuyển về hậu phương, chưa biết có lành hoàn toàn hay không."

Cô dừng bút, nhìn dòng cuối về Vương Hắc rồi viết tiếp.

"Ca Lặc không đánh kiểu cũ. Hắn bao vây chậm, cắt tiếp tế, ép ta ra đánh trên địa hình hắn chọn. Hắn biết lịch tuần tra, quân số các đồn, và điểm yếu trên đường Thanh Phong. Ta không biết ai tiết lộ cho hắn biết."

Cô viết mấy câu đó rồi nhìn lại, cân nhắc có nên gạch đi không, vì đây là thừa nhận rằng cô đang bối rối và cô chưa bao giờ thừa nhận điều đó với ai trong đời. Nhưng cô để nguyên, vì người đọc bức thư này là người duy nhất mà cô không cần giả vờ phải biết hết mọi thứ.

"Hôm nay ta viết ba bức thư. Hai bức cho người sống và một bức cho cha của người đã chết."

Cô dừng lại ở đó, rồi hìn dòng cuối cùng mình vừa viết, nhìn chữ "chết" nằm cuối câu đen và gọn trên giấy trắng. Sau đó cô nhúng bút lại và viết thêm ở dưới hai chữ, không gạch, không do dự.

"Đừng chết."

Cô gấp thư lại và đóng phong bì, rồi viết tên người nhận ra ngoài bì, nét bút dứt khoát như mọi khi, không run, không ngoằn ngoèo, vì tay cô cầm kiếm cả đời thì cầm bút cũng vậy.

Sau cùng cô bước ra ngoài lều. Đêm lạnh hơn trong lều nhiều, gió bắc thổi từ thảo nguyên vào mang theo mùi cỏ khô và mùi lạnh của đất chưa đóng băng nhưng sắp đóng. Một người lính đứng đợi sẵn ở ngoài, gọn gàng, không giáp, mặc đồ thường dân, ngựa buộc cạnh cọc lều. Cậu ta là trinh sát quen đường, một trong số ít người biết cách luồn qua tuyến Hung Nô vào ban đêm mà không bị phát hiện.

Cô đưa bức thư cho cậu ta. Cậu nhận, nhét vào trong áo, cúi đầu.

"Đi đường nào?"

Cô hỏi.

"Đường khe núi phía tây, thưa tướng quân. Hung Nô không đóng quân ở đó vì ngựa không qua được."

"Ngựa ngươi cũng không qua được."

"Dạ, tiểu nhân sẽ dắt ngựa sẽ đi bộ đoạn đó."

Cô nhìn cậu lính, nhìn bóng tối phía sau cậu, rồi gật đầu. Cậu ta lên ngựa và phi nhanh vào bóng đêm.

Cô đứng thêm một lúc ở ngoài lều, nhìn theo hướng cậu lính vừa đi, rồi nhìn về phía nam, phía kinh thành mà cô không nhìn thấy gì ngoài bóng tối và gió. Rồi cô quay vào lều, ngồi xuống trước bản đồ và tiếp tục nhìn vào những đường kẻ mà cô đang cố học cách đọc khác đi.

Bức thư đến tay Lan Chu sáu ngày sau. Phải mất tận sáu ngày là vì người lính trinh sát phải đi bộ qua khe núi phía tây suốt một đêm, dắt ngựa trên đá trơn, rồi cưỡi ngựa chạy ba ngày nữa mới đến đồn Thanh Phong. Từ đó thư được chuyển tiếp về kinh thành theo đường trạm bình thường, và bức thư cuối cùng nằm trên bàn anh vào buổi chiều một ngày mưa nhỏ. Lúc đó anh đang đọc dở tập tấu chương mượn từ viên đồng liêu ở Hàn Lâm Viện, người duy nhất trong viện vẫn còn chịu cho anh mượn tài liệu mà không sợ bị phe Ngũ Hoàng Tử để ý.

Anh đang ngồi ở bàn, ghế đối diện trống, chỗ mà mấy tháng trước cô hay ngồi xử lý công văn buổi tối trong khi anh đọc sách, hai người không nói gì nhưng cùng ở đó. Bây giờ cái ghế đó vẫn ở đúng vị trí cũ vì anh không dời đi, dù nhìn cái ghế trống mỗi tối cũng không dễ chịu gì. Anh nhận ra chữ cô trên bì thư ngay lập tức, vì nét bút đó anh đã quen từ bức đầu tiên, dứt khoát và thẳng, kiểu chữ của người viết ít nhưng khi viết thì không do dự.

Rồi anh mở thư ra và đọc chậm từng dòng phần báo cáo quân sự trước. Nghìn rưỡi đến hai nghìn tổn thất, hơn trăm kỵ binh mất trên đường Thanh Phong, Vương Hắc bị thương đùi trái, Ca Lặc biết lịch tuần tra và quân số và cô không biết ai tiết lộ cho hắn biết.

Anh đọc câu đó hai lần. Lần thứ hai đọc chậm hơn, vì anh biết câu trả lời mà cô đang tìm, hoặc ít nhất anh đang nắm sợi dây dẫn đến câu trả lời đó, sợi dây bắt đầu từ lương thảo bất thường ở phía bắc kinh thành mà anh phát hiện tuần trước. Nhưng anh chưa đủ bằng chứng, và viết ra khi chưa chắc chắn thì nguy hiểm hơn không viết.

Rồi anh đọc đến dòng "Hôm nay ta viết ba bức thư. Hai bức cho người sống và một bức cho cha của người đã chết."

Anh dừng lại và đặt thư xuống bàn, rồi nhìn vào dòng đó thêm một lúc. Vì cô không viết tên, không viết ai, nhưng anh biết ở biên cương có bao nhiêu người trẻ đang cầm giáo lần đầu. Anh cũng biết cô không phải người viết thêm một câu nào mà không cần thiết, nên câu đó nặng hơn bất kỳ con số tổn thất nào phía trên.

Hai chữ cuối cùng "đừng chết," anh đọc và không đọc lại, vì lần đầu đã đủ.

Anh gấp thư lại, mở ngăn bàn, lấy hộp gỗ ra. Hộp đựng bút cũ mà anh đã phủi bụi và dùng làm nơi cất thư cô từ bức đầu tiên, ngày cô viết "nhớ thêm áo" thay cho câu dài hơn đã gạch đi. Bây giờ mở nắp ra, bên trong hộp đã gần đầy, mấy chục bức xếp gọn theo thứ tự, bức cũ nhất ở dưới cùng, giấy đã ngả vàng nhẹ. Anh đặt bức mới nhất lên trên, đậy nắp và cất lại.

Từ phòng bên cạnh vọng qua tiếng ho nhẹ rồi kiềm lại, nhưng vẫn nghe rõ qua vách mỏng. Anh ngồi yên một lúc, lắng nghe và đợi tiếng ho thứ hai. Tiếng ho thứ hai không đến, nhưng cũng không có tiếng trà được rót hay tiếng sách được lật mà chỉ có sự im lặng của một người đang nằm yên trên giường. Anh đứng dậy, bước sang phòng Hầu gia, rồi nhìn vào.

Ông nằm nghiêng, mắt nhắm, chăn đắp đến ngực, hơi thở đều nhưng mỏng hơn tháng trước, mỏng theo cách mà nếu không chú ý thì không nhận ra nhưng nếu nhìn mỗi ngày thì thấy rõ. Phúc Bá ngồi ở ghế cạnh giường, lưng vẫn thẳng dù đã ngồi đó không biết bao lâu, tay đặt trên đùi, mắt nhìn ông.

Anh nhìn ông thêm một lúc, rồi quay lại thư phòng, ngồi xuống, lấy giấy ra.

Thư trả lời anh viết buổi tối hôm đó. Anh viết phần phân tích chính trị trước, theo thói quen, vì đây là thứ cô cần biết và cũng là thứ anh viết giỏi nhất.

"Tình hình kinh thành như sau. Ngũ Hoàng Tử đã nắm quyền điều hành thực tế dưới danh nghĩa phụ chính thần, phe hắn bắt đầu tấn công mạng lưới bằng cách điều chuyển người ra khỏi kinh thành. Ta bị tấu rằng đã thao túng tiên hoàng, hắn muốn vô hiệu phần di chiếu liên quan đến ta. Nhưng hắn vội vàng, và người vội thì sai nhiều hơn người chậm.

Anh viết thêm vài dòng về tình hình cụ thể, rồi dừng lại, nhúng bút, viết tiếp một đoạn mà anh biết cô sẽ đọc kỹ hơn phần chính trị.

"Về Ca Lặc, nàng nói hắn biết quân số và lịch tuần tra, đó là thông tin chỉ có người trong triều mới nắm. Ta chưa biết ai, nhưng ta đang tìm. Thêm một chuyện nàng có thể dùng được: liên minh bộ lạc Hung Nô dựa trên sợ hãi và lợi ích, không phải trung thành. Loại liên minh đó chỉ vững khi thủ lĩnh đang thắng. Nếu có bộ lạc nào thấy lợi ở phía bên kia, liên minh sẽ nứt từ rìa vào. Nàng đừng chỉ đánh hắn, hãy đánh vào chỗ hắn không kiểm soát được."

Anh đọc lại đoạn đó, cân nhắc có nên viết gọn hơn không, vì đây là lời khuyên quân sự gửi cho một tướng quân biên cương và anh chỉ là thư sinh chưa đánh trận ngày nào trong đời. Nhưng anh để nguyên, vì cô không cần anh khiêm tốn, cô cần anh nói thật.

Rồi anh viết thêm, ngắn hơn, giọng khác hẳn phần trước.

"Hầu gia vẫn uống trà mỗi sáng."

Anh dừng lại và nhìn câu đó. Cả hai đều biết câu đó có nghĩa gì và không có nghĩa gì.

Cuối cùng anh viết dòng cuối, như mọi bức thư trước, dòng mà anh luôn viết nhanh nhất vì không cần nghĩ.

"Mì đã nấu sẵn."

Anh nhìn câu đó, rồi nhìn sang bếp góc phòng. Nồi mì anh nấu tối qua vẫn còn nguyên trên bếp nguội vì anh quên ăn. Anh nhận ra mình viết "mì đã nấu sẵn" cho cô trong khi chính mình thì để mì nguội qua đêm, nhưng anh không sửa câu đó vì nó vẫn đúng. Mì vẫn ở đó, vẫn chờ, chỉ là người ăn thì chưa về.

Sau cùng anh cất bút, gập thư, đóng phong thư. Rồi anh đặt thư lên góc bàn để sáng mai Tiểu Hà mang đi theo đường trạm đến Thanh Phong. Từ đó sẽ có người chuyển tiếp lên Bạch Lộ, nếu đường còn thông, nếu người chuyển không bị chặn, nếu bức thư không nằm lại ở đâu đó giữa thảo nguyên cùng với người mang nó.

Anh nhìn phong thư trên góc bàn, rồi nhìn sang hộp gỗ đã đậy nắp trong ngăn. Mấy chục bức thư cô gửi, anh giữ hết, từ bức đầu tiên giống báo cáo quân sự đến bức vừa rồi kết bằng hai chữ "Đừng chết." Thư của anh gửi đi thì anh không giữ được bản nào, và anh không biết cô có giữ không, nhưng anh cũng không hỏi, vì có những thứ không cần hỏi.

Từ phòng bên, tiếng ho lại vọng qua, nhẹ hơn lần trước, gần như chỉ là tiếng thở hơi nặng hơn bình thường. Anh ngồi yên, lắng nghe, đợi đến khi tiếng thở đều lại, rồi tắt đèn.

Bức thư của anh đến tay cô mười một ngày sau khi cô gửi bức của mình đi.

Mười một ngày, thời gia đủ để cô đánh thêm hai trận nhỏ giữ phòng tuyến, đủ để cô dời doanh trại về vị trí phòng thủ tốt hơn, đủ để cô nhận tin Vương Hắc đã tỉnh, đã từ chối nằm yên theo lệnh thầy thuốc, đã thử đứng dậy hai lần và ngã lại cả hai lần. Hiện tại ông ta đang cãi nhau với Đào Nương vì bà nấu cháo loãng cho ông ăn thay cơm. Vương Hắc nói cháo là đồ cho người ốm, bà nói ông ta đang ốm, ông ta nói mình chỉ bị chém chứ không ốm, bà nói bị chém mà không chịu nằm yên thì sớm muộn cũng ốm. Cuộc cãi nhau đó theo người mang tin kể lại thì vẫn chưa có hồi kết.

Người lính mang thư đến vào buổi chiều, khi cô đang ngồi trong lều chỉ huy xem lại báo cáo trinh sát. Cô nhận phong thư, nhìn chữ anh trên bì thư, nét bút mảnh và đều, kiểu chữ của người viết nhiều nên chữ nào cũng giống nhau, khác hẳn chữ cô to và thưa vì cô viết ít.

Cô mở ra, đọc phần chính trị trước, vì đó là phần cô cần. Ngũ Hoàng Tử nắm quyền, phe hắn tấn công mạng lưới. Anh bị tấu, nhưng "hắn vội vàng và người vội thì sai nhiều hơn người chậm". Cô đọc câu đó và thấy giọng anh trong đầu, giọng bình thản, hơi tự tin, kiểu tự tin của người đang thua trên bàn cờ nhưng biết ván cờ chưa kết thúc.

Rồi cô đọc đến đoạn về Ca Lặc.

"Liên minh bộ lạc Hung Nô dựa trên sợ hãi và lợi ích, không phải trung thành. Loại liên minh đó chỉ vững khi thủ lĩnh đang thắng. Nếu có bộ lạc nào thấy lợi ở phía bên kia, liên minh sẽ nứt từ rìa vào. Nàng đừng chỉ đánh hắn, hãy đánh vào chỗ hắn không kiểm soát được."

Cô đọc đoạn đó hai lần. Lần thứ hai chậm hơn, tay vô thức gõ lên mặt bàn theo nhịp bốn, rồi dừng, vì thói quen đó vẫn không phải của cô nhưng cô đã bắt đầu hiểu tại sao anh gõ như vậy khi suy nghĩ.

Đánh vào chỗ hắn không kiểm soát được. Cô chưa biết chỗ đó ở đâu, nhưng lần đầu tiên kể từ trận thua, cô có một hướng để tìm thay vì chỉ nhìn bản đồ mà không đọc ra gì.

Rồi đến dòng "Hầu gia vẫn uống trà mỗi sáng". Cô đọc câu đó và im lặng. Bảy chữ không thêm gì, không bớt gì. Cha cô vẫn uống trà mỗi sáng, nghĩa là cha cô vẫn còn sống, vẫn còn dậy được, vẫn còn ngồi cầm chén trà. Nhưng nếu mọi thứ đều tốt thì anh không cần viết câu đó ra, vì người ta chỉ nhắc đến những thứ bình thường khi những thứ bình thường bắt đầu không còn bình thường nữa.

Cô không nghĩ thêm về chuyện đó, vì cô không cho phép mình nghĩ thêm, vì cô đang ở đây, cách kinh thành mấy trăm dặm. Có những thứ nghĩ đến mà không thể làm gì thì tốt hơn đừng nghĩ.

Dòng cuối là "mì đã nấu sẵn", cô đọc và khóe miệng hơi nhích, nhẹ đến mức không ai đứng ngoài lều nhìn vào sẽ thấy, nhưng nếu có ai nhìn kỹ thì sẽ thấy mắt cô cũng hơi nhích theo. Kiểu nhích của người muốn cười mà không cười được vì đang ở giữa chiến trường và vì bát mì đó ở cách đây quá xa.

Cô ngồi cầm bức thư thêm một lúc, không gấp lại, không cất đi. Ngoài lều, gió bắc vẫn thổi, tiếng lính đổi gác vọng vào đều đặn. Ơ đâu đó phía bắc thảo nguyên, Ca Lặc đang chuẩn bị trận tiếp theo mà cô chưa biết sẽ đánh thế nào cho khác lần trước.

Nhưng lúc này, trong vài phút này, cô chỉ ngồi đây cầm bức thư mà mười một ngày trước anh đã viết ở kinh thành, bên cạnh phòng cha cô, dưới ánh đèn dầu giống hệt ánh đèn dầu trong lều cô bây giờ. Cô nghĩ rằng đèn dầu ở đâu cũng giống nhau, cũng cháy cùng một kiểu, cũng tắt cùng một kiểu khi hết dầu, và đó là thứ bình thường nhất trên đời mà bây giờ cô lại thấy thiếu.

Rồi cô gấp thư lại, cất vào túi áo trong, chỗ gần ngực nhất mà cô có, không phải vì lãng mạn mà vì đó là chỗ an toàn nhất trên người một người lính, chỗ mà nếu cô ngã xuống thì bức thư vẫn ở đó.

Cô đứng dậy, quay lại bản đồ. Lần này cô không nhìn vào đường kẻ nữa mà nhìn vào khoảng trống giữa các đường kẻ, vào những chỗ mà Ca Lặc không kiểm soát được, vào rìa liên minh mà anh bảo cô nên đánh vào.

Cô chưa thấy gì rõ ràng nhưng cô biết cô đang nhìn đúng chỗ.

0